Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
==== ====
ĐẶNG VĂN MAN
ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ CÁC MÔ HÌNH RỪNG TRỒNG CUNG CẤP
GỖ LỚN LÀM CƠ SỞ LỰA CHỌN LOÀI CÂY TRỒNG RỪNG GỖ
LỚN,
MỌC NHANH Ở CÁC VÙNG SINH THÁI TÂY NGUYÊN VÀ
DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG
ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ CÁC MÔ HÌNH RỪNG TRỒNG
CUNG CẤP GỖ LỚN LÀM CƠ SỞ LỰA CHỌN LOÀI CÂY
TRỒNG RỪNG GỖ LỚN,
MỌC NHANH Ở CÁC VÙNG SINH THÁI TÂY NGUYÊN
VÀ
DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỠNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN VĂN
CON
THÁI NGUYÊN – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
« Chọn cây gì trên lập địa nào để đáp ứng được tốt nhất mục tiêu đặt
ra? » là câu hỏi đầu tiên mà các nhà đầu tư trồng rừng phải tìm câu trả lời. Việt
Nam là một nước nhiệt đới, các loài cây sẵn có trong rừng tự nhiên là rất
phong phú, nhưng trong danh sách các loài cây trồng rừng lại rất ít các loài cây
tiếp tục trong tương lai gần.
Rừng trồng cây mọc nhanh chu kỳ ngắn chủ yếu là nhằm mục đích sản
xuất gỗ nguyên liệu giấy, tuy nhiên nhu cầu về gỗ lớn đang gia tăng cũng đã
thúc đẩy các nhà lâm nghiệp quan tâm nghiên cứu trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh.
Gần đây, nhà nước đã quan tâm đầu tư cho các đề tài nghiên cứu các
giải pháp kỹ thuật và kinh tế xã hội để phát triển trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh.
Một trong số các đề tài đã và đang được thực hiện là đề tài cấp nhà nước:
“Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ và kinh tế-xã hội trồng rừng gỗ
lớn, mọc nhanh trên đất trống còn tính chất đất rừng và đất rừng nghèo kiệt”
do TS. Trần Văn Con, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì. Trong đề
tài nói trên, nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Lâm nghiệp quan niệm:
“Rừng trồng “gỗ lớn mọc nhanh” là các rừng trồng “thương mại” với cường độ
kinh doanh cao, được thiết lập tương đối tập trung, chủ yếu là thuần loài (cây
bản địa hoặc nhập nội) mọc nhanh (có năng suất trên 15 m
3
/ha/năm) để sản
xuất gỗ lớn (có đường kính trên 25 cm) với luân kỳ kinh doanh tối đa là 30
năm”.
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học, tôi được nhóm
nghiên cứu đề tài cho phép tham gia cộng tác và thực hiện luận văn của mình
với tiêu đề: “Điều tra, đánh giá các mô hình rừng trồng cung cấp gỗ lớn làm
cơ sở lựa chọn loài cây trồng rừng gỗ lớn, mọc nhanh ở các vùng sinh thái
Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung”. Đây là một trong những nội dung
nghiên cứu của đề tài nói trên với mong muốn thông qua việc đánh giá các mô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
3
hình rừng trồng cung cấp gỗ lớn đã có ở 2 vùng sinh thái lâm nghiệp (Tây
Nguyên và Duyên hải miền Trung) góp phần đưa ra các cơ sở lý luận và thực
tiễn lựa chọn các loài cây có khả năng trồng rừng cung cấp gỗ lớn với luân kỳ
Thực tiễn trồng rừng đã có từ thời trung cổ và rất nhiều loài cây kinh tế
quan trọng đã được trồng ngoài vùng phân bố tự nhiên của chúng từ hàng ngàn
năm trước. Trước năm 1900, khi mật độ dân số thấp và diện tích rừng tự nhiên
lớn không đặt ra nhu cầu trồng rừng ở quy mô lớn cho nguyên liệu công
nghiệp. Tuy nhiên, một số quốc gia đã bắt đầu quan tâm đến sự thiếu hụt rừng
tự nhiên của họ và trong nửa đầu của thế kỷ 20 việc trồng rừng đã được bắt
đầu ở Tây Âu, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Úc, Niu Zilân, Nam Phi và một số ít
các nước đang phát triển như Ấn Độ, Chilê, Indonesia và Brazin, sau đó vào
những năm 1950 là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã thực hiện các
chương trình tái trồng rừng lớn.
Những năm 1960 chứng kiến các chương trình trồng rừng lớn ở nhiều
nước nhiệt đới và á nhiệt đới và từ 1965 đến 1980 diện tích rừng rồng nhiệt đới
đã tăng rất mạnh. Trong thời kỳ này, tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đóng
vai trò quan trọng trong việc phổ cập các thông tin kỹ thuật và khuyến khích
trồng rừng. Trong nhiều trường hợp, rừng trồng đã được thiết lập bằng vốn tài
trợ nước ngoài hoặc vốn vay ưu đãi. Phần lớn những người trồng rừng thường
được hưởng lợi từ hỗ trợ trực tiếp và hầu hết nó được quản lý bởi các cơ quan
nhà nước. Thiếu thông tin thị trường và các mối liên kết giữa rừng trồng và các
công nghiệp tiêu thụ nguyên liệu dẫn đến rất nhiều hoạt động trồng rừng đi đến
kết thúc khi các nguồn hỗ trợ không còn. Tuy nhiên, diện tích rừng trồng vẫn
tiếp tục mở rộng với tốc độ nhanh. Theo đánh giá lâm nghiệp toàn cầu năm
2002 do FAO [28] thực hiện thì diện tích rừng trồng trên phạm vi toàn cầu
tăng từ 17,8 triệu ha năm 1980 lên 43,6 triệu ha năm 1990 và 187 triệu ha năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
5
2000. Một phần ba rừng trồng hiện nay nằm ở các nước nhiệt đới và hai phần
ba ở vùng ôn đới và hàn đới. 5 nước có diện tích rừng trồng trên 10 triệu ha,
chiếm 65% diện tích rừng trồng thế giới, đó là các nước: Trung Quốc, Hợp
chủng quốc Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Ấn Độ và Nhật Bản. Tuy nhiên rất ít rừng
các đặc trưng chính yếu của các loại rừng trồng cây mọc nhanh về quy mô và
phân bố của chúng. Các nước chủ yếu là Brazin, Indonesia, Trung Quốc, Ấn
Độ, Nam Phi, Thái Lan, Việt Nam, Malaixia, Venezuela như là các nước quan
tâm đến các loài nhiệt đới và á nhiệt đới và Trung Quốc, Chilê, Thổ Nhĩ Kỳ,
Tây Ban Nha, Achentina, Uruguay, Nam Phi và Úc đối với các loài ôn đới.
Trong khi tập hợp số liệu, chúng tôi nhận thấy rằng có hai vùng màu xám rất
rõ. Quan tâm đầu tiên là 11,25 triệu ha rừng trồng Bạch đàn nhiệt đới và á
nhiệt đới ngoài Brazin, Trung Quốc và Nam Phi. Có bao nhiêu trong đó là cây
mọc nhanh? Chỉ riêng Ấn Độ đã có 8 triệu ha rừng trồng Bạch đàn, nhưng một
tỷ lệ rất lớn trong đó không thể coi là cây mọc nhanh vì đơn giản là năng suất
của nó rất thấp. Vùng thứ hai là rừng trồng Bạch dương của Trung Quốc.
Trồng rừng Bạch dương không tập trung là thực tế bình thường ở Trung Quốc
và chúng ta không biết có bao nhiêu trong tổng số 3,7 triệu ha rừng Bạch
dương được báo cáo trong kiểm kê rừng quốc gia nước này (1998) là rừng mọc
nhanh, và bao nhiêu được phân biệt không phải rừng trồng tập trung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
7
Bảng 1.1: Rừng trồng năng suất cao, chu kỳ ngắn: loài chính và các quốc gia
Loài cây trồng
Tăng
trƣởng
10-20
5-10
±1.550
Trung Quốc, Ấn Độ, Thái
Lan, Việt Nam, Madagaxca,
Mianma
Bạch đàn ôn đới
3
5-18
10-15
1.900
Chilê, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây bắc
Tây Ban Nha, Achentina,
Uruguay, Nam Phi, Úc.
Keo nhiệt đới
4
15-30
7-10
1.400
Indonesia, Trung Quốc,
Malaixia, Việt Nam, Ấn Độ,
Philippin, Thái Lan
Thông caribean
5
8-20
10-18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
8
Nguyên nhân mở rộng diện tích rừng cây gỗ mọc nhanh chỉ thuần tuý là
kinh tế. Rừng cây mọc nhanh có thể sản xuất một khối lượng gỗ nhiều hơn
gấp rưỡi hoặc gấp đôi trên một đơn vị diện tích với chu kỳ ngắn hơn 3 lần so
với các cây gỗ chu kỳ dài (xem bảng 1.2). Vấn đề khối lượng đặc biệt được
quan tâm đối với gỗ nguyên liệu giấy và ván ép. Năng suất càng cao thì giá
thành nguyên liệu càng thấp.
Bảng 1.2: So sánh khối lƣợng gỗ sản xuất ở hai mô hình rừng trồng
Loại rừng
trồng
Diện tích (ha)
Tăng trưởng trung
bình năm (m3/ha/năm)
Luân kỳ (năm)
Gỗ sản xuất
trên ha
Rừng gỗ mọc
nhanh
Aracruz
Celulose S.A
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
9
rừng trồng đồng nhất về kích thước và hình dạng. Điều này dẫn đến chi phí
khai thác rẻ, hiệu quả, chi phí vận chuyển và chế biến thấp…, Tuy nhiên các
nhà đầu tư lớn cũng còn quan tâm đến nhiều nhân tố khác. Rủi ro của vấn đề
đất đai, quan tâm đến sự thiếu hụt cơ sở pháp lý và cơ cấu thương mại cho khả
năng đầu tư. Các nhà khoa học quan tâm đến rừng trồng cây mọc nhanh và tác
động của chúng, các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng trồng cây mọc nhanh là điểm
cuối của cường độ thâm canh. Ngay sau gỗ mọc nhanh, là các rừng trồng với
sự giảm sút về năng suất, đó là các rừng gỗ mềm sản xuất gỗ xẻ với luân kỳ từ
20-30 năm. Phần lớn các rừng trồng có năng suất thuộc loại này chiếm một
diện tích gấp hai đến ba lần diện tích rừng trồng cây mọc nhanh. Chỉ riêng các
bang miền nam Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã có 11,6 triệu ha rừng của 4 loài
Thông thương mại: Pinus taeda, P. echinata, P. palustris và P. ellittii. Niu
Zilân, Chilê, Úc, Tây Ban Nha và Nam Phi đã thiết lập 4,1 triệu ha rừng Pinus
radiata, và Nam Phi, Achentina, và Uruguay có khoảng 1,3 triệu ha rừng Pinus
patula và P. ellittii. Rừng trồng loại này không chỉ có ở vùng ôn đới mà ngay
cả ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Brazin có 400,000 ha rừng Pinus caribbean
và P. ocarpa, và 16 tỉnh Trung Quốc có 8,75 triệu ha rừng trồng Cunninghamia
lanceolata. Ở Brazin, Úc, Dimbabuê và Malawi rừng trồng Pinus ellittii, P.
taeda và P. patula chiếm khoảng 1,7 triệu ha. Các rừng trồng có chu kỳ dài này
không bị các nhóm môi trường phê phán vì lý do thuần loài ở quy mô lớn.
Ngược lại nó được chấp nhận như là phương thức sử dụng đất tốt hơn rừng
trồng cây mọc nhanh. Sự thật là nó có lịch sử canh tác lâu hơn và thường có
vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế địa phương và bằng cách nào đó nó
giải thích tại sao nó được coi là tốt hơn khi phê phán rừng trồng. Việc mở rộng
rừng trồng gỗ mềm có chu kỳ dài đã rất rõ ràng ở các nước phát triển. Đây là
một nguyên nhân chính. Vì chu kỳ dài hàm chứa thời gian đầu tư dài, các nước
phát triển có lợi thế cạnh tranh hơn các nước nghèo, đang phát triển. Trên khía
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
11
đó, hàng trăm triệu người trên khắp hành tinh này dựa vào rừng để tìm kiếm
nguồn gỗ, củi, hoa trái, nhựa, thuốc và các sản phẩm từ rừng khác. Như vậy
theo một nghĩa nào đó, việc trồng rừng là việc làm hoàn toàn có ý nghĩa.
Trong trồng rừng gỗ lớn công nghiệp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật giữ vai trò cốt lõi đem đến sự thành công, đó là:
-Ứng dụng công nghệ sinh học trong lâm nghiệp đã được Haines (1994)
đề cập đến, cụ thể như việc xây dựng và hoàn chỉnh bản đồ gen, công nghệ
đánh dấu tế bào, chuyển gen và vi nhân giống. Những ứng dụng trong việc
sản xuất và nhân giống các loài cây lai là một trong những tiêu điểm của rất
nhiều chương trình trồng rừng. Việc ứng dụng của nhiều kỹ thuật công nghệ
sinh học mang tính phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt trong kỹ thuật nhân
giống vô tính, kỹ thuật này đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều
chương trình (Griffin, 1996, Watt et al, 1997)[30].
-Ứng dụng những tiến bộ trong công nghệ chế biến đã cho phép ngành
công nghiệp chế biến sử dụng những bộ phận rất nhỏ của cây và cả những cây
non, ngoài ra còn cả những loài cây mà trước đó không được trông đợi có thể
sử dụng cho ngành công nghiệp chế biến gỗ.
1.2. Trong nƣớc.
Các nghiên cứu liên quan đến việc chọn loài cây trồng có lịch sử từ khi
loài người biết trồng rừng. Bắt đầu từ những thí nghiệm thăm dò đến các khảo
nghiệm loài và xuất xứ được bố trí một cách nghiêm ngặt theo các nguyên tắc
khoa học để chọn loài thích hợp cho vùng sinh thái và lập địa. Đã có những
nghiên cứu dùng các mô hình toán để tối ưu cơ cấu cây trồng cho vùng. Tại
các nước châu Âu (vùng ôn đới) số loài cây chính dùng trong trồng rừng rất ít,
nên người ta đã nghiên cứu và tìm hiểu mối quan hệ giữa cây và lập địa rất cụ
thể, chi tiết cho từng loài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
(iii) Theo khả năng gây trồng như các yêu cầu sinh thái (ánh sáng, nhiệt độ,
độ ẩm ), và kỹ thuật lâm sinh.
Dựa trên các nhóm chỉ tiêu này, kết hợp với các thông tin thu thập được,
nhóm công tác đã đưa ra một danh sách gồm 80 loài bản địa có triển vọng dự
tuyển cho cơ cấu cây trồng ở Tây Nguyên, trong đó nhóm gỗ lớn gồm 48 loài,
nhóm gỗ nhỏ 10 loài, nhóm đặc sản ngoài gỗ 12 loài và nhóm phù trợ 10 loài.
Chương trình 327 và Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng cũng đã đưa ra một danh
sách các loài trồng rừng. Trần Quang Việt và cộng sự (1997), đã xem xét đánh
giá tập đoàn cây trồng 327 trên các vùng sinh thái trong cả nước và đã thống
kê một danh mục gồm 70 loài được sử dụng trong trồng rừng 327. Theo Hoàng
Hòe và Trần Xuân Tiệp (1999) thì có khoảng 250 loài cây bản địa và nhập nội
đang được sử dụng trồng rừng[2].
Năm 1999 nguyên Phó thủ tướng, nguyên trưởng ban chỉ đạo Nhà nước
dự án trồng mới 5 triệu ha rừng - ông Nguyễn Công Tạn cũng đã khẳng định:
"Các loài cây có phổ thích nghi rộng trên vùng đồi núi, cần được khuyến khích
phát triển trong cả nước ta là các loài tre trúc, các loài thông, các loài bạch đàn
và nhiều loài cây gỗ lớn khác".
Như vậy, phải chăng là bài toán chọn loài cây trồng được nhiều người
quan tâm đã hoàn toàn được giải quyết? Tại sao các chủ dự án trồng rừng vẫn
lúng túng khi phải quyết định: trồng cây gì trên các lập địa cụ thể do mình
quản lý? Một mặt, các thông tin về các thành tựu nghiên cứu bị hạn chế hoặc
rất tản mạn không có điều kiện đến được với những người cần biết.
Từ sau năm 1995, nhất là từ năm 2000 đến nay diện tích rừng trồng đã
tăng khá nhanh. Giai đoạn này chủ yếu là trồng rừng tập trung nhằm cung cấp
gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến bột giấy, ván nhân tạo và một số
ngành công nghiệp khác. Các tiến bộ kỹ thuật về giống cũng như thâm canh
rừng trồng trong giai đoạn này đã được ứng dụng khá rộng rãi ở các mức độ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
32.1
1985
9.038
584
9.622
30.0
1990
8.430
745
9.175
27.8
1995
8.252
1.050
9.302
28.2
2000
9.444
1.471
10.915
33.2
2002
9.865
1.920
11.785
35.8
2003
10.005
2.090
12.095
tiềm năng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích hợp để
phát triển các loài cây lâm nghiệp chiếm từ 70-80%. Đặc biệt, thích hợp để
phát triển các loài cây cung cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp như một số loài
bạch đàn (Eucalyptus) và keo (Acacia). Ngoài ra, vùng Đông Nam Bộ còn
thích hợp để phát triển rừng trồng gỗ lớn với các loài cây như Tếch (Tectona
grandis), Sao (Hopea odorata) và Dầu nước (D. alatus). Khi nghiên cứu xác
định tiêu chuẩn phân chia lập địa cho rừng trồng công nghiệp tại một số vùng
sinh thái ở Việt Nam, Ngô Đình Quế và cộng sự (2001)[19] cũng đã nhận định
có 4 yếu tố chủ đạo ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng sinh trưởng của rừng trồng
công nghiệp, bao gồm: đá mẹ và loại đất; độ dầy tầng đất và tỷ lệ đá lẫn; độ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
16
dốc; thảm thực vật chỉ thị. Khi nghiên cứu đánh giá đất lâm nghiệp cấp xã để
phục vụ trồng rừng, Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2005)[22] cũng đã xây dựng
được bộ tiêu chí và chỉ tiêu để đánh giá gồm 6 tiêu chí với 24 chỉ tiêu về điều
kiện tự nhiên và 5 tiêu chí về điều kiện kinh tế xã hội.
Nghiên cứu trồng rừng Keo lai trên hai loại đất khác nhau ở vùng Đông
Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004)[7] cũng đã chỉ ra rằng mặc dù
được áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như nhau, nhưng trên đất nâu
đỏ Keo lai sinh trưởng tốt hơn trên đất xám phù sa cổ. Khi đánh giá năng suất
rừng trồng bạch đàn E. urophylla trên 3 loại đất khác nhau ở khu vực Tây
Nguyên, Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2004)[25] cũng có nhận xét tương tự,
trên đất xám granit ở An Khê và K’Bang rừng trồng E. urophylla sau 4-5 năm
tuổi có thể đạt từ 20-24m
3
/ha/năm, nhưng trên đất nâu đỏ phát triển trên đá
mác ma acid ở Mang Yang sau 6 năm tuổi chỉ đạt 12m
3
/ha/năm, trên đất đỏ
Để đạt được những thành tựu trên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
kế tiếp nhau hàng chục năm. Trong đó, nổi bật là công trình nghiên cứu của Lê
Đình Khả và các cộng sự từ giai đoạn 1991-1995 (Đề tài cấp Nhà nước
KN03.03) đến giai đoạn 1996-2000 (Đề tài cấp Nhà nước KHCN 08.04)[11].
Các công trình nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
Phù Ninh cũng đã chọn lọc được một số giống bạch đàn uro (E. urophylla),
sau 4-5 năm trồng có thể đạt năng suất từ 20-25m
3
/ha/năm Huỳnh Đức Nhân,
2005[16]. Tương tự như vậy, ở Công ty giống lâm nghiệp và trồng rừng Trung
ương cũng đã khảo nghiệm bạch đàn E. urophylla dòng U6 ở vùng Đông Nam
Bộ sau 7 năm đã đạt tới 25m
3
/ha/năm. Trần Văn Sâm (2003) cũng đã tiến hành
chọn giống Tếch ở Định Quán (Đồng Nai), tác giả đã chọn được 6/27 cây có
cả đường kính (D
1,3
) và chiều cao vút ngọn (Hvn) vượt trội so với các trị số
trung bình của tổng thể từ 2-3 lần độ lệch chuẩn, chiều cao dưới cành ≥50%
chiều cao vút ngọn. Sau 3 năm khảo nghiệm hậu thế bằng cây ghép trên đất
xám granít ở Kon Hà Nừng (Gia Lai) cho thấy khả năng sinh trưởng của chúng
khá tốt (D
00
=11,0cm, Hvn=6,8m). Ngoài ra, công nghệ nhân giống vô tính là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
18
một tiến bộ kỹ thuật mới đã được áp dụng mạnh mẽ trong thời gian vừa qua,
đã góp phần quan trọng cho sự thành công của hoạt động cải thiện giống nói
trên.
19
mòn rửa trôi và thúc đẩy quá trình thoái hoá nhanh hơn. Vì vậy, phải tuỳ thuộc
vào điều kiện đất đai và địa hình cụ thể để xác định phương pháp làm đất thích
hợp.
Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng.
Bón phân cho cây rừng cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật
thâm canh đã được áp dụng trong khoảng 10-15 năm trở lại đây, bón phân
nhằm bổ sung dinh dưỡng cho đất và hỗ trợ cho cây trồng sinh trưởng nhanh
trong giai đoạn đầu. Đặc biệt, bón phân chuồng không những cải thiện hoá tính
mà còn cải thiện được cả lý tính của đất, nổi bật là công trình nghiên cứu bón
phân cho Keo lai ở Cẩm Quỳ (Ba Vì - Hà Tây) của Lê Đình Khả và cộng sự
(1999). Ngày nay do nguồn phân hữu cơ có hạn, để bón cho rừng trồng thông
thường là các loại phân khoáng tổng hợp như NPK, Supe lân hoặc phân vi sinh
hữu cơ,… và thường được dùng để bón lót và bón thúc cho rừng trồng trong từ
1 đến 2 năm đầu, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu nổi bật nhất
trong thời gian gần đây như công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm
(2001)[24], tác giả đã bố trí 14 công thức bón khác nhau cho Keo lai trồng trên
đất phù sa cổ ở Đông Nam Bộ, sau 2 năm tuổi kết quả cho thấy Keo lai sinh
trưởng tốt nhất ở những công thức bón từ 150 - 200g NPK kết hợp với 100g
phân vi sinh, trữ lượng cây đứng có thể đạt tới 26m
3
/ha/năm. Tiếp theo là công
trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Hải (2003) đã bố trí 8 công thức thí nghiệm
bón lót khác nhau cho 3 giống Thông caribê (P. caribbean var bahamensis-
1167; P. caribbean var hondurensis-1160 và P. caribbean var hondurensis -
giống Đại Lải) trên đất nghèo xấu ở Cẩm Quỳ (Ba Vì - Hà Tây), kết quả thí
nghiệm cho thấy sau từ 14 đến 36 tháng tuổi cả 3 giống thông trên đều sinh
trưởng tốt ở công thức bón 200g P
2
0
thống nhất rằng phân bón có ảnh hưởng khá rõ đến sinh trưởng của các loài
cây trồng, nhất là các loài cây trồng rừng nguyên liệu công nghiệp. Tuy nhiên,
mỗi loài cây trên mỗi dạng lập địa có nhu cầu phân bón rất khác nhau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
21
Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2006)[26] đã kế thừa các kết quả nghiên
cứu và bổ sung một số giải pháp trong nghiên cứu các giải pháp khoa học công
nghệ để phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu (KC.06.05.NN). Những
nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc xác định một số biện pháp kỹ thuật
thâm canh làm nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Kết quả đã cho
thấy hiệu quả tác động là tích cực, năng suất rừng trồng đều đạt trên 25 m
3
/ ha,
có nơi như Bầu Bàng - Bình Dương năng suất tới 36-40 m
3
/ha.
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất rừng trồng.
Mật độ là yếu tố quyết định năng suất của rừng trồng, mật độ quá cao sẽ
ảnh hưởng xấu tới khả năng sinh trưởng của cây trồng, nhưng mật độ quá thấp
sẽ lãng phí đất và phải tốn công chăm sóc, diệt cỏ dại. Hơn nữa, mật độ thấp
cành nhánh phát triển mạnh sẽ ảnh hưởng đến chất lượng gỗ nguyên liệu. Mật
độ trồng ban đầu như thế nào có hiệu quả nhất? Vấn đề này phải tuỳ thuộc vào
mục đích trồng rừng, đồng thời tuỳ thuộc vào điều kiện lập địa nơi gây trồng.
Tuy nhiên, vấn đề này ở trong nước còn rất ít các công trình nghiên cứu, theo
kinh nghiệm ở một số công ty trồng rừng nguyên liệu hiện nay thường trồng từ
1660-2500cây/ha đối với các loài cây mọc nhanh và trung bình. Mật độ này đã
phải là tối ưu chưa? Câu hỏi này vẫn chưa được trả lời một cách có cơ sở khoa
học. Khi đánh giá năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm
Thế Dũng và cộng sự (2004)[5] đã khảo sát trên 4 mô hình có mật độ trồng
Đình Hanh (1965), Nguyễn Hiếu Liêm (1968)[13], Trần Kiểm (1974), Trần
Ngọc Đang (1975),
Từ năm 1990 đến nay, những công trình nghiên cứu về thành phần sâu
bệnh hại đã được quan tâm rộng hơn và có hệ thống hơn, nổi bật là công trình
nghiên cứu sâu bệnh hại rừng trồng vùng Đông Bắc của Hà Văn Hoạch
(1996)[10], công trình nghiên cứu sâu bệnh hại rừng trồng trên 8 vùng sinh
thái lớn của Nguyễn Văn Bích (1996),… Về phương pháp phòng trừ từ năm
1980 đến nay đã có nhiều tiến bộ, từ chỗ chỉ sử dụng biện pháp hoá học để
phòng trừ, dần dần đã áp dụng nhiều biện pháp khác mang tính bền vững và
giảm thiểu ô nhiễm môi trường như biện pháp sinh học, biện pháp phòng trừ
tổng hợp. Điển hình cho biện pháp sinh học là công trình nghiên cứu sử dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
23
ong mắt đỏ của Phạm Ngọc Anh (1983) và công trình nghiên cứu sử dụng nấm
bạch cương (Beauveria bassiana) của Trần Văn Mão (1984) để diệt sâu róm
thông. Sử dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM- Integrated Pest
Management) nổi bật là công trình nghiên cứu bệnh thối nhũn cây con một số
loài thông trong giai đoạn vườn ươm và biện pháp phòng trừ của Phạm Văn
Mạch (1993), công trình nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu đục nõn hại cây
Lát hoa ở một số tỉnh miền Bắc của Nguyễn Văn Độ (2004)[9] và công trình
nghiên cứu phòng trừ bệnh khô héo Thông ba lá ở Lâm Đồng của Phạm Quang
Thu (2004)[27]. Đặc biệt công trình nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa và
cộng sự (2002)[15] đã chọn được 2 giống bạch đàn kháng bệnh (SM23, SM16)
và đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật, đó là hướng nghiên cứu hoàn
toàn mới ở nước ta và rất có triển vọng trong những năm tới.
1.2.3. Vấn đề phân loại lập địa trồng rừng:
Để phân loại và hệ thống hóa lập địa trồng rừng, việc đầu tiên là phải
xác định được các đơn vị lập địa cơ bản. Đơn vị lập địa cơ bản được định
nghĩa trên cơ sở phân tích các luận điểm khoa học tự nhiên, chủ yếu là khoa