Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
Chuyên đề thực tập
DANH MỤC SƠ Đ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
Chuyên đề thực tập
LỜI NÓI ĐẦ
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới đất nước, vốn là một yếu tố không thể thiếu, là
điều kiện tiên quyết để tiến hành mọi hoạt động. Trong doanh nghiệp, vốn là
một trong những yếu tố quyết định tới sự thành công trong quá trình hoạt
động. Đối với một ngân hàng - một đơn vị kinh doanh vốn thì nguồn vốn lại
càng quan trọng bởi không có vốn, ngân hàng sẽ không thể tồn tại. Nguồn
vốn chủ yếu của ngân hàng là huy động từ các tổ chức kinh tế và nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân cư
Vốn là một trong những nhân tố quyết định tới sự thành công hay thất
bại của sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá (CNH – HĐH) đất nước.
Trong hoạt động ngân hàng (NH), vốn là yếu tố đặc biệt quan trọng, nó quyết
định sự hình thành và phát triển của NH, vì NH cũng là tổ chức kinh tế hoạt
động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Nguồn vốn chủ yếu của NH là nguồn
vốn huy động từ các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua nhận
tiền gửi (TG) của các tổ chức kinh tế, xã hội và các tầng lớp dân cư
Không nằm ngoài quy luật chung đó, NH Đại ( ĐẠ Á ) nói chung và CN
(HBT) ĐẠI Á nói riêng đã và đang không ngừng đổi mới để nâng cao sức
cạnh tranh của mình trên thị trường và trở thành một trong những NH hàng
đầu tại Việt Nam hiện nay. Hơn nữa, NGÂN HÀNG ĐẠI Á luôn giữ vai trò
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NGÂN HÀNG ĐI
.
- Phạm vi phân tích: Nghiên cứu hoạt động huy động vốn của NGÂN
HÀNG ĐI
4. .
Phương pháp nghiênc
:
Trong luận văn, các phương pháp nghiên cứu sau đây được sử d
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
2
Chuyên đề thực tập
g:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân
tích, thống kê có kết hợp các công thức, bảng biểu để tính toán, minh họa, so
sánh, phân tích và rút ra kế
luận.
- Phương pháp kế thừa những nghiên cứu đã có cũng như khảo sát thực
nghiệm thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho việc nghi
5. cứu.
Kết cấu của chyê
đề :
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được kết cấu theo ba
chươn
như sau:
Chương 1: Khái quát về huy động ố
của NHTM .
Chương 2: Thực trạng về hiệu quả huy động vốn tại NGÂN HÀNG
ĐẠI Á trong khoảng thời gian cuối năm2
9 - 2011 .
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại
Chuyên đề thực tập
Như vậy, NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng kinh doanh trong
lĩnh vực tiền tệ và cùng với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế hoạt
động của NHTM ngày càng đa dạng hơn. Ngân hàng là một loại hình tổ chức
quan trọng đối với nền kinh tế, các ngân hàng có thể được định nghĩa qua
chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi cùng với đời sống kinh
tế, chính trị xã hội. Chính vì vậy cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem
xét ngân hàng trên phương diện các dịch vụ mà chúng cung ấp như sau: “
Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào tong nền kinh tế ”, sự đa dạng trong các dịch vụ của ngân hàng
được thể hiện ở c
c năng của nó:
Sơ đồ 1.1: Những chức năng cơ bản của ngân hàng
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
5
Ngân hàng hiện đại
Chức năng
bảo hiểm
Chức năng
môi giới
Chức năng ngân
hàng đầu tư và
bảo lãnh
Chức năng ủy
thác
Chức năng tín
dụng
thoại hoặc đi trả tiền điện, tiền thuê nhà, tiền thuê xe,… thì sẽ mất nhiều thời
gian và không thuận tiện vì vậy họ sẽ thông qua các dịch vụ của ngân hàng,
“ủy nhiệm” cho ngân hàng thanh toán hộ trên cơ sở số tiền họ có trong tài
khoản t
các ngân hàng.
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
6
Chuyên đề thực tập
+ Khả năng gửi tiền của các chủ sở hữu: Khi các cá nhân có tiền tiết
kiệm họ sẽ tính đến chuyện đầu tư khoản tiền gửi đó như thế nào để an toàn
và có hiệu quả thay vì giữ nó ở trong két chính vì thế họ sẽ gửi vào ngân hàng
để được hưởng lãi đó chính là hình thức gửi tiết kiệm. Ngoài ra khi hoạt động
ngân hàng phát triển, các phương tiện thanh toán hiện đại, đa dạng các cá
nhân sẽ gửi thu nhập của mình vào ngân hàng và thực hiện việc chi trả tất cả
những khoản mục cần thanh toán thông qua tài khoản của họ tại ngân hàng.
Các doanh nghiệp, tổ chức trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình có
một khoản tiền nhàn rỗi tạm thời như chưa đến kỳ trả lương, chưa đến kỳ
thanh toán tiền mua vật tư,… họ sẽ giữ lượng tiền đó trong tài khoản tại ngân
hàng hoặc chuyển sang gửi tiết kiệm
i kỳ hạn phù hợp.
- Khả năng và nhu
ầu của ngân hàng:
Về khả năng, NHTM có kho tàng chắc chắn, an toàn, hệ thống bảo vệ
khá nghiêm ngặt, các điều kiện về bảo mật rất tốt, điều kiện về môi trường luôn
luôn đảm bảo. Mặt khác thông qua tác nghiệp của nhân viên ngân hàng, các
quy định, quy trình gửi rút tiền, các ngân hàng luôn sẵn sàng đáp ứng kịp thời
các yêu cầu chi trả cũng như đảm bảo các khoản tiền gử
của người gửi tiền.
Về nhu cầu, bản thân ngân hàng là những trung gian tài chính, kiếm lời
từ những khoản tiền “tạm thời nhàn rỗi” của người này đem tài trợ cho nhu
+ Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: Cho vay bất động sản, cho vay công
nghiệp, cho vay cá nh
, cho vay xây dựng,…
+ Căn cứ vào thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn, Ch
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
8
Chuyên đề thực tập
vay trung và dài hạn
+ Căn cứ vào phương pháp hoàn trả: Cho vay trả góp, cho v
hoàn trả theo yêu cầu,…
+ Căn cứ vào thành phần kinh tế: Cho vay quốc
oanh và ngoài quốc doanh.
Thông qua hoạt động tín dụng các NHTM đã và đang thực hiện chức
năng xã hội của mình, góp phần làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư
được mở rộng và từ đó đời sốn
dân chú
được cải thiện.
Đầu tư:
NHTM có thể sử dụng nguồn vốn để đầu tư như đầu tư vốn trực tiếp
vào các doanh nghiệp dưới dạng góp vốn, thành lập công ty, hùn vốn dưới
hình thức liên doanh, liên kết. Đây cũng là hoạt động có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc tạo ra lợi nhuận ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh của
mình cũng giống như các doanh nghiệp, tổ chức trong nền kinh tế ngân hàng
có những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, ngân hàng có thể gửi khoản tiền đó
vào các tổ chức tín dụng khác hay đầu tư trái phiếu Chính
ủ để tăng thêm lợi
uận.
Cho thuê tài chính:
Là hoạt động tín dụng trung gian, dài hạn trên cơ sở các hợp đồng cho
thuê tài sản giữa bên cho thuê là NHTM với khách hàng. Khi kết thúc hợp
t
huy động vốn và ch
vay của ngân hàng.
+ Dịch vụ bảo lãnh:
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
10
Chuyên đề thực tập
Bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết của ngân hàng( bên bảo lãnh) với
bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghiệp vụ tài chính thay
cho khách hàng( bên được bảo lãnh) trong trường hợp khách hàng không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Thông thường các NHTM áp dụng các hình thức bảo lãnh như: bảo lãnh vay
vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãn
thanh toán, bảo lãnh hự
hiện hợp đồng,…
+ Bảo quản vật có giá :
Đây là một trong những dịch vụ lâu đời nhất được các NHTM thực
hiện. Có hai hình thức bảo quản vật có giá là két sắt bảo
uản ký thác và bảo quản an toàn vật có giá.
Két sắt bảo quản ký thác được lập ra để cho khách hàng thuê, khách
hàng có quyền kiểm tra tài sản có giá của họ bất kỳ thời điểm nào. Ngân hàng
chỉ cung
kho bảo quản, két sắt và điều kiện an toàn.
Bảo quản an toàn vật có giá là nhiệm vụ trông nom, quản lý giấy
ờ có giá như là một
ại lý đối với khách hàng.
+ Các dịch vụ khác:
Ngoài những nghiệp vụ chủ yếu nêu trên ngân hàng còn thực hiện các dịch
vụ khác như mua bán, tra
đổi ngoại tệ, dịch vụ ủy thác, quản lý tiền mặt,…
12
Chuyên đề thực tập
THƯƠNG M
1.2.1. Nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM
Vốn đóng vai trị rất quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng
thương mại. Nhìn chung, có thể hiểu vốn là khoản hình thành nên tài sản của
ngân hàng, giúp cho ngân hàng hoạt động một cách hiệu quả, nó có thể hình
thành từ nhiều nguồn khác nhau có thể tăng giảm tùy theo tình hình hoạt động
của ngân hàng tùy từng thời kỳ. Khi bàn về Nguồn vốn của Ngân hàng
thương mại chúng ta có nhiều cách tiếp cận khác nhau, có nhiều cách phân
chia nguồn vốn của Ngân hàng thương mại khác nhau: Có thể phân chia theo
thời gian (ngắn hạn, dài hạn), theo loại tiền tệ (nội tệ, ngoại tệ), theo đặc điểm
của nguồn (nợ, tiền vay), nếu tiếp cận theo cách phân chia trên bảng tổng kết t
sản nguồn vốn của ngân hàng thương mại
ược chia thành:
1.2.1.1. Vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng
Về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu là vốn riêng có của NHTM do
các chủ sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân hàng được hình thành trong quá
trình kinh doanh thể hiện dưới dạng lợi nhuận để lại. Nguồn vốn này có tính
ổn định cao, NHTM không phải hoàn lại, nó có vai trò quan trọng trong việc
tài trợ cho các hoạt động mở rộng qu
mô của mình như liên doanh, liên kết, mở rộng mạng lưới,…
n thuộc sở hữu của
ân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau:
Vốn tự có ban đầu:
Vốn này được hình thành từ ban đầu khi mới thành lập ngân hàng. Tùy
theo từng loại hình ngân hàng( quốc doanh hay cổ phần) mà vốn này có thể
do ngân sách Nhà nước cấp hay do các cổ đông góp vốn. Vốn này là một tro
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
13
Tiền gửi thanh toán : Hay còn gọi là tiền gửi có thể phát hành séc (tiền
gửi giao dịch, tiền gửi theo yêu cầu). Mục đích gửi khoản tiền vào ngân hàng
không phải để hưởng lãi mà là nhằm sử dụng các tiện ích do ngân hàng cung
cấp như thanh toán hộ, chi trả hộ, thu hộ. Ngân hàng thương mại buộc các
khách hàng nếu muốn được ngân hàng cung cấp các dịch vụ thì cần phải ký
quỹ một lượng tiền tối thiểu, đồng thời với những khoản tiền gửi vào tài khoản
thanh toán phải có thời gian nhất định mới được rút ra để thanh toán điều này
giúp ngân hàng có thể sử dụng lượng vốn này. Thời kỳ đầu ngân hàng còn thu
phí trên số dư tiền gửi này nhưng về sau để khuyến khích khách hàng gửi tiền
vào ngân hàng không thu phí, hiện nay để cạnh tranh với nhau các ngân hàng
còn trả tiền lãi cho các số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại
ngân hàng, mặc dù vậy mức lãi suất này là rất thấp nên chi phí huy động vốn
của loại tiền gửi này là rất thấp đây chính là ưu điểm của nguồn vốn này. Tuy
nhiên, tính ổn định của nguồn vốn này là thấp nhất vì mục đích của món tiền
gửi này là dựng để thanh toán nên khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào mà
ngân hàng không được phép từ chối. Biến động của tiền gửi thanh toán phụ
thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời vụ, hoặc địa bàn hoạt động của
ngân hàng. Để đo độ biến động phức tạp của nguồn vốn này, ta có thể đo tần
suất biến động hoặc số vòng quay, hoặc dựa vào các con số thống kê trong lịch
sử mà ngân hàng đưa ra kết luận. Khi sử dụng nguồn vốn tiền gửi thanh toán
ngân hàng phải thận trọng nếu không rủi ro chi trả sẽ xảy ra, điều nà
có thể làm giảm uy tín của ngân hàng, hoặc phải tốn chi phí để đi vay.
Ở Mỹ tiền gửi giao dịch không hưởng lãi chiếm khoảng 30% tiền gửi
ngân hàng mặc dù theo một đạo luật Liên bang Mỹ từ năm 1933 ngân hàng
không được thanh toán lãi suất trên tiền gửi giao dịch nhưng nhiều ngân hàng
chấp nhận trả chi phí giao dịch qua bưu điện hay cung cấp các dịchv
miễn phí khác do đó vẫn thu hút được một lượng lớn tiền gửi thanh
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
15
Chuyên đề thực tập
vì vậy huy động nguồn vốn này sẽ có chi phí huy động lớn nhất. Để huy động
được nguồn vốn này, ngân hàng cần chú ý tới nhu cầu tiết kiệm từ dân cư,
lượng tiền gửi phụ thuộc vào thu nhập của dân cư, vào xu hướng tiết kiệm,
các đặc tính về dân số-xã hội, tình hình kinh tế xã hội. Muốn huy động nguồn
tiền gửi tiết kiệm ngân hàng cần phải chú ý đến
ác yếu tố thuộc về khách hàng này và điều chỉnh lãi suất huy động cho
phù hợp.
Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được thanh toán khi khách
hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn, sự thay đổi
đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn làm thay đổi cầu thanh khoản của ngân hàng.
Qui mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác, thông thường chi
trên 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các
ngân hàng.
Tiền gửi là đối tượng phải dự dữ bắt buộc do vậy chi phí tiền gửi
thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi. Tiền gửi đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn
thường nhạy cảm với các biến động về lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi
tiêu và nhiều nhân tố khác. Lãi suất cao là một nhân tố kích thích các doanh
nghiệp, dân cư gửi và cho vay. Trong điều kiện có lạm phát, người có tiền tiết
kiệm thường quan tâm tới lãi suất thực, điều đó có nghĩa là lãi suất thực
dương mới thực sự hấp dẫn các nguồn tiền tiết kiệm. Các yếu tố khác như địa
điểm ngân hàng, mạng lưới chi nhánh và quầy tiết kiệm, các loại hình huy
động đa dạng, các dịch vụ đa dạng,…đều ảnh hưởng tới quy mô và cấu trúc
của nguồn tiền. Thời vụ chi tiêu ảnh hưởng đến quy mô và tính ổn định của
nguồn tiền. Vào dịp tết, nguồn tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp
có xu hướng giảm sút đặc biệt là trong điều kiện tình trạng thanh toán bằng
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
17
Chuyên đề thực tập
tiền mặt vẫn là hình thức phổ biến nhất trong các giao dịch kinh tế ở nước ta
hiện nay. Tại những thành phố lớn, nơi tập trung các tầng lớp dân cư có thu
Công ty bảo hiểm, các Hợp tác xã nông nghiệp và rất nhiều tổ chức đầu tư
khác. Loại kỳ phiếu có kỳ hạn 1 năm cũng có sức hấp dẫn đặc biệt đối với các
cá nhân và chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng lượng trái phiếu phát hành.
Ở Mỹ, các NHTM có khoản mục tiền gửi có kỳ hạn chiếm gần 50% và chủ
yếu thể hiện dưới dạng chứng chỉ tiền gửi, với các CDs thường có kèm theo
quy định về kỳ hạn cố định với một mức lãi suất được xác định trước hoặc
theo thỏa thuận và không có giới hạn về số tiền gửi tối thiểu. Khoản mục này
bao gồm các CDs có thể chuyển nhượng giá trị lớn khoảng 100.000USD hoặc
hơn – những chứng chỉ tiền gửi hưởng lãi mà ngân hàng sử dụng để huy động
vốn từ các khách hàng quen thuộc. Để hạn chế việc rút trước hạn đối với tiền
gửi có kỳ hạn, thì các ngân hàng Mỹ có một quy định hết sức chặt chẽ là việc
rút trước hạn đó sẽ bị x
phạt và mức phạt
thể vượt cả mức tiền lãi được hưởng tính đến ngày rút tiền.
1.2.1.3. Tiền vay
Tiền gửi là nguồn tiền do khách hàng chủ động mang đến cho ngân
hàng, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để kinh doanh. Tuy nhiên
không phải lúc nào nguồn tiền gửi cũng đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh của
ngân hàng, chính vì vậy khi nhu cầu ch
vay vượt quá khả năng hiện có của ngân hàng, ngân hàng có th
đi vay để đáp ứng.
Ngân hàngth
ng mại có thể đi vay từ nhiều nguồn khác nhau:
- Vay từ ngân hàng trung ương :
Ngân hàng thương mại có thể vay từ ngân hàng trung ương qua các
hình thức như chiết khấu, tái chiết khấu, hình thức vay này thông qua thị
trường mở. Ngân hàng thương mại thường nắm giữ một lượng giấy tờ có giá,
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
19
Chuyên đề thực tập
Ngân hàng có thể đi vay bằng cách phát hành các giấy tờ có giá như
phát hành các trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, CDs, hiện nay hình thức vay từ
việc phát hành các giấy tờ có giá chiếm tỷ trọng ngày càng cao so với tổng
lượng tiền đi vay của các ngân hàng. Bởi hình thức phát hành giấy tờ có giá là
một phần của chiến lược huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng, lãi suất của
các giấy tờ có giá do Ngân hàng phát hành ra sẽ thấp hơn lãi suất đi vay, tuy
nhiên Ngân
ng phải mất thêm
i phí in ấn, phát hành và quảng cáo cho các giấy tờ có giá này.
Vay từ nước ngoài:
Theo Nghị định 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005 của Chính phủ về
quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài thì các Ngân hàng thương mại có
thể vay vốn trung và dài hạn ở Ngân hàng nước ngoài để cho vay lại trong
nước, các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay có quan hệ đại lý và
quan hệ thanh toán rộng rãi với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới
nên nghiệp vụ này tiến hành cũng khá thuận lợi. Lãi suất vay được áp dụng
theo lãi suất trên thị trường tiền tệ thế giới. Tuy nhiên, khi vay thì các NHTM
Việt Nam phải chấp hành một hạn mức tín dụng do nước ngoài quy định, hạn
mức này phải do Chính phủ hoặc NHNN Việt Nam bảo lãnh, theo Nghị định
134/CP thì mức bảo lãnh vay vốn nước ngoài cho một tổ chức tín dụng không
quá 6 lần vốn tự có của tổ chức đó, nhưng hạn mức trên phải trừ đi số nợ
trước chưa trả đến thời điểmNam vay mới. Như vậy, muốn tận dụng được hạn
mức tín dụng nước ngoài các Ngân hàng thương mại VNamiệt phải thực hiện
tốt khâu hoàn trả. Các khoản vay nước ngoài của các Ngân hàng thương mại
Việt đều do Ngân hàng Nhà nước trực tiếp kiểm soát và quản lý. Vì vậy, các
hồ sơ vay vốn đều phải qua Ngân hàng Nhà nước xét duyệt, các Ngân hàng
thương mại có quyền chủ động tìm kiếm các nguồn
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
21
Chuyên đề thực tập
trung và
i hạn khi tiền gửi không đáp ứng được
u cầu như ổn ịnh, quy mô đủ lớn trong khoảng thời gian xác định.
1.2.1.4. Nguồn vốn ủy thác và tín thác
Nguồn ủy thác : gồm cả ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy thác giải
ngân, ủy thác cấp phát,…: Đây là nguồn được hình thành do các tổ chức, cá
nhân, ủy thác tiền, tài sản vào ngân hàng nhờ ngân hàng cho vay, đầu tư, giải
ngân vốn. Cùng với sự phát triển các mối quan hệ đa phương, rất nhiều tổ
chức kinh tế xã hội có cùng mục tiêu phát triển như của ngân hàng, có nguồn
tài chính đã sử dụng mạng lưới ngân hàng như các kênh dẫn vốn tới các mục
tiêu kết quả là hình thành nguồn ủy thác, làm gia tăng nguồn vốn cho ngân
hàng. Nguồn này khá ổn định, các ngân hàng thực hiện hộ khách hàng và
hưởng hoa hồng, không phải trả lãi tuy nhiên chi phí để có và duy trì chúng
à rất đáng kể hư phải tìm kiếm các chủ đầu tư, tìm hiểu yêu cầu của họ,
nghiên cứu dự án mà họ tài trợ,…
Nguồn tín thác : Không phải tất cả các ngân hàng đều có năng lực cung
cấp dịch vụ tín thác bởi năng lực này phải được các nhà lập pháp thông qua
song phần lớn các ngân hàng lớn và trung bình đều có bộ phận tín thác. Bộ
phận tín thác thường cung cấp một lượng rất lớn tiền gửi cho ngân hàng bởi
họ quản lí tài sản của khách hàng trong đó có cả khách hàng là cá nhân, tổ
chức. Các hoạt động của phòng tín thác có thể chịu sự chỉ đạo của khách hàng
cũng có thể thay mặt cho khách hàng đưa ra các quyết định cụ thể ví dụ như
lựa chọn tài khoản tiền gửi có lợi nhất cho khách hàng. Tiền gửi tại phòng tín
thác đòi hỏi phải tuyệt đối an toàn và được bảo hiểm giống như bảo hiểm tiền
gửi. Tín thác được coi là một trong những loại hình dịch vụ cần thiết đem lại
lợi nhuận cho khách hàng của ngân hàng song nó thường không đem lại lợi
nhuận lớn cho ngân hàng bởi để có thể cung cấp được dịch vụ tín thác ngân
SV: Nguyễn Tiệp Việt Lớp: 18A1 TCNH
23