hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường đại học thuộc đại học thái nguyên - Pdf 22

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản
thân. Các dữ liệu trong luận văn là trung thực, rõ ràng và có nguồn gốc cụ thể. Kết
quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được trình bày và công bố tại bất kỳ một
công trình khoa học nào khác. Các giải pháp được đề xuất trong luận văn được rút
ra từ quá trình nghiên cứu thực tiễn tại các trường đại học thuộc Đại học Thái
Nguyên. Nghiên cứu dựa trên lý luận chung về tổ chức công tác kế toán tại các đơn
vị sự nghiệp có thu.
Hà nội, ngày 20 tháng 10 năm 2011
Học viên
MỤC LỤC
LOẠI 2: TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 90
LOẠI 3: THANH TOÁN 90
Giá trị khối lượng XDCB hoàn thành 91
Thanh toán nội bộ 91
LOẠI 4 – NGUỒN KINH PHÍ 91
LOẠI 5: CÁC KHOẢN THU 92
LOẠI 0: TÀI KHOẢN NGOÀI BẢNG 92
TÊN SỔ 100
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CCDC : Công cụ dụng cụ
CTKT : Chứng từ kế toán
ĐH : Đại học
ĐHTN : Đại học Thái Nguyên
KHCN : Khoa học công nghệ
NCKH : Nghiên cứu khoa học
NSNN : Ngân sách nhà nước
TK : Tài khoản
TKKT : Tài khoản kế toán
TSCĐ : Tài sản cố định
DANH MỤC SƠ ĐỒ

tác quản trị đại học đối với mô hình đại học mới như các Đại học quốc gia và Đại
học vùng.
Đại học Thái Nguyên là một Đại học khu vực đa ngành, đa lĩnh vực bao gồm
các trường đại học thành viên, được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ
sự phát triển văn hoá, kinh tế, xã hội và bảo vệ sức khoẻ của các dân tộc của các
tỉnh trung du, miền núi phía bắc, theo các ngành nghề khác nhau như: Sư phạm, Y
1
Dược, Kỹ thuật công nghiệp, Nông - Lâm - Ngư nghiệp, Công nghệ thông tin -
Truyền thông, Khoa học xã hội và tự nhiên, Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Ngoại
ngữ. Chính vì vậy việc đánh giá thực trạng công tác tổ chức kế toán tại các trường
đại học thuộc Đại học Thái Nguyên trong bối cảnh mới và điều kiện thực hiện cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính là hết sức cần thiết và tạo cơ sở cho việc
đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán, cơ chế quản lý tài chính phù hợp
với đặc điểm, tính chất hoạt động của mỗi trường đại học thành viên thuộc Đại học
Thái Nguyên. Xuất phát từ thực tiễn đó tôi đã chọn đề tài cho luận văn là: “Hoàn thiện
tổ chức công tác kế toán tại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên” góp
phần thực hiện tốt Luật Ngân sách nhà nước, giải quyết các vấn đề còn tồn tại và
thực hiện quản lý thống nhất tổ chức công tác kế toán, nâng cao chất lượng và hiệu
quả quản trị đại học của mô hình đại học vùng.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới và hoàn thiện từng bước
công tác tổ chức kế toán của các trường đại học công lập nói chung và của một Đại
học Vùng nói riêng, nhằm phát triển quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nước.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự
nghiệp có thu ở Việt Nam.
- Xác định được những yêu cầu có tính nguyên tắc cho việc hoàn thiện tổ

công lập.
Làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong điều kiện
thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy,
biên chế và tài chính tại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên trên cơ sở
nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý tài chính và công tác kế toán
tại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên hiện nay.
3
Đề xuất những giải pháp cơ bản và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổ
chức kế toán của các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, trang mục lục và danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục biểu, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự
nghiệp có thu.
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các trường đại học thuộc
Đại học Thái Nguyên.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán
tại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên.
4
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU
1.1. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA
CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC CÔNG
TÁC KẾ TOÁN
1.1.1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu
Hoạt động sự nghiệp ở nước ta là những hoạt động văn hoá thông tin, giáo
dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế, thể dục thể thao được quy định tại Nghị
định số 73/CP ngày 24/12/1960 về điều lệ tài vụ sự nghiệp văn xã. Các đơn vị sự
nghiệp là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, có

xuyên: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chưa tự trang trải được toàn bộ chi phí hoạt
động thường xuyên, Ngân sách Nhà nước cấp một phần chi phí hoạt động thường
xuyên cho đơn vị (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động).
1.1.2. Đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu
Các đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và
với tính chất, đặc điểm, quy mô hoạt động khác nhau. Nhưng cho dù đơn vị đó có
thuộc ngành nào, loại hình đơn vị sự nghiệp nào thì chúng đều có một số đặc điểm
chung nhất định:
 Đơn vị sự nghiệp có thu được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện
nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà nước
cấp đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí theo định kỳ 3 năm và hàng năm
được tăng thêm theo tỷ lệ do Thủ tướng chính phủ quyết định.
 Về tổ chức biên chế: Đơn vị sự nghiệp được chủ động sử dụng số biên
chế được cấp có thẩm quyền giao, sắp xếp và quản lý lao động phù hợp với chức
năng nhiệm vụ của đơn vị theo pháp lệnh công chức. Đồng thời đơn vị cũng được
chủ động ký hợp đồng thuê, khoán công việc đối với những công việc không cần thiết
bố trí biên chế thường xuyên; ký hợp đồng và các hình thức hợp tác khác với chuyên
gia, nhà khoa học trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu chuyên môn của đơn vị.
6
 Về huy động vốn và vay vốn tín dụng: Đơn vị sự nghiệp có hoạt động
dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên
chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp,
tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm
trả nợ vay theo quy định của pháp luật.
 Về quản lý và sử dụng tài sản: Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản
lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà
nước tại đơn vị sự nghiệp. Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ
phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh
nghiệp nhà nước. Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài
sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước đơn vị được để lại đầu tư tăng cường cơ

thống dọc tương ứng với từng cấp ngân sách nhằm phù hợp với công tác chấp hành
ngân sách đó. Hiện nay các đơn vị sự nghiệp được tổ chức theo cấp ngân sách như sau:
- Đơn vị dự toán cấp I: là đơn vị trực tiếp nhận kinh phí ngân sách nhà nước
cấp hàng năm từ cơ quan tài chính, phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán cấp
dưới. Các đơn vị cấp I chịu trách nhiệm trước Nhà nước về tổ chức thực hiện công
tác kế toán và quyết toán Ngân sách của cấp mình và các cấp dưới trực thuộc. Đơn
vị dự toán cấp I quan hệ trực tiếp với cơ quan tài chính (Bộ, Sở, phòng Tài chính)
- Đơn vị dự toán cấp II: là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I có nhiệm
vụ quản lý kinh phí ở cấp trung gian, là cầu nối giữa đơn vị dự toán cấp I và cấp III
trong một hệ thống. Đơn vị cấp II nhận dự toán ngân sách từ đơn vị cấp I và phẩn
bổ cho đơn vị dự toán cấp III trực thuộc. Đơn vị dự toán cấp II chó nhiệm vụ tổ
chức thực hiện công tác kế toán, quyết toán ngân sách của cấp mình và cấp dươi
trực thuộc.
- Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách để thực
hiện nhiệm vụ được giao. Đơn vị dự toán cấp III nhận kinh phí ngân sách từ đơn vị
cấp II hoặc cấp I (trong trường hợp không có cấp II). Đơn vị cấp III tổ chức thực
hiện công tác kế toán, quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị dự toán cấp
dưới (nếu có).
8
- Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện
phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán với
đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II và
cấp II với cấp I.
Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm:
 Kinh phí do NSNN cấp: Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực
hiện chức năng, nhiệm vụ đói với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động,
được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có
thẩm quyền giao. Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn
vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ). Kinh phí thực hiện chương trình
đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức. Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu

thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Chi thực hiện các dự án từ
nguồn vốn viện trợ nước ngoài; Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết. và các
khoản chi khác theo quy định (nếu có).
Các đơn vị sự nghiệp có thu dù được tổ chức thực hiện ở cấp đơn vị dự toán
nào thì đều phải thực hiện cơ chế quản lý tài chính theo quy định hiện hành.
Cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu là tổng thể các
phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng trong suốt quá trình quản lý
các hoạt động tài chính của đơn vị, tổ chức ở những điều kiện cụ thể nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định. Việc tạo ra một cơ chế quản lý tài chính thích hợp đối
với các đơn vị sự nghiệp có thu sẽ tạo quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách
nhiệm cho đơn vị sự nghiệp, đảm bảo cho bộ máy của đơn vị hoạt động có hiệu quả,
đáp ứng nhu cầu của xã hội. Đồng thời cơ chế quản lý tài chính thích hợp cũng nêu
cao ý thức tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí, tăng cường đấu tranh
chống tham ô, lãng phí; sắp xếp bộ máy tổ chức và lao động hợp lý, tăng thu nhập,
tăng phúc lợi, khen thưởng cho người lao động nhằm nâng cao đời sống của người
lao động.
Từ năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định 10/2002/NĐ-CP về chế độ tài
chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu. Nghị định này là một chủ trương lớn
10
của Nhà nước nhằm trao quyền tử chủ tài chính cho các đơn vị này. Đến năm 2006
được thay thế bằng Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Theo cơ chế này thì các đơn vị sự nghiệp
có thu được tự chủ về các nội dung:
* Cơ chế tiền lương, tiền công và thu nhập
+ Đối với những hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao,
chi phí tiền lương, tiền công cho cán bộ, viên chức và người lao động (gọi tắt là
người lao động), đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định;
+ Đối với những hoạt động cung cấp sản phẩm do nhà nước đặt hàng có đơn
giá tiền lương trong đơn giá sản phẩm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đơn

* Sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp
khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụng
như sau:
- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm bằng hoặc nhỏ hơn một
lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu nhập
tăng thêm cho người lao động, trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập,
Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong đó, đối
với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền
lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm. Mức trả thu
nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo
quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
Tóm lại, sự khác biệt căn bản giữa đơn vị sự nghiệp có thu (đơn vị thực hiện
theo cơ chế tự chủ tài chính) và đơn vị sự nghiệp thuần tuý (đơn vị thụ hưởng) thể
12
hiện ở chỗ: chỉ trong đơn vị sự nghiệp có thu mới có kết quả hoạt động tài chính
hàng năm để tăng quyền tự chủ tài chính. Còn các đơn vị sự nghiệp thuần tuý thì
thu, chi theo định mức, dự toán được cơ quan chủ quản duyệt. Nếu không chi hết thì
nộp lại ngân sách, nếu không đủ chi thì giải trình xin cấp bù (nếu được giao thêm
nhiệm vụ). Còn đơn vị sự nghiệp có thu được tự chủ tài chính trên cơ sở tăng thu,
tiết kiệm chi hợp lý, nếu tạo ra kết quả tài chính thì được sử dụng trích lập bổ sung
các quỹ và trả thêm thu nhập cho người lao động theo quy định đối với phân kinh
phí được tự chủ. Đồng thời các đơn vị sự nghiệp có thu cũng được phép tự chủ
trong việc sử dụng các quỹ theo quy định hiện hành và quy chế chi tiêu nội bộ.
* Sử dụng các quỹ
- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp dùng để đầu tư, phát triển nâng cao
hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang

kế toán bao hàm cả tổ chức hệ thống chứng từ, sổ, tài khoản, và báo cáo kế toán áp
dụng trong từng đơn vị cụ thể.
Tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý sẽ đảm bảo cung cấp thông tin về
hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị một cách có hệ thống, kịp thời, chính xác cho
các nhà quản lý, giúp họ đưa ra các quyết định có hiệu quả nhất.
Bố trí con người để thực hiện các khối lượng công tác kế toán là một nội
dung của tổ chức công tác kế toán. Vì vậy, tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp
lý còn giúp cho đơn vị có được bộ máy kế toán gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, góp
phần tinh giản bộ máy quản lý của đơn vị, nâng cao hiệu suất lao động kế toán và
hiệu lực của bộ máy quản lý.
Tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế toán phù hợp với đặc điểm của đơn vị
trên cơ sở những quy định, chế độ chung của Nhà nước về quản lý tài chính sẽ tạo
ra sự thống nhất trong quản lý, cung cấp thông tin tin cậy cho công tác quản lý vĩ
mô, giúp cho Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, soạn thảo luật lệ thích hợp.
14
1.2.2. Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp có thu
Như phần trên luận văn đã phân tích, tổ chức công tác kế toán có vai trò rất
quan trọng trong việc tiết kiệm nhân công, tiến độ thực hiện nhưng vẫn đảm bảo
thông tin kế toán chính xác, kịp thời, có tính quyết định cho sự thành công hay thất
bại trong các hoạt động của đơn vị. Muốn vậy trong hoạt động thực tiễn, tổ chức
công tác kế toán phải tuân theo những nguyên tắc nhất định giữa bản thân hoạt động
kế toán và quan hệ giữa kế toán với các bộ phận khác trong hệ thống quản lý. Các
nguyên tắc đó là:
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán
hiện hành. Chức năng của tổ chức công tác kế toán là cung cấp thông tin kịp thời,
đáng tin cậy cho người sử dụng. Nhằm tạo ra một khung pháp lý chung, một sự
hướng dẫn thống nhất, tiêu chuẩn cho tổ chức công tác kế toán, Nhà nước đã ban
hành Luật kế toán, các chuẩn mực, chế độ kế toán và đòi hỏi các đơn vị phải tuân
thủ. Thực hiện nguyên tắc này, khi triển khai tổ chức công tác kế toán, các đơn vị
phải nắm chắc và tuân thủ các chuẩn mực, chế độ kế toán của nhà nước, có như vậy

Thứ tư, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Tổ chức kế toán ở mỗi đơn vị kế
toán phải sau cho vừa gọn nhẹ cả về bộ máy, phương tiện, số lượng ghi chép
nhưng vẫn bảo đảm thu thập, hệ thống và cung cáp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời.
1.2.3. Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp có thu
Xuất phát từ những nguyên tắc của tổ chức công tác kế toán, nội dung của tổ
chức công tác kế toán bao gồm:
- Tổ chức chứng từ kế toán: là vận dụng phương pháp chứng từ trong ghi
chép kế toán để ban hành chế độ chứng từ và vận dụng chế độ, thiết kế khối lượng
hạch toán ban đầu trên hệ thống bản chứng từ. Cụ thể bao gồm các công việc: Xác
định danh mục chứng từ; tổ chức lập chứng từ; tổ chức kiểm tra chứng từ; tổ chức
luân chuyển chứng từ; tổ chức bảo quản lưu trữ và huỷ chứng từ.
16
- Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán: là vận dụng phương pháp tài khoản để
xây dựng hệ thống tài khoản trên góc độ ban hành chế độ và vận dụng chế độ. Đây
chính là quá trình thiết lập một hệ thống tài khoản hạch toán kế toán cho các đối
tượng hạch toán kế toán nhằm cung cấp các thông tin tổng quát về từng loại tài sản,
nguồn vốn và quá trình sử dụng kinh phí của đơn vị hạch toán.
- Tổ chức hệ thống sổ kế toán: là hình thức biểu hiện của phương pháp đối
ứng tài khoản được vận dụng trên thực tế nhằm hệ thống hoá các số liệu kế toán.
- Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán: là phương pháp tổng hợp số liệu kế toán
theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính, phản ánh một cách tổng quát, toàn diện và có hệ
thống tình hình tài sản, nguồn vốn và kết quả hoạt động của đơn vị sau một kỳ hạch toán.
- Tổ chức kiểm tra kế toán: nhằm đảm bảo công tác kế toán tuân thủ theo các
quy định.
Để thực hiện được toàn bộ nội dung trên, tổ chức công tác kế toán cần thực
hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tổ chức khoa học và hợp lý công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán phù
hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị, thực hiện kế hoạch hoá công tác kế toán (xác
định nhiệm vụ, mối quan hệ của từng bộ phận, từng cán bộ nhân viên kế toán )
đảm bảo công tác kế toán được thực hiện với chất lượng tốt, hiệu suất cao.

Một là, tổ chức chứng từ kế toán phải căn cứ vào chế độ do Nhà nước ban
hành, được thống nhất áp dụng về hệ thống biểu mẫu chứng từ bắt buộc để tổ chức
vận dụng chế độ hợp lý, hợp pháp bảo đảm chứng từ là căn cứ pháp lý để ghi sổ kế
toán và thông tin cho quản lý.
Hai là, tổ chức chứng từ phải căn cứ vào cơ cấu tài sản, nguồn vốn, đặc điểm
tổ chức hoạt động và trình độ tổ chức quản lý để xác định số lượng, chủng loại
chứng từ thích hợp.
Ba là, tổ chức chứng từ kế toán phải căn cứ vào yêu cầu quản lý tài sản và
tình hình biến động của chứng từ để tổ chức sử dụng chứng từ thích hợp và luân
chuyển các bộ phận có liên quan.
18
Bốn là, tổ chức vận dụng chứng từ phải căn cứ vào nội dung và đặc điểm
từng loại chứng từ.
Nội dung của tổ chức chứng từ kế toán tại đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm:
Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán và tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán.
+ Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán là việc lựa chọn số lượng, chủng loại
chứng từ căn cứ vào hệ thống biểu mẫu chứng từ thống nhất do Nhà nước ban hành,
đồng thời phù hợp với cơ cấu tài sản, nguồn vốn, đặc điểm hoạt động và trình độ
quản lý của đơn vị.
Chứng từ là phương pháp đầu tiên quan trọng của hệ thống phương pháp
hạch toán kế toán. Phương pháp chứng từ là phương pháp thông tin và kiểm tra về
trạng thái và sự biến động của đối tượng kế toán cụ thể nhằm phục vụ kịp thời cho
lãnh đạo nghiệp vụ và làm căn cứ phân loại, ghi sổ và tổng hợp kế toán.
Nội dung của chứng từ kế toán bao gồm:
- Tên và số hiệu của chứng từ kế toán
- Ngày, tháng, năm lập chứng từ kế toán
- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán
- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán
- Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
- Số lượng, đơn giá, số tiền nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số; tổng số

dung quy định trên mẫu. Trong trường hợp chứng từ kế toán chưa có quy định mẫu
thì đơn vị kế toán được tự lập chứng từ kế toán nhưng phải có đầy đủ các nội dung
theo quy định.
Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính trên chứng từ kế toán không được viết
tắt, không được tẩy xóa, sửa chữa; khi viết phải dùng bút mực, số và chữ viết phải
20
Lập
chứng từ
Lập
chứng từ
Bảo quản, lưu trữ
và huỷ chứng từ
Bảo quản, lưu trữ
và huỷ chứng từ
Sử dụng
chứng từ
Sử dụng
chứng từ
Kiểm tra
chứng từ
Kiểm tra
chứng từ
liên tục, không ngắt quãng, chỗ trống phải gạch chéo; chứng từ bị tẩy xóa, sửa chữa
đều không có giá trị thanh toán và ghi sổ kế toán. Khi viết sai vào mẫu chứng từ kế
toán thì phải huỷ bỏ bằng cách gạch chéo vào chứng từ viết sai.
Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên quy định. Trường hợp phải lập
nhiều liên chứng từ kế toán cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính thì nội dung các
liên phải giống nhau. Chứng từ kế toán do đơn vị kế toán lập để giao dịch với tổ
chức, cá nhân bên ngoài đơn vị kế toán thì liên gửi cho bên ngoài phải có dấu của
đơn vị kế toán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status