sỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHÚ THỌ
TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH
Sáng kiến kinh nghiệm
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TRONG VIỆC GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC 10Người thực hiện: NGUYỄN VĂN SƠN
TÔ : KHTN
Phú Thọ- tháng 5 năm 2009
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong phưong pháp tổ chức, người học - đối tượng của hoạt động “dạy” đồng thời là
chủ thể của hoạt động “học”, được cuốn hút vào hoạt động học do giáo viên tổ chức và
chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ
động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt sẵn . Đựơc đặt vào những tình
huống thực tế của đời sống, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, giải quyết các vấn
đề do người dạy đặt ra theo suy nghĩ của mình từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng mới,
vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập khuôn máy móc
theo những khuôn mẫu đã có sẵn, được bộc lộ và phát triển tiềm năng sáng tạo.
Khi mà lượng thông tin ngày càng nhiều mà thời gian học tập ở nhà trường lại có
hạn.Giáo viên không thể truyền đạt hết tất cả những gì mà học sinh cần cho cuộc sống
sau này, chỉ trang bị cho các em những kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức,
phương pháp tự học để có thể tự học suốt đời. Phải tạo điều kiện đẻ học sinh được suy
nghĩ tích cực và bộc lộ những suy nghĩ của mình trong quá trình thảo luận, tranh luận
trong nhóm đồng thời tích cực tìm ra tri thức dưới sự chỉ dẫn của giáo viên.
Cố gắng khắc phục tình trạng “truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng
tạo của người học” là tư tưởng chỉ đạo cho việc đổi mới phương pháp đang đặt ra cho
toàn Ngành giáo dục ( Nghị quyết Trung ương II khoá VIII ) .
Tôi đã cố gắng thực hiện tư tưởng chỉ đạo trên trong quá trình giảng dạy của
mình, đặc biệt trong việc dạy chương trình sinh học lớp 10 phân ban . Để rèn luyện
hấp . Ở phần này giáo viên thường cung cấp khái niệm một cách áp đặt . Với cách dạy
này học sinh nhận thức khái niệm rất mơ hồ và do đó các em khó để hiểu được bản
chất của hô hấp tế bào, một số em sẽ nhầm lẫn giữa hô hấp và đốt cháy. Không tạo
được tiền đề cho việc nắm cơ chế của quá trình.
Khi dạy phần khái niệm, giáo viên đưa ra sơ đồ của quá trình hô hấp, hướng
dẫn học sinh quan sát sơ đồ, yêu cầu học sinh giải thích các giai đoạn tương ứng và từ
đó đi tới khái niệm “Hô hấp tế bào”.
Từ sơ đồ học sinh rút ra được :
+ Hô hâïp tế bào là một quá trình chuyển hoá năng lượng diễn ra trong tế bào
sống.
+ Qua quá trình, các hợp chất hữu cơ (Gluxit) được phân giải qua nhiều sản phẩm
trung gian và cuối cùng tạo ra CO
2
, H
2
O đồng thời năng lượng của chúng được giải
phóng và chuyển hoá thành dạng năng lượng rất dễ sử dụng chứa trong các phân tử
ATP. Ở tế bào nhân thực quá trình này diễn ra trong ti thể.
2. Khi dạy phần các giai đoạn chính của quá trình hô hấp tế bào (cơ chế hô hấp), đểí
học sinh có thể nắm được khái quát toàn bộ quá trình; bao gồm:
- Các giai đoạn.
- Vị trí diễn ra của từng giai đoạn trong tế bào.
Giáo viên sử dụng lại sơ đồ của quá trình hô hấp :
Giáo viên giới thiệu và yêu cầu học sinh quan sát sơ đồ, từ sơ đồ hãy cho biết:
+ Hô hấp tế bào gồm những giai đoạn nào ?
+ Vị trí diễn ra của từng giai đoạn.
Từ sơ đồ học sinh sẽ nêu được hô hấp tế bào có 3 giai đoạn chính:
Đường phân: diễn ra ở tế bào chất.
Chu trình Crep: diễn ra ở chất nền của ti thể.
Chuỗi truyền điện tử: diễn ra trên màng trong của tế bào.
(axit piruvic)
Sản phẩm tạo ra? Yêu cầu học sinh viết phương trình phản ứng của giai đoạn đường
phân:
Enzim
C
6
H
12
O
6
2Axit piruvic + 2ATP + 2NADH
Như vậy từ sơ đồ học sinh thấy được sản phẩm của đường phân gồm:
2Axit piruvic, 2ATP, 2NADH
(Thực tế đã tạo được 4 phân tử ATP nhưng dùng 2 phân tử ATP để hoạt hoá phân tử
glucôzơ)
Để kích thích suy nghĩ của học sinh, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát sơ đồ và giải
thích tại sao phải có 2ATP trong phản ứng đầu tiên (năng lượng cần cho sự hoạt hoá
glucôzơ thành fructôzơ 1,6 điphốt phát), 4ATP được giải phóng cùng với 2NADH và
sản phẩm cuối cùng của giai đoạn đường phân là 2 Axit piruvic.
* Axit pyruvic tiếp tục bị biến đổi như thế nào? Sản phẩm đựơc tạo thành trong
giai đoạn tiếp theo là gì?
b. Chu trình Crep:
Sơ đồ về chu trình Crep đã có ở sách giáo khoa, trước hết giáo viên yêu cầu học sinh
nghiên cứu chu trình ở sách giáo khoa để học sinh có thể định hướng được những biến
đổi cơ bản trong chu trình. Hình vẽ ở sách giáo khoa phức tạp, phần này yêu cầu học
sinh phải nắm được những biến đổi cơ bản nhất của từng giai đoạn trong chu trình.
Giáo viên giới thiệu: trước khi đi vào chu trình Crep, axit pyruvic biến đổi thành
axêtyl- CoA, giải phóng một phân tử NADH và 1 phân tử CO
2,
quá trình này được thực
2
+ 2ATP + 6NADH + 2FADH
2
Để học sinh nắm kiến thức hai giai đoạn này chắc chắn, giáo viên sử dụng sơ đồ chung
của 2 giai đoạn: đường phân và chu trình Crep :
Học
sinh quan sát sơ đồ và kiến thức vừa học, yêu cầu các em hoàn chỉnh bảng sau (phiếu
học tập) :
Các giai đoạn
Đặc điểm phân biệt
Vị trí Nguyên liệu Sản phẩm Năng lượng
Đường phân
Chu trình Crep
Yêu cầu học sinh cho biết số lượng ATP, NADH, FADH
2
được tạo thành trong 2 quá
trình đường phân và chu trình Crep:
Đường phân: 2ATP, 2NADH
Chu trình Crep: + Giai đoạn chuẩn bị : 2NADH
+ Chu trình : 2ATP, 6NADH, 2FADH
2
c. Chuỗi truyền điện tử :
Cho học sinh đọc thông tin ở sách giáo khoa, sau đó sử dụng sơ đồ chung của quá
trình hô hấp, trên cơ sở các sản phẩm được tạo thành ở 2 giai đoạn trên đã được học,
giáo viên đặt câu hỏi gợi ý: Năng lượng dùng trong hoạt động sống là dạng năng lượng
gì? (ATP). Như vậy các sản phẩm NADH và FADH
2
được tạo thành phải qua một quá
trình chuyền điện tử tới chất nhận cuối cùng là O
2
nguyên liệu của quá trình hô hấp không? Quá trình phân giaií các nguyên liệu này diễn
ra như thế nào?
Sử dụng sơ đồ tóm tắt quá trình phân giải các chất trong tế bào:
SƠ ĐỒ SỰ PHÂN GIẢI CÁC CHẤT KHÁC
Giáo viên giải thích sơ đô,ö yêu cầu học sinh quan sát và nhận xét sự giống và khác
nhau trong quá trình phân giải prôtêin, lipit, cacbon hiđrat.
Đường phân :
Prôtêin A xit amin Axêtyl - CoA
Lipit Glixêrol + axit béo A xêtil - CoA
Sau đó đi vào chu trình Crep . Như vậy sự phân giải các nguyên liệu chỉ khác nhau ở
chặng đường phân sau đó đều tạo thành axêtyl - CoA và đi vào chu trình Crep cuối
cùng giải phóng CO
2
, H
2
O và năng lượng. Tất cả các kiến thức đó được học sinh tự rút
ra từ quan sát sơ đồ.
Trong bài chỉ giới hạn ở phần sự phân giải các chất hữu cơ trong điều kiện có O
2
, tuy
nhiên để kích thích tư duy của học sinh giỏi, giáo viên đặt vấn đề: Điều gì xãy ra nếu
như trong tế bào không có O
2
? Cho học sinh suy nghĩ rồi giải thích để học sinh thấy sự
khác nhau giữa hô hấp có O
2
( hiếu khí ) và hô hấp không có O
2
( kịñ khí ). Có thể liên
hệ lại kiến thức của bài enzim để học sinh tự suy luận : Khi không có O
được nhiều kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy. Tôi mong muốn được đón nhận
những ý kiến góp ý chân thành của đồng nghiệp để chất lượng giảng dạy của mình
ngày càng được tốt hơn.
Thị xã Phú Thọ, ngày 20 tháng 5 năm 2009
Người thực hiện :
NGUYỄN VĂN SƠN