Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––
NGUYỄN THANH HẢI
GỢI ĐỘNG CƠ VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG:
“PHƢƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN”
Chuyên ngành: Lý luận và Phƣơng pháp giảng dạy môn Toán
Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. BÙI VĂN NGHỊ
3. Giả thiết khoa học 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Cấu trúc luận văn 3
Chƣơng 1: GỢI ĐỘNG CƠ VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƢỜNG
THPT 4
1.1. Nhiệm vụ dạy học môn Toán ở trường phổ thông 4
1.1.1. Truyền thụ những tri thức, kĩ năng toán học và kĩ năng vận
dụng toán học vào đời sống 4
1.1.2. Phát triển năng lực trí tuệ chung 5
1.1.3. Giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức và thẩm mĩ 7
1.1.4. Đảm bảo chất lượng phổ cập đồng thời với phát hiện và bồi
dưỡng năng khiếu 8
1.2. Những thành tố cơ sở của phương pháp dạy học môn Toán 8
1.2.1. Động cơ học tập 9
1.2.2. Hứng thú học tập 12
1.3. Thực tiễn dạy học “Tọa độ trong không gian” ở trường THPT 13
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 16
Chƣơng 2: BIỆN PHÁP GỢI ĐỘNG CƠ VÀ HỨNG THÚ CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG PHƢƠNG
PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN 17
2.1. Biện pháp 1 : Tổ chức học hợp tác để kích thích học sinh dạy lẫn
nhau, chia sẻ suy nghĩ trong học tập 17
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1.1. Cơ sở của biện pháp 17
2.1.2. Cách triển khai biện pháp 22
2.1.3. Bài soạn minh họa 23
2.2. Biện pháp 2: Tạo ra những dự án học tập để học sinh tham gia
một cách tích cực, hứng thú 26
2.2.1. Cơ sở của biện pháp 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DH : Dạy học
DHDA : Dạy học dự án
HS : Học sinh
GV : Giáo viên
PPDH : Phương pháp dạy học
THPT : Trung học phổ thông
TNKQ : Trắc nghiệm khách quan
vtcp : Vectơ chỉ phương
vtpt : Vectơ pháp tuyến Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định cần tiến hành đổi mới giáo dục theo ba
hướng. Đổi mới chương trình sách giáo khoa. Đổi mới phương pháp dạy học.
Đổi mới việc kiểm tra đánh giá học sinh. Trong đó việc đổi mới phương pháp
dạy học là đặc biệt quan trọng.
Đổi mới phương pháp dạy học là một nhiệm vụ quan trọng của toàn ngành giáo
dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Để đào tạo ra những con người phát
triển toàn diện đáp ứng được sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Việc dạy toán ở trường THPT hiện nay đã có nhiều cải tiến song việc gợi
động cơ, hứng thú học tập cho học sinh còn chưa được thực hiện thường
tập cho học sinh. Giúp học sinh phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng
tạo trong quá trình tiếp thu kiến thức góp phần tích cực vào quá trình đổi mới
nội dung và phương pháp dạy học.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu những tài liệu về phương pháp dạy học môn toán, giáo dục học,
tâm lý học, sách giáo khoa, sách bài tập, ….Các bài báo, tạp chí có liên quan
đến gợi động cơ, hứng thú học tập.
+ Phương pháp điều tra quan sát.
Điều tra tình hình sử dụng biện pháp gợi động cơ, hứng thú học tập cho học
sinh trong dạy học phương pháp tọa độ trong không gian ở trường phổ thông.
Đặc biệt là ở trường THPT số 3 TP Lào Cai, Tỉnh Lào Cai.
Thông qua giảng dạy thực tế của bản thân, qua công tác dự giờ thăm lớp,
tham khảo ý kiến đồng nghiệp về việc gợi động cơ, hứng thú học tập cho học
sinh.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Vận dụng các biện pháp gợi động cơ, hứng thú học tập vào dạy thử nghiệm
một số tiết ở chương trình hình học 12 tại trường THPT số 3 TP Lào Cai,
Tỉnh Lào Cai.
+ Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này để xử lý số liệu điều tra trong đề tài “Gợi động cơ
và hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học chương phương pháp tọa độ
trong không gian”.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương.
Chương 1. Gợi động cơ và hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học môn
pháp khác nhau về bản chất; những phương pháp có tính chất thuật toán và
những phương pháp có tính chất tìm đoán.
- Tri thức chuẩn: Tri thức chuẩn thường liên quan với những chuẩn mực nhất
định
- Tri thức giá trị: Tri thức giá trị có nội dung là những mệnh đề đánh giá.
b, Hình thành kĩ năng trên những bình diện khác nhau
- Kĩ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn toán là một sự thể hiện mức độ
thông hiểu tri thức toán học. Không thể hình dung một người hiểu những tri
thức toán học mà lại không biết vận dụng chúng để làm toán.
- Kĩ năng vận dụng tri thức toán học vào những môn học khác, điều này thể
hiện vai trò công cụ của toán học đối với những môn học khác, thường là
những môn gắn bó trực tiếp với thực tiễn hơn môn toán.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
- Kĩ năng vận dụng toán học vào đời sống. Đây là một mục tiêu quan trọng
của môn toán, nó cũng cho học sinh thấy rõ mối liên hệ giữa toán học và đời
sống.
c, Tô đậm những mạch tri thức, kĩ năng xuyên suốt chương trình
Trong dạy học toán, ta không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức lẻ
tẻ, rèn luyện những kĩ năng riêng biệt cho học sinh, mà phải thường xuyên
chú ý những hệ thống tri thức, kĩ năng tạo thành những mạch xuyên suốt
chương trình. Trong môn toán có thể kể tới các mạch như sau:
- Các hệ thống số;
- Hàm số và ánh xạ;
- Phương trình và bất phương trình;
- Định nghĩa và chứng minh toán học;
- Ứng dụng toán học v.v
1.1.2. Phát triển năng lực trí tuệ chung
mang ý nghĩa tương đối, nó phụ thuộc vào mục đích hành động. Khái quát
hóa là chuyển từ một tập hợp đối tượng sang một tập hợp lớn hơn chứa tập
hợp ban đầu bằng cách nêu bật một số trong các đặc điểm chung của các phần
tử của tập hợp xuất phát. Ta thấy, trừu tượng hóa là điều kiện cần của khái
quát hóa.
Cùng với phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa còn cần lưu ý tới
tương tự hóa, so sánh,
d, Hình thành những phẩm chất trí tuệ cho học sinh
- Tính độc lập: Tính độc lập của tư duy thể hiện ở khả năng tự mình phát hiện
vấn đề, tự mình xác định phương hướng, tìm ra cách giải quyết, tự mình kiểm
tra và hoàn thiện kết quả đạt được. Tính độc lập liên hệ mật thiết với tính phê
phán của tư duy.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
- Tính sáng tạo: Tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán là những điều
kiện cần thiết của tư duy sáng tạo. Tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét ở
khả năng tạo ra cái mới: Phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết
quả mới.
1.1.3. Giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức và thẩm mĩ
a, Giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội
- Đưa những số liệu về công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc vào những đề
toán trong những trường hợp có thể được, chẳng hạn những bài toán có nội
dung thực tế giải bằng cách lập phương trình hoặc hệ phương trình.
- Khai thác một số sự kiện về lịch sử toán liên quan tới truyền thống dân tộc.
- Giáo dục lòng tự hào về tiềm năng toán học của dân tộc ta.
b, Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng
- Làm cho học sinh thấy rõ mối liên hệ giữa toán học và thực tiễn.
- Làm cho học sinh ý thức được những yếu tố của phép biện chứng, chẳng hạn
- Phân hóa ngoài (hay phân hóa về tổ chức) được thực hiện bằng cách giúp đỡ
tách riêng những nhóm học sinh yếu kém, bồi dưỡng tách riêng những nhóm
học sinh giỏi, mở những chuyên đề tự chọn,
1.2. Những thành tố cơ sở của phƣơng pháp dạy học môn Toán
Phương pháp là con đường, là cách thức để đạt được những mục đích nhất
định. Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây
nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được những mục
đích dạy học. Điều căn bản của phương pháp dạy học là khai thác những hoạt
động tiềm tàng trong nội dung để đạt được mục đích hoạt động. Trong quá
trình dạy học cần quan tâm đến cả những yếu tố tâm sinh lí, học sinh hứng thú
thực hiện các hoạt động hay không.
Trong hoạt động, kết quả đạt được ở mức độ nào đó có thể là tiền đề để đạt
kết quả cao hơn ở hoạt động sau. Vì vậy trong quá trình dạy học cần phân bậc
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
hoạt động theo những mức độ khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Bá Kim, quan
điểm hoạt động trong phương pháp dạy học được thể hiện ở bốn tư tưởng chủ
đạo. Đó là:
- Hoạt động và hoạt động thành phần;
- Động cơ hoạt động;
- Tri thức và tri thức phương pháp;
- Sự phân bậc hoạt động;
Bốn tư tưởng chủ đạo trên được coi là các thành tố cơ sở của phương pháp
dạy học vì mọi hoạt động của phương pháp dạy học đều hướng vào chúng,
dựa vào chúng giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động. Ví dụ, với một nội
dung học tập chưa thể xác đinh rõ giáo viên sử dụng biện pháp nào để gợi
động cơ học tập cho học sinh, tổ chức hoạt động như thế nào. Thầy có thể
hướng cho học sinh làm việc độc lập hoặc trong sự giao lưu với tập thể.
+ Gợi động cơ mở đầu
Gợi động cơ mở đầu là gợi động cơ cho bước đặt vấn đề vào một nội dung tri
thức mới. Như vậy, trong dạy học toán giáo viên cần thiết phải gợi động cơ
khi đặt vấn đề tìm hiểu một chương, một bài, một mục mới, một khái niệm,
một định lí, một bài toán hay một quy tắc, một phương pháp.
+ Gợi động cơ trung gian
Gợi động cơ trung gian là gợi động cơ cho những bước trung gian hoặc cho
những hoạt động tiến hành trong những bước đó để đạt được mục tiêu[4, tr.
148]. Mục tiêu được hiểu bao gồm cả mục tiêu toàn bộ lẫn mục tiêu bộ phận,
cả mục tiêu lâu dài lẫn mục tiêu cụ thể trước mắt. Trong cách nhìn này, mục
tiêu bộ phận trước mắt như sự biểu hiện, phục tùng cụ thể hóa của mục tiêu
toàn bộ, lâu dài. Mục tiêu toàn bộ, lâu dài định hướng cho mục tiêu bộ phận
trước mắt. Gợi động cơ trung gian không phải chỉ cho những hoạt động hoặc
chủ đề cụ thể mà còn cho cả những hoạt động, những phương thức làm việc
có tính chất lâu dài như khái quát hóa, quy lạ về quen. Gợi động cơ trung gian
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
có một ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực độc lập giải quyết
vấn đề.
Như vậy, trong môn Toán, việc gợi động cơ trung gian có thể và cần thiết
được tiến hành vào lúc tổ chức cho học sinh tiến hành các hoạt động xây dựng
khái niệm, chứng minh định lí, vận dụng khái niệm, định lí để tìm lời giải bài
toán
+ Gợi động cơ kết thúc
Trong khi giải quyết vấn đề hoặc khi bắt đầu học một nội dung nào đó nhiều
khi học sinh đặt ra những câu hỏi: Học nội dung này để làm gì? Tại sao lại
thực hiện hoạt động này? Những câu hỏi này thường không trả lời ngay hoặc
không trả lời trọn vẹn được ngay. Để có câu trả lời học sinh phải đợi mãi về
ý (đó là những động cơ gán cho hoạt động một hàm ý nhân cách). Vì vậy
động cơ học tập có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ hoạt động học tập.
1.2.2. Hứng thú học tập
a) Hứng thú
Hứng thú là một thuộc tính tâm lí cá nhân. Hứng thú tạo nên ở mỗi cá nhân
khát vọng tiếp cận và đi sâu vào đối tượng gây ra nó. Khát vọng này được
biểu hiện ở chỗ cá nhân tập trung chú ý cao độ vào cái làm mình hứng thú,
hướng dẫn, điều chỉnh các quá trình tâm lí như tri giác, tư duy theo một
hướng xác định và do đó tích cực hóa hoạt động của con người theo hướng
phù hợp với hứng thú của nó.
b) Hứng thú học tập
Hứng thú học tập là loại hứng thú gắn với các môn học trong nhà trường; nó
là thái độ đặc biệt của học sinh với môn học mà học sinh thấy có ý nghĩa và
có khả năng đem lại khoái cảm trong quá trình học tập bộ môn. Hứng thú học
tập đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
K.D.Usinxki đã nói “Một sự học tập mà không có hứng thú gì, chỉ biết hoạt
động bằng sức mạnh, cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tập của
cá nhân”.
Ngoài ra, một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến hứng thú
học tập của học sinh đó là tình cảm giữa thầy và trò. Vì thế trong quá trình
giảng dạy cần tạo không khí học tập thân thiện, tránh gây căng thẳng cho học
sinh.
c) Thực chất đối tượng của hứng thú học tập là nội dung các môn học
Hứng thú kích thích, thúc đẩy người học tích cực hoạt động đi sâu vào đối
tượng. Do vậy, hứng thú học tập là một dạng biểu hiện của động cơ học tập .
Hứng thú quan hệ mật thiết với động cơ học tập của cá nhân. Hứng thú học
khả năng suy diễn, coi nhẹ việc rèn luyện khả năng quy nạp,
Đối với phần phương pháp tọa độ trong không gian, thực tiễn cho thấy có một
số GV chưa gây được ấn tượng, chưa gây được hứng thú học tập tọa độ trong
không gian cho học sinh. Bởi vì người giáo viên đó chỉ dừng lại ở những bài
toán thuần túy là các biểu thức toạ độ, các phương trình đường thẳng, mặt
phẳng, mặt cầu; các công thức tính toán góc, khoảng cách. Hoặc khả dĩ hơn,
họ có đề cập tới những bài toán tổng hợp nhưng với sự cho sẵn của hệ trục tọa
độ Oxyz.
Một thực tế khác là có GV chỉ dừng lại ở những bài toán vận dụng cơ bản các
kiến thức về tọa độ, trang bị cho HS các kiến thức về toạ độ, phương trình,
chưa tạo điều kiện cũng như gợi mở cho bộ phận học sinh khá giỏi biết vận
dụng một cách linh hoạt, sáng tạo phương pháp toạ độ. Đặc biệt, một số GV ít
quan tâm đến việc sử dụng PPTĐ giải các bài toán Hình học không gian. Phải
có những dạng toán này, HS mới thấy được cái hay, cái đẹp của toán học; HS
thấy các kiến thức bổ sung, hỗ trợ cho nhau, nhận rõ kết quả việc giải toán
hình học không gian phụ thuộc như thế nào vào công cụ, phương tiện và việc
tìm ra quy trình giải quyết công việc đó.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
Ngoài ra, chúng ta còn thấy nhiều bài toán Đại số, Giải tích gần gũi với các
biểu thức, phương trình tọa độ trong không gian có thể giải bằng phương
pháp hình học. Những kiểu bài toán này, trên thực tế mới được khai thác
với số lượng rất ít ỏi.
Việc chỉ rõ qui trình chuyển hóa: ngôn ngữ tọa độ - ngôn ngữ hình học - ngôn
ngữ tọa độ để gắn phương pháp tọa độ ở hình học lớp 12 với kiến thức hình
học tổng hợp ở lớp 11 còn hạn chế. Nếu làm được như vậy, học sinh mới thấy
rõ hơn ý nghĩa vai trò của phương pháp tọa độ, phát huy được trí tưởng tượng
không gian và sử dụng được thế mạnh của đại số, phát hiện những tính chất
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
Chƣơng 2
BIỆN PHÁP GỢI ĐỘNG CƠ VÀ HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG PHƢƠNG PHÁP TỌA ĐỘ
TRONG KHÔNG GIAN
2.1. Biện pháp 1 : Tổ chức học hợp tác để kích thích học sinh dạy lẫn
nhau, chia sẻ suy nghĩ trong học tập
2.1.1. Cơ sở của biện pháp
Kiểu học hợp tác được xây dựng dựa trên quan điểm hợp tác.
2.1.1.1. Nội dung của quan điểm hợp tác
Quan điểm hợp tác trong dạy học có thể nói một cách ngắn gọn là: Học tập trong
sự hợp tác và vì sự hợp tác.
Quan điểm hợp tác được xây dựng dựa trên cơ sở của thuyết làm việc đồng
đội, thuyết giải quyết mâu thuẫn, thuyết hợp tác tập thể và thuyết dạy lẫn
nhau:
- Thuyết làm việc đồng đội (học tập mang tính xã hội): Khi các cá nhân
làm việc cùng nhau hướng tới một mục tiêu chung thì sự phụ thuộc lẫn
nhau sẽ thúc đẩy họ hoạt động tích cực hơn, từ đó sẽ giúp nhóm và giúp
chính cá nhân trong nhóm đạt đến thành công.
- Thuyết giải quyết mâu thuẫn (thuyết Piaget): Theo Piaget, để thúc đẩy sự
phát triển trí tuệ cho học sinh, nên đưa học sinh vào những tình huống làm
Học hợp tác theo nhóm là một phần quan trọng để tạo ra một lớp học hiệu
quả. Tuy nhiên, đây không chỉ đơn thuần là việc học sinh “làm việc cùng
nhau” mà là cùng hợp tác để học tập. Mục tiêu chủ yếu của làm việc nhóm là
giúp học sinh chủ động học tập để đạt được một mục tiêu học tập chung. Việc
tạo nhóm như vậy cho phép học sinh làm việc cùng nhau để tối ưu hóa việc
học tập của mình và của các bạn khác trong nhóm.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
“Trong một tình huống học tập hợp tác, quá trình tương tác được đặc trưng
bởi sự tương thuộc giữa mục tiêu tích cực và trách nhiệm cá nhân”. (Johnson
& Johnson, 1998)
Theo Thái Duy Tuyên, hợp tác là:
* Có mục đích chung trên cơ sở cùng có lợi;
* Bình đẳng tin tưởng lẫn nhau và tự nguyện hoạt động;
* Phụ thuộc lẫn nhau trên cơ sở trách nhiệm cá nhân cao;
* Cùng chung sức, giúp đỡ hỗ trợ và bổ sung cho nhau;
Để việc học tập hợp tác hiệu quả hơn và để sử dụng tối ưu thời gian trên lớp,
học sinh cần phải xác định rõ mục tiêu của nhóm và trách nhiệm của từng cá
nhân trong nhóm.
Trong bối cảnh lớp học, việc làm việc hợp tác theo nhóm mang lại cho học
sinh nhiều cơ hội để học hỏi lẫn nhau trong những điều kiện cụ thể. “Trước
những năm 90 của thế kỷ XX, làm việc theo nhóm là một năng lực quản lý
được đánh giá thường xuyên nhất trong những nghiên cứu của các tổ chức
trên khắp thế giới” (Goleman, 1998). Chúng ta có thể chuẩn bị cho học sinh
của mình bước vào môi trường làm việc thực tế bằng cách tạo cho các em
những cơ hội quý giá như vậy để làm việc với nhau, cùng tạo ra sản phẩm và
giải quyết vấn đề.
Mục tiêu cuối cùng của việc tổ chức lớp học thông qua nhóm cộng tác là để