Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
DƢƠNG VĂN ĐỊNH
NÂNG CAO NHẬN THỨC
GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG ĐỊA PHƢƠNG
QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOÀI LỚP HỌC LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LL&PPDHSH
MS: 60 14 01 11
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Xác nhận
của ngƣời hƣớng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Văn Hồng
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - PGS.TS Nguyễn Văn Hồng
đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Thạc sỹ.
Nhân dịp này tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo thuộc bộ
môn phƣơng pháp giảng dạy khoa Sinh - KTNN trƣờng ĐHSP Thái Nguyên,
các thầy cô giáo và học sinh trƣờng THPT Phú Bình, THPT Lƣơng Phú,
THPT Điềm Thụy - huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình.
Học viên
Dƣơng Văn Định
HS
Học sinh
7
MT
Môi trƣờng
8
PHT (PTH)
Phiếu học tập (phiếu tự học)
9
THPT
Trung học phổ thông
10
TTN
Trƣớc thực nghiệm
11
STN
Sau thực nghiệm
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
v
7. ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6
8. GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1. Một số vấn đề cơ bản liên quan đến phạm trù môi trƣờng và giáo dục môi
trƣờng 8
1.1.1. Cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về sự thống nhất của
con ngƣời và tự nhiên 8
1.1.2. Môi trƣờng là gì? 9
1.1.3. Giáo dục môi trƣờng 10
1.2. Tổng quan về tình hình GDMT trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.2.1. Tình hình GDMT trên thế giới 14
1.2.2. Tình hình GDMT ở Việt Nam 16
1.3. Các hoạt động ngoài lớp ở trƣờng THPT 20
1.3.1. Sơ lƣợc vấn đề phát triển hoạt động ngoài lớp học ở trƣờng THPT 20
1.3.2. Các hoạt động ngoài lớp học ở trƣờng THPT 21
1.3.3. Đánh giá hiện trạng thực hiện GDMT địa phƣơng qua các hoạt động ngoài
lớp học ở trƣờng THPT huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên 22
Chƣơng 2: NÂNG CAO NHẬN THỨC GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG ĐỊA
PHƢƠNG 30
QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOÀI LỚP HỌC 30
2.1. Khái niệm về hoạt động ngoài lớp học 30
2.2. Mục tiêu GDMT địa phƣơng thông qua các hoạt động ngoài lớp học 30
2.3. Tổ chức hoạt động ngoài lớp học về GDMT địa phƣơng 32
2.4. Các hình thức tổ chức hoạt động ngoài lớp học về BVMT 32
2.4.1. Xây dựng bộ tƣ liệu về môi trƣờng địa phƣơng 33
2.4.2. Điều tra tìm hiểu chất lƣợng nƣớc uống cho học sinh trong trƣờng học 41
2.4.3. Thi biểu diễn thời trang về môi trƣờng 44
Hình 1.1. Ba mục tiêu của GDMT 12
Hình 1.2. Các mục tiêu xã hội hóa GDMT 13
Hình 1.3. Quan hệ giữa dạy học trên lớp và HĐNG 22
Hình 1.4. Sơ đồ biểu diễn tần suất điểm 57
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xuất phát từ những lý do cơ bản sau:
1.1. Xuất phát từ chính sách và chiến lƣợc thực hiện giáo dục môi trƣờng
trong nhà trƣờng phổ thông Việt Nam
Đối với giáo dục và đào tạo một trong những quan điểm chỉ đạo chiến
lƣợc là phát triển giáo dục đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
những tiến bộ khoa học và công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh trong
đó có nhu cầu bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững. Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là một trong những nội dung và nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [3]. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
này, trƣớc tiên chúng ta phải tăng trƣởng kinh tế, nghĩa là phải thực hiện mục
tiêu kinh tế. Cùng với sự phát triển kinh tế, Việt Nam đã và đang phải đối mặt
không ít vấn đề suy giảm môi trƣờng nghiêm trọng nhƣ: ô nhiễm môi trƣờng,
cạn kiệt các nguồn tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học, nhiều loại động
vật quý hiếm bị xoá sổ, sự gia tăng dân số quá nhanh dẫn đến nghèo đói và
bệnh tật Chính vì vậy, một trong những nguyên tắc cơ bản là phải kết hợp
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu sinh thái hay kết hợp giữa
tăng trƣởng kinh tế và bảo vệ môi trƣờng sinh thái bền vững. Vấn đề bảo vệ
và không ngừng cải thiện môi trƣờng sống ngày nay không chỉ là vấn đề
của mỗi công dân trong công cuộc bảo vệ môi trƣờng đã nhấn mạnh những
giải pháp cơ bản để thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trƣờng: “Coi công tác
bảo vệ môi trƣờng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân là nội dung cơ bản
không thể tách rời trong đƣờng lối, chủ trƣơng và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của tất cả các cấp, các ngành; là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển
bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nƣớc”; “Đƣa các nội dung bảo vệ môi trƣờng vào chƣơng trình giáo dục của
tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân” [3].
3
Các văn bản có tính pháp quy trên là cơ sở lý luận rất quan trọng liên
quan đến vấn đề nghiên cứu đề tài của chúng tôi.
1.2. Xuất phát từ những thách chức về môi trƣờng ở Việt Nam, trong đó
có địa phƣơng huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Bƣớc vào thiên niên kỉ mới nhờ những thành tựu của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ, cùng với sự phát triển CNH - HĐH đất nƣớc, chúng
ta đang đứng trƣớc những triển vọng tốt đẹp, đồng thời cũng đang phải đối
mặt với những thách thức lớn lao, đặc biệt là những thách thức về môi trƣờng.
Những vấn đề bức bách về môi trƣờng là: sự biến đổi khí hậu, suy giảm lƣợng
và chất tài nguyên nƣớc, suy thoái đất, nạn phá rừng và sa mạc hóa bên cạnh
những vấn đề nổi cộm khác nhƣ tình trạng ô nhiễm, suy giảm đa dạng sinh
học. Những vấn đề nổi cộm và bức xúc đó không chỉ thể hiện ở tầm thế giới,
tầm quốc gia mà còn thể hiện rõ nét ở ngay từng địa phƣơng thôn xóm.
Là một bộ phận của công đồng xã hội, địa phƣơng huyện Phú Bình – tỉnh
Thái Nguyên cũng đang đối mặt với những thách thức lớn là:
- Dân số tiếp tục gia tăng.
- Quá trình CNH - HĐH thúc đẩy đô thị hóa, mở rộng các khu dịch vụ, các
một vấn đề quan tâm sâu sắc. Nghị quyết số 40/NQ-TƢ ngày 15/11/2004 của
Bộ Chính trị về tăng cƣờng công tác bảo vệ môi trƣờng trong thời kì đẩy
mạnh CNH - HĐH đất nƣớc: Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001
của Thủ tƣớng chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đƣa giáo dục bảo vệ môi
trƣờng vào hệ thống giáo dục Quốc dân” và quyết định số 256/2003/QĐ-TTg
ngày 12/12/2003 của thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lƣợc bảo
vệ môi trƣờng Quốc gia năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020 đã tạo cơ sở
pháp lí vững chắc cho những nỗ lực và quyết tâm bảo vệ môi trƣờng theo
định hƣớng phát triển một tƣơng lai bền vững cho đất nƣớc.
Bảo vệ môi trƣờng hiện nay là chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc, ngày
31/01/2005 Bộ trƣởng Bộ GD-ĐT ra chỉ thị về việc tăng cƣờng công tác giáo
5
dục bảo vệ môi trƣờng và coi đó là nhiệm vụ trọng tâm nhằm trang bị cho HS
các cấp những kiến thức, kĩ năng cơ bản về môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng
bằng cách tổ chức các hoạt động ngoài giờ, ngoài lớp học, tích hợp giáo dục
bảo vệ môi trƣờng thông qua các môn học: vật lí, hóa học, sinh học, ngữ văn,
lịch sử, địa lí. Từ cơ sở đó có thể nhận thấy rằng giáo dục bảo vệ môi trƣờng
cho học sinh trong các trƣờng học là vấn đề rất đƣợc chú ý và trở nên cần thiết.
1.4. Xuất phát từ tính ƣu việt của các hoạt động ngoài lớp học
Hoạt động ngoài lớp học là một hình thức hoạt động giáo dục mang tính
xã hội hóa cao, đƣợc thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức
nhằm góp phần nâng cao nhận thức, kĩ năng và nhân cách học sinh.
Hoạt động ngoài lớp học với nội dung, hình thức đa dạng và phong phú
sẽ là phƣơng thức để thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng: “Học đi đôi với
hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trƣờng gắn với xã hội”.
Qua hoạt động này, kiến thức môn học vừa đƣợc củng cố, vừa đƣợc khơi sâu.
phát triển GD & ĐT của Đảng và nhà nƣớc, văn bản liên quan đến GDMT,
các tài liệu về hoạt động ngoài lớp học và phƣơng pháp dạy học sinh học.
5.2. Phƣơng pháp điều tra: trao đổi với đội ngũ giáo viên và các bộ quản lí
ở các trƣờng THPT, Phòng Tài nguyên và Môi trƣờng huyện Phú Bình tỉnh
Thái Nguyên.
5.3. Thực nghiệm sƣ phạm
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nhận thức GDMT của HS THPT sẽ đƣợc nâng cao nếu nhƣ biết lựa chọn
và vận dụng hợp lí các hoạt động ngoài lớp học về BVMT địa phƣơng.
7. ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức hoạt động ngoài
lớp học nhƣ: làm sáng tỏ khái niệm hoạt động ngoài lớp học và phân biệt hoạt
động ngoài lớp học và hoạt động ngoài giờ.
- Chọn lựa đƣợc 5 hoạt động ngoài lớp học cụ thể về BVMT địa phƣơng phù
hợp với HS lớp 12 THPT huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên.
7
- Xây dựng đƣợc quy trình tổ chức 5 hoạt động ngoài lớp học về BVMT địa
phƣơng ở HS THPT.
8. GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài luận văn tập trung tìm hiểu các hình thức tổ chức hoạt động ngoài
lớp học nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trƣờng địa phƣơng ở HS lớp
12 THPT huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên.
không phụ thuộc vào ý thức của con ngƣời”. Còn theo nghĩa hẹp: “Tự nhiên
là tổng hợp các điều kiện tự nhiên và các hoạt động sống của xã hội loài
ngƣời” [15, Tr.331].
Tính thống nhất của con ngƣời và tự nhiên đƣợc xem nhƣ là vấn đề mang
tính lịch sử của tự nhiên và xã hội, hay là “bản chất tự nhiên của con ngƣời
chỉ tồn tại đối với con ngƣời sống trong xã hội, hoặc là chỉ trong xã hội tự
nhiên mới là mắt xích gắn chặt con ngƣời với con ngƣời” [15, Tr.468].
Tính thống nhất của bản chất tự nhiên và con ngƣời đã đƣợc phản ánh rất
rõ trong luận điểm của Mác: “Tự nhiên là thể vô cơ của con ngƣời, con ngƣời
sống bằng tự nhiên. Điều đó có nghĩa là tự nhiên có cơ thể của nó, con ngƣời
cần phải thận trọng trong quá trình giao tiếp bình thƣờng để không bị chết.
Cuộc sống lao động và tinh thần của con ngƣời không ngừng gắn liền với tự
nhiên, hay hiểu theo cách khác con ngƣời là một thành phần tự nhiên” [15,
Tr.468].
Mác và Ăng Ghen đã coi vấn đề trên là khía cạnh rất quan trọng trong
việc cải tạo mối quan hệ hữu cơ giữa tự nhiên và con ngƣời, cách cƣ xử của
con ngƣời với tự nhiên đã đƣợc coi là một tiêu chuẩn đánh giá đạo đức của
con ngƣời. Trong tác phẩm của mình, Mác và Ăng Ghen đã vạch ra nguyên
tắc xem xét mối tác động qua lại của xã hội và tự nhiên.
9
Nhƣ vậy, chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã coi tự nhiên không chỉ là một vật
cung cấp và con ngƣời không chỉ có biết khai thác nó, mà ngƣợc lại con
ngƣời cần phải có những biện pháp bảo vệ và bổ sung cho tự nhiên, đảm bảo
sự phát triển bền vững của tự nhiên và con ngƣời. Tƣ tƣởng đó từ lâu đã đƣợc
coi là cơ sở lí luận trong sự nghiệp GDMT và BVMT.
Để cụ thể hóa tƣ tƣởng của Mác - Ăng Ghen và Lê Nin về tính thống
ngƣời; Môi trƣờng xã hội bao gồm các mối quan hệ về mọi mặt giữa con ngƣời
và con ngƣời trong xã hội; Môi trƣờng nhân tạo bao gồm các nhân tố vô sinh
và hữu sinh và xã hội do con ngƣời tạo ra và chịu sự chi phối của con ngƣời.
Có thể nói môi trƣờng sống của con ngƣời bao gồm tất cả các tài nguyên thiên
nhiên và những nhân tố thuộc về chất lƣợng của môi trƣờng đối với sức khỏe
và tiện nghi sinh sống của con ngƣời. Những nhân tố thuộc về chất lƣợng của
môi trƣờng đó là không khí, nƣớc, âm thanh, ánh sáng, cảnh quan, thẩm mĩ,
đạo đức, chính trị, điều kiện sinh sống, làm việc và cƣ trú, quan hệ chính trị -
xã hội tạo địa bàn sinh sống và làm việc của con ngƣời [1], [16].
Mặc dù thuật ngữ môi trƣờng đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và
cũng đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhƣng theo chúng tôi để đi
đến một khái niệm về môi trƣờng dễ đƣợc thừa nhận và dễ hiểu thì trong đó
phải kể tới các yếu tố cấu thành môi trƣờng, sự tác động của các yếu tố đó:
các yếu tố đó bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố nhân tạo, chúng tồn
tại xung quanh con ngƣời và có ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời
sống của con ngƣời và tự nhiên.
Con ngƣời, tự nhiên và xã hội có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau,
bởi vậy môi trƣờng bao gồm cả môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội.
Việc BVMT phải quan tâm đến cả việc giữ gìn và tôn tạo các di sản văn hóa
và đó cũng chính là việc bảo vệ và phát triển bền vững môi trƣờng [5], [16].
1.1.3. Giáo dục môi trƣờng
Giáo dục môi trƣờng đã có một lịch sử phát triển lâu dài. Đặc biệt trong
khoảng 10 năm gần đây kể từ khi Uỷ ban Thế giới về Môi trƣờng và phát
11
triển công bố báo cáo “Tƣơng lai của chúng ta” thì giáo dục môi trƣờng đƣợc
nhắc đến một cách thƣờng xuyên trong các diễn đàn Quốc tế, Quốc gia cũng
cho các đối tƣợng đƣợc giáo dục các kiến thức về MT.
- Nhận thức đƣợc ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề MT nhƣ một
nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họ cũng nhƣ
đối với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ, cách ứng xử
đúng đắn trƣớc các vấn đề MT, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý
thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu thập
số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ. Nhƣ vậy, mục tiêu này có định
hƣớng xây dựng thái độ, cách đối xử thân thiện với MT.
- Tri thức, kỹ năng, phƣơng pháp hành động để nâng cao năng lực trong
việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý và
khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên để họ có thể tham gia có hiệu
quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề MT cụ thể nơi họ ở và làm
việc. Đây là mục tiêu về khả năng hành động cụ thể (hình 1.1). Hình 1.1. Ba mục tiêu của GDMT
GDMT trong một quốc gia thƣờng đƣợc phân thành các bộ phận phù hợp
với trình độ nhận thức và tính chất đặc thù của cƣơng vị công tác nhƣ:
- GDMT cho cộng đồng còn đƣợc gọi là nâng cao nhận thức về MT cho
quần chúng đƣợc thể hiện chủ yếu thông qua các phƣơng tiện thông tin đại
chúng, các hoạt động văn hóa, truyền thông và các cuộc vận động quần chúng
rộng rãi, các hoạt động ngoại khóa.
Hiểu biết về môi
trƣờng
- Vấn đề
- Nguyên nhân
- Hậu quả
đƣợc minh họa (hình 1.2).
Hình 1.2. Các mục tiêu xã hội hóa GDMT
Một khi các vấn đề MT đã đƣợc xã hội hóa thì những lợi ích kinh tế cho
cộng đồng ngày càng một gia tăng và đặc biệt hiệu lực quản lý nhà nƣớc tăng
nhƣng gánh nặng chi phí giảm hẳn. Từ những kết quả nghiên cứu về các
phƣơng pháp khắc phục MT ở nhiều quốc gia trên thế giới, chúng ta đi đến
Nhà chuyên môn thấu
hiểu về MT
Ngƣời công dân có
trách nhiệm với MT
Con ngƣời giác ngộ MT
14
kết luận chung là: Không có giải pháp nào kinh tế và hiệu quả bằng việc đầu
tƣ vào con ngƣời thông qua công tác GDMT.
Nhƣ vậy, GDMT dựa trên những tri thức về môi trƣờng mà hình thành
thái độ, ý thức, trách nhiệm và kĩ năng hành động thực tiễn của học sinh.
Chúng tôi coi đây là quan điểm chỉ đạo trong suốt quá trình nghiên cứu của
mình và theo chúng tôi có thể đƣa ra định nghĩa GDMT nhƣ sau: GDMT là
hoạt động giáo dục góp phần hình thành ý thức đúng đắn của con ngƣời đối
và đến năm 1970 nó đã đƣợc áp dụng đại trà ở các trƣờng sƣ phạm.
Ở Mỹ, GDMT với tổ chức “Liên đoàn quốc gia bảo vệ cuộc sống hoang
dã” (NWF), ngƣời ta đã cho giảng dạy 33 bài giảng về MT có thể ứng dụng
ngay vào thực tế (dự án CLASS).
Còn ở Cộng hòa Pháp, Bộ giáo dục Pháp đặc biệt quan tâm và kết hợp
với các tổ chức quốc tế, các hội đoàn, các cấp chính quyền, các vƣờn quốc gia
để đƣa “Chƣơng trình hành động giáo dục môi trƣờng” (PAE) vào các trƣờng
tiểu học và trung học phổ thông. Ngoài việc mở rộng kiến thức MT, tăng số
tiết giảng về MT và BVMT ở trong lớp học, họ còn tổ chức các hoạt động
ngoài lớp học nhƣ tổ chức các cuộc dã ngoại, tham quan ngoại khóa, các cuộc
tìm hiểu về MT và BVMT.
Ở Philipin, từ năm 1974, Bộ giáo dục và văn hóa đã quyết định đƣa
chƣơng trình GDMT vào bậc tiểu học.
Còn Australia đã thành lập dự án về GDMT và đã tổ chức tiến hành bồi
dƣỡng GDMT cho đội ngũ giáo viên theo định kì tại các trung tâm giáo dục.
Ở Ấn Độ, 3 nguyên tắc chỉ đạo nội dung chƣơng trình GDMT là: Giáo
dục về MT, giáo dục vì MT và giáo dục qua MT. Ngay ở cấp tiểu học đã có
sách giáo khoa riêng về GDMT (chiếm 20% quỹ thời gian). Từ lớp 6 đến lớp
8, các nội dung GDMT đƣợc lồng ghép vào các môn học nhƣng tập trung vào
các vấn đề: Con ngƣời rất cần thực vật và động vật để sống, sự cân bằng trong
tự nhiên, vấn đề dân số, vấn đề ô nhiễm. Ở lớp 11, 12, học sinh đƣợc trang bị
những nội dung khái quát hơn nhƣ: hệ sinh thái, sinh quyển, khủng hoảng
16
sinh thái, bảo vệ các nguồn TNTN, những cố gắng trong nƣớc và trên thế giới
về BVTNTN.
Những việc làm tƣơng tự nhƣ trên còn thấy ở rất nhiều các nƣớc khác