Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NINH HỒNG PHẤN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ
CHƢƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO NHANH VÀ BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGÔ XUÂN HOÀNG
cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Nhà trường, Khoa Sau đại học,
các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên,
đặc biệt là thầy giáo TS Ngô Xuân Hoàng, đã nhiệt tình hướng dẫn chỉ bảo tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài của mình.
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi còn nhận được sự giúp đỡ và cộng
tác của các cá nhân và tập thể: Phòng Thống kê huyện Pác Nặm, Phòng Tài
nguyên và môi trường huyện Pác Nặm và các hộ gia đình đã tạo điều kiện cho
tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu, cũng như nghiên cứu thực hiện đề
tài, tôi xin cảm ơn.
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp đỡ
tôi thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2011
Tác giả luận văn Ninh Hồng Phấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ viii
2.1.3. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đến giảm
nghèo, giảm nghèo bền vững ở huyện Pác Nặm 56
2.2. Thực trạng triển khai chương trình giảm nghèo và giảm nghèo
bền vững tại huyện Pác Nặm 60
2.2.1. Thực trạng một số chương trình giảm nghèo tại huyện Pác
Nặm giai đoạn 2006 - 2008 60
2.2.2. Thực trạng triển khai chương trình giảm nghèo nhanh và bền
vững (chương trình 30a) tại huyện Pác Nặm 65
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THỰC HIỆN
CÓ HIỆU QUẢ CHƢƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO
NHANH VÀ BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
PẮC NẶM TỈNH BĂC KẠN 95
3.1. Định hướng, mục tiêu và dự kiến kết quả thực hiện chương trình
30a và huyện Pác Nặm 95
3.1.1. Mục tiêu 95
3.1.2. Phát triển các ngành và lĩnh vực đến năm 2015 và định hướng
đến năm 2020 của huyện Pác Nặm
3.2. Nhóm giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả chương trình 30a 102
3.2.1. Giải pháp chung 102
3.2.2. Nhóm giải pháp cụ thể 108
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
PHỤ LỤC 113
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CN
:
Nông lâm nghiệp
NLNTS
:
Nông lâm nghiệp thuỷ sản
NQD
:
Ngoài quốc doanh
NN&PTNT
:
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PTTH
:
Phổ thông trung học
QD
:
Quốc doanh
THCS
:
Trung học cơ sở
Tr.đ
:
Triệu đồng
TTCN
:
Tiểu thủ công nghiệp
XDCB
:
Xây dựng cơ bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
Bảng 2.16: Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn tại huyện Pác
Nặm năm 2009- 2010 78
Bảng 2.17: Tình hình đói nghèo của huyện sau 2 năm thực hiện chương
trình 30a 82
Bảng 2.18: Tình hình cung cấp dịch vụ thiết yếu dành cho người nghèo
sau 2 năm thực hiện chương trình 30a 83
Bảng 2.19: Tình hình lao động và việc làm sau 2 năm thực hiện chương
trình 30a 84
Bảng 2.20: Tình hình giáo dục và y tế của huyện 2008 - 2010 86
Bảng 3.1. Mục tiêu giảm nghèo đến năm 2020 của huyện Pác Nặm 101
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Một số mô hình phát triển bền vững 16
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu đất nông nghiệp năm 2009 38
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nhóm đất phi nông nghiệp năm 2009 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
UNDP, WB, tổng hợp thành các mục tiêu phát triển Việt Nam. Vấn đề là cụ
thể hoá chiến lược bằng các chương trình, dự án được triển khai, được giám
sát và đánh giá thường xuyên. Các nghiên cứu đã lập được bản đồ phân bố đói
nghèo đến từng xã, từng hộ.
Để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xoá đói giảm nghèo, tại phiên họp ngày
18 tháng 11 năm 2008, Chính phủ đã thảo luận và quyết nghị về việc triển
khai thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện
thuộc 20 tỉnh có số hộ nghèo trên 50%. Với mục tiêu: "Tạo sự chuyển biến
nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc
thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các
huyện khác trong khu vực. Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền
vững, theo hướng sản xuất hàng hoá, khai thác tốt các thế mạnh của địa
phương. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của
từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có
hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc
văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ;
bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng".
Huyện Pác Nặm thuộc tỉnh Bắc Kạn là một là một huyện nghèo có số hộ
nghèo trên 50% (56,02%) nằm trong "Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh
và bền vững đối với 61 huyện nghèo" của chính phủ với mục tiêu giảm hộ
nghèo xuống ngang bằng mức trung bình của khu vực. Chương trình đã được
triển khai bước đầu được triển khai ở huyện Pác Nặm, nhưng trong quá trình
triển khai đã xuất hiện một số vướng mắc. Nhằm góp phần thực hiện một
chính sách lớn của nhà nước em đã lựa chọn đề tài "Nghiên cứu giải pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn
huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
4. Bố cục của đề tài
Luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo,
các bảng phụ lục và 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về giảm nghèo, giảm nghèo bền vững cho hộ
nông dân và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng việc triển khai chương trình giảm nghèo và giảm
nghèo bền vững cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn.
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả chương
trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
xã hội.
b. Khái niệm về kinh tế hộ nông dân
* Theo Frank Eliss: “Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia
đình có quyền sống trên mảnh đất sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình.
Sản xuất của họ nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ
không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường”.
* K.Max và PL.Anghen nghiên cứu hộ các ông cho rằng: “Kinh tế hộ
nông dân vốn bị hạn chế nên cần được cải tạo nó mới có thể phát triển nông
nghiệp xã hội ngày càng cao”. Lúc đầu các ông dự toán kinh tế hộ nông dân
hoàn toàn bị phá bỏ trong điều kiện phát triển nền đại công nghiệp sau đó các
ông thừa nhận. Ở Anh cho thấy phát triển nông nghiệp không giống phát triển
công nghiệp trong đó phát triển nông nghiệp họ tỏ ra ưu thế hơn.
* Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản
xuất kinh tế - xã hội, trong đó các nguồn lực đất đai, lao động tiền vốn và tư
liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất: Có chung chân quỹ,
ở chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời
sống xã hội là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo
điều kiện để phát triển.
Do vậy tự những thành viên trong hộ lao động nên không có khái niệm
tiền lương và không tính được lợi nhuận, địa tô, lợi tức. Hộ nông dân chỉ có
thu nhập chung của tất cả các hoạt động kinh tế. Đó là sản xuất lương thực thu
được hàng năm của hộ trừ đi chi phí mà họ đã bỏ ra để phục vụ cho quá trình
sản xuất.
c. Đặc điểm cơ bản của kinh tế hộ nông dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Từ những khái niệm hộ đã nói lên những đặc trưng cơ bản của nó.
Những đặc trưng này mang tính lịch sử, gắn liền với các quá trình tiến triển
cả khẩu phần tất yếu của mình để mở rộng sản xuất. Khi gặp các điều kiện
bất lợi thì cũng có khả năng tư duy bằng cách thu hẹp quy mô sản xuất có khi
quy về sản xuất tự cung tự cấp.
Thứ tư: Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của
người lao động. Trong kinh tế hộ nông dân mọi người gắn bó với nhau cả trên
cơ sở kinh tế, huyết tộc và cùng chung ngân quỹ nên dễ dàng đồng tâm hiệp
lực để phát triển kinh tế nông hộ. Vì vậy có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả
sản xuất với lợi ích người lao động và lợi ích kinh tế đã trở thành động lực
thúc đẩy của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế hộ
nông dân.
Thứ năm: Kinh tế hộ nông dân là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng
hiệu quả. Quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng xuất thấp. Kinh
tế hộ vẫn có khả năng cho năng xuất cao hơn các doanh nghiệp có quy mô
lớn, kinh tế hộ nông dân vẫn có khả năng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và
công nghệ tiên tiến để cho hiệu quả kinh tế cao thì đó lại là biểu hiện của sản
xuất lớn. Thực tế kinh tế hộ nông dân là loại hình thích hợp nhất đối với đặc
điểm của sản xuất nông nghiệp, với cây trồng vật nuôi trong quá trình sinh
trưởng, phát triển cần sự tác động kịp thời.
Thứ sáu: Kinh tế hộ nông dân sử dụng sức lao động và tiền vốn của hộ
là chủ yếu, song kinh tế hộ nông dân cũng có giới hạn nhất định, đặc biệt
trong sản xuất đòi hỏi các hộ phải có sự hợp tác, đoàn kết thì mới làm được.
Một số hộ nông dân riêng lẻ khó có thể giải quyết các vấn đề thuỷ lợi, phòng
trừ sâu bệnh - dịch hại, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất tiêu thụ nông
sản hàng hoá, phòng trừ thiên tai trong sản xuất kinh doanh. Ở đây lại nổi lên
sự cần thiết của kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân cũng như
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
nhiều nhân tố khác nhau trong quan hệ hướng dẫn và hỗ trợ kinh tế hộ nông
phân công lao động xã hội và nông thôn.
Phát triển kinh tế hộ nông dân vùng cao sẽ góp phần vào bảo vệ môi trường
sinh thái, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, nước, đảm bảo an ninh quốc phòng.
Là thị trường rộng lớn cho các ngành kinh tế quốc dân. Góp phần vào
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá mà nhà nước ta đang hướng tới.
1.1.2. Giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
a. Khái niệm về đói nghèo
* Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện
thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức
sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Một cách
hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định
của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của
từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã
hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.
- Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần
nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung
bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
- Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của xã; không có
hoặc thiếu rất nhiều những công trình cơ sở hạ tầng như: Điện sinh hoạt,
đường giao thông, trường học, trạm y tế và nước sinh hoạt; trình độ dân trí
thấp, tỷ lệ người mù chữ cao.
- Vùng nghèo: là vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn, giao thông
không thuận tiện, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không có điều kiện phát triển sản
xuất để đảm bảo cuộc sống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: Nghèo
tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu.
Năm 1993 theo Tổng cục thống kê lấy mức tiêu dùng là 2.100 calo nếu
quy đổi tương đương với lượng tiêu dùng lương thực, thực phẩm theo giá phù
hợp với từng thời điểm, từng địa phương thì người dân Việt nam phải có thu
nhập bình quân tối thiểu là 50.000đồng/người/tháng ở vùng nông thôn và
70.000 đồng đối với khu vực thành thị, để làm ranh giới xác định giữa người
giàu và người nghèo. Theo cách tính này thì mức thu nhập bình quân đầu
người ở các hộ khu vực nông thôn nước ta được quy ra tiền để xác định ranh
giới giữa những hộ giàu và hộ nghèo như sau:
- Loại hộ nghèo: Là loại hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới
50.000/người/tháng. Hộ đói dưới 30.000/người/tháng.
Bảng 1.1: Chuẩn nghèo đói của Việt Nam qua các thời kỳ
Giai đoạn
Đơn vị tính
Hộ đói
Hộ nghèo
1. Giai đoạn 1993-1994
Dưới mức
Dưới mức
Khu vực nông thôn
Kg gạo/người/tháng
8
15
Khu vực thành thị
Kg gạo/người/tháng
13
20
2. Giai đoạn 1995-1997
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo
Đồng/người/tháng
80.000
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du
Đồng/người/tháng
100.000
Vùng thành thị
Đồng/người/tháng
150.000
5. Giai đoạn 2006-2010
Khu vực nông thôn
Đồng/người/tháng
200.000
Khu vực thành thị
Đồng/người/tháng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
gạo/người/tháng đối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung du; 25kg
gạo/người/tháng đối với khu vực thành thị.
Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát thực tế và sau khi thảo luận thì tại
quyết định số 1143/2000 QĐLĐTBXH ngày 1.11.2000 của Bộ trưởng Bộ
LĐ-TBXH đã phê duyệt chuẩn mức đói nghèo mới giai đoạn 2001-2005 theo
mức thu nhập bình quân đâu người cho từng vùng cụ thể như sau:
- Vùng nông thôn miền núi hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng tương
đương 960.000đ/năm.
- Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng tương đương
1.200.000đ/năm.
- Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng tương đương 800.000đ/năm.
Những hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới tiêu chuẩn trên thì xếp
vào hộ nghèo đói. Theo tiêu chuẩn này thì tính đến năm 2000, cả nước có
khoảng 4 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ từ 24-25% tổng số hộ trong cả nước.
Trong đó 4 vùng có tỷ lệ đói nghèo trên 30%. Đặc biệt, tỷ lệ hộ đói nghèo ở
các xã miền núi, vùng sâu và vùng xa tỷ lệ này còn cao hơn mức trung bình
của cả nước: Bắc trung Bộ 38,6%; Tây Nguyên 36,1%; Miền núi phía bắc
34,1%; Duyên hải miền trung 31,9% .
Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia
xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia đình có thu
nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000
đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu
vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người
từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ
nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ
150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
c. Giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững là giảm nghèo đi đôi với phát triển bền vững.
Phát triển bền vững bao gồm ba thành phần cơ bản là môi trường bền vững,
xã hội bền vững và kinh tế bền vững[1].
* Môi trường trong phát triển bền vững: đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân
bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên
nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác
những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp
tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất.
* Xã hội của phát triển bền vững: cần được chú trọng vào sự phát triển
sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát
triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng
bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được.
Có khá nhiều sơ đồ biểu diễn nội dung phát triển bền vững đã được
nghiên cứu, dưới đây là 3 sơ đồ mô hình phát triển bền vững được đề cập
nhiều nhất hiện nay.
Hình 1.1: Một số mô hình phát triển bền vững
MÔ HÌNH CỦA HỘI ĐỒNG THẾ GIỚI VỀ MÔI TRƢỜNG VÀ PHÁT TRIỂN