giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã bắc kạn tỉnh bắc kạn - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ®¹i häc th¸i nguyªn
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH


NGUYỄN TUẤN KHANH

GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở THỊ XÃ BẮC KẠN,
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ THÁI NGUYÊN - 2011

nhiều mặt hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm,
chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn.
Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển mạnh sản xuất hàng hóa. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô
nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Ðời sống
vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao,
nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo
giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã
hội bức xúc.
Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan,
trong đó nguyên nhân chủ quan là chính: nhận thức về vị trí, vai trò của nông
nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; chưa hình thành
một cách có hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông
dân, nông thôn; cơ chế, chính sách phát triển các lĩnh vực này thiếu đồng bộ,
thiếu tính đột phá; một số chủ trương, chính sách không hợp lý, thiếu tính khả
thi nhưng chậm được điều chỉnh, bổ sung kịp thời; đầu tư từ ngân sách nhà
nước và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn
thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; tổ chức chỉ đạo thực hiện và công tác
quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, yếu kém; vai trò của các cấp ủy, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong việc triển khai các
chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn ở nhiều nơi còn hạn chế.
Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được và những tồn tại, yếu kém cần
khắc phục, nhằm xây dựng nông nghiệp, nông thôn theo đúng mục tiêu, định
hướng của Đảng đã đề ra. Tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm

khách quan và có tính cấp thiết. Xuất phát từ thực tế khách quan trên, tôi chọn
đề tài: "Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở thị xã Bắc
Kạn, tỉnh Bắc Kạn", là yêu cầu đặt ra mang tính cấp thiết.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu cơ sở khoa học và đánh giá thực trang tình hình nông thôn ở
thị xã Bắc Kạn, từ đó đề xuất những giải pháp khoa học nhằm xây dựng nông
thôn mới ở thị xã Bắc Kạn góp phần thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu mà tỉnh
đề ra về xây dựng nông thôn mới đến năm 2020.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới.
Đánh giá thực trạng tình hình nông thôn so với hệ thống tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới ở thị xã Bắc Kạn. Phân tích những điểm mạnh, những
khó khăn trở ngại và những tiềm năng trong xây dựng nông thôn mới ở thị xã
Bắc Kạn.
Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới thành công,
phù hợp với điều kiện thực tiễn của thị xã Bắc Kạn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giải pháp về xây dựng nông thôn
mới ở các xã thuộc khu vực nông thôn ở thị xã Bắc Kạn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn thị xã Bắc
Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
* Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu đã công
bố từ năm 2008 đến nay. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI
1.1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.1. Nông thôn và vai trò của nông thôn
* Khái niệm về nông thôn:
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nông thôn. Có quan điểm
cho rằng nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất
nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Cũng có quan điểm cho rằng dựa vào trình
độ phát triển cơ sở hạ tầng hoặc dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường
để xác định vùng nông thôn.
Theo Từ điển tiếng việt: Nông thôn là danh từ để chỉ khu vực dân cư tập
trung chủ yếu làm nghề nông, phân biệt với thành thị.
Cũng có từ điển khái niệm nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những
vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó người dân sinh sống chủ yếu bằng
nông nghiệp.
Khái niệm về nông thôn trong văn bản chính thức của Bộ Nông nghiệp
và PTNT tại thông tư Số: 54/2009/TT-BNNPTNT thì: Nông thôn là phần lãnh
thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý
bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã.

văn hoá và môi trường; quá trình này, trước hết là do nỗ lực từ chính người
dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác.
* Vai trò của nông thôn và phát triển nông thôn
Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của
người dân; cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu; cung cấp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
hàng hóa cho xuất khẩu; cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị; thị
trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ.
Phát triển nông thôn sẽ góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng không thể
thiếu bảo đảm thắng lợi cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phát triển nông thôn sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa tại chỗ. Các hoạt động ở nông thôn trở nên sôi động
hơn. Cơ cấu kinh tế, phân công lao động chuyển dịch đúng hướng có hiệu
quả. Vấn đề việc làm cho người lao động sẽ được gia tăng ngày càng nhiều
trên địa bàn nông thôn. Trên cơ sở đó, tăng thu nhập, cải thiện từng bước đời
sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; giảm sức ép của sự chênh
lệch kinh tế và đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng phát triển và
vùng kém phát triển.
Phát triển nông thôn sẽ góp phần to lớn trong việc bảo vệ và sử dụng tiết
kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái; Sẽ tạo
cơ sở vật chất cho sự phát triển văn hóa ở nông thôn.
Phát triển nông thôn sẽ góp phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa
xã hội ở nông thôn nói riêng và đất nước nói chung; Là cơ sở ổn định kinh tế,
chính trị, xã hội của đất nước. Phát triển nông thôn gắn liền với phát triển xã
hội, văn hóa, chính trị và kiến trúc thượng tầng theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Một nông thôn có kinh tế và văn hóa phát triển, đời sống ấm no, đầy đủ
về vật chất, yên vui về tinh thần sẽ là một nhân tố quyết định củng cố vững
chắc trận địa lòng dân, thắt chặt mối liên minh công - nông, bảo đảm cho

chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.
Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng
bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong mối
quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ
thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ
sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát
triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai,
rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc
tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy
cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng
nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông
thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân.
Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước,
tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn
định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân
tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới,
nâng cao đời sống nông dân.
Thứ hai: Về mục tiêu
Mục tiêu tổng quát

là hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa 2
vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp, cấp thóat nước chủ
động cho diện tích nuôi trồng thủy sản, làm muối; đảm bảo giao thông thông
suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô-tô tới các thôn, bản; xây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
dựng cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và hạ tầng nghề cá; cấp điện sinh hoạt
cho hầu hết dân cư, các cơ sở công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; đảm bảo
cơ bản điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao ở hầu
hết các vùng nông thôn tiến gần tới mức các đô thị trung bình.
Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả,
bền vững công cuộc xoá đói, giảm nghèo; nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế
chính trị của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và
hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, hòan chỉnh hệ
thống đê sông, đê biển và rừng phòng hộ ven biển, hệ thống cơ sở hạ tầng
giao thông, thủy lợi, cụm dân cư đáp ứng yêu cầu phòng chống bão, lũ, ngăn
mặn và chống nước biển dâng; tạo điều kiện sống an toàn cho nhân dân đồng
bằng sông Cửu Long, miền Trung và các vùng thường xuyên bị bão, lũ, thiên
tai; chủ động triển khai một bước các biện pháp thích ứng và đối phó với biến
đổi khí hậu toàn cầu. Ngăn chặn, xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường, từng
bước nâng cao chất lượng môi trường nông thôn.
* Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Nông thôn hiện nay phát triển thiếu quy hoạch, mang tính tự phát: Quy
hoạch dân cư nông thôn đến nay mới có khoảng 23% trên tổng số xã có quy
hoạch. Thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết sử dụng đất cho từng
lĩnh vực như: sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; quy hoạch
phát triển hạ tầng kinh tế xã hội. Không có quy định, quy chế quản lý phát
triển theo quy hoạch. Nông thôn xây dựng phát, kiến trức, cảnh quan làng

Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mực tiêu quốc
gia về xây dựng nông thôn mới, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn
đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới.
Là căn cứ để chỉ đạo, đánh giá kết quả thực hiện xây dựng Nông thôn
mới của các địa phương trong từng thời kỳ; Đánh giá công nhận xã, huyện,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
tỉnh đạt NTM; Đánh giá trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền xã
trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
* Nội dung của Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng
4 năm 2009 về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Theo
bộ tiêu chí chỉ tiêu quốc gia bộ tiêu chí có 3 cấp độ: xã nông thôn mới,
huyện nông thôn mới và tỉnh nông thôn mới, trong đó xã nông thôn mới có
19 tiêu chí cụ thể, còn đối với huyện nông thôn mới căn cứ vào tỷ lệ số xã
thuộc huyện đạt nông thôn mới (75% số xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới)
và tỉnh nông thôn mới căn cứ vào tỷ lệ số huyện thuộc tỉnh đạt nông thôn
mới (80% số huyện đạt tiêu chí nông thôn mới). 19 tiêu chí xây dựng nông
thôn mới bao gồm:
Nhóm tiêu chí về quy hoạch có 01 tiêu chí:
Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch bao gồm: Quy hoạch sử
dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa,
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh
tế - xã hội – môi trường theo chuẩn mới; Quy hoạch phát triển các khu dân cư
mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn
được bản sắc văn hóa tốt đẹp.
Nhóm tiêu chí về hạ tầng Kinh tế - Xã hội có 08 tiêu chí:
Tiêu chí Giao thông bao gồm: Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được
nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT; tỷ lệ

sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học
nghề); Tỷ lệ lao động qua đào tạo.
Tiêu chí về y tế bao gồm: Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo
hiểm y tế; Y tế xã đạt chuẩn quốc gia.
Tiêu chí về văn hóa: Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn
làng văn hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Tiêu chí về môi trường bao gồm: Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp
vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia; Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi
trường; không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động
phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; Nghĩa trang được xây dựng theo quy
hoạch; Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định.
Nhóm tiêu chí hệ thống chính trị gồm 02 tiêu chí:
Tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh bao gồm: Cán bộ
xã đạt chuẩn; Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định;
Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; Các tổ
chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên.
Tiêu chí an ninh, trật tự xã hội: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững.
(Chi tiết theo phụ lục số 01)
1.1.2. Kinh nghiệm phát triển nông thôn trên thế giới và xây dựng
nông thôn mới ở Việt Nam
1.1.2.1. Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở một số nước trên thế giới
* Trung Quốc
Tháng 3/2006 Trung ương Đảng cộng sản và Quốc vụ viện (Chính phủ)
Trung Quốc công bố Bản “tài liệu số 1” Trung Quốc quyết tâm giải quyết vấn
đề nông thôn; chủ trương xây dựng “Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” là
nhiệm vụ chính của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010. Tài liệu này đề cập những
chiến lược cơ bản trong đó chú trọng đến “Điều chỉnh mối quan hệ trong phân

Đây không phải là xây dựng làng xã mới. Phải chú ý đến hiệu quả và hệ
quả trước mắt hơn là vào bề ngoài. Phải sử dụng sự thương lượng dân chủ
hơn là dùng chỉ thị. Nông thôn phải phát triển tùy theo khả năng và đặc điểm
bản thân, Nhà nước chỉ hỗ trợ bằng dự án.
Tài liệu này đưa ra 7 nhiệm vụ chính để tăng lợi nhuận cho nông dân,
giảm gánh nặng cho họ và cụ thể hóa nhiệm vụ, chiến lược đề ra thành 32
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
biện pháp có lợi cho nông dân trong đó có phát triển nông nghiệp hiện đại,
tăng thu nhập của nông dân và cải tiến cơ sở hạ tầng nông thôn. Sau đây là
tóm tắt nội dung các biện pháp:
Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp: Ngân sách cho phát triển
nông thôn tăng lên. Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy
phát triển nông thôn. Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh để
cho việc tiêu thụ thuế, đầu tư ngân sách, tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng
cho nông nghiệp và nông thôn. Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục.
Phần lớn trái phiếu, vốn ngân sách sẽ đi về phát triển nông thôn. Đặc biệt đầu
tư để cải tiến sản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để
tăng vốn cho xây dựng.
Cơ sở hạ tầng: Thuế vào việc sử dụng đất canh tác sẽ tăng lên và nhiều
thứ thuế mới sẽ được áp dụng trong phát triển nông thôn. Sẽ có các quy định
để đảm bảo, điều tiết thu nhập thuế đất cho việc phát triển đất nông nghiệp.
Phí thu từ sử dụng đất sẽ được dùng chủ yếu vào các dự án phát triển đất nông
nghiệp nhỏ và bảo vệ nước. Chính phủ sẽ ưu tiên xây dựng các cơ sở hạ tầng
cần cấp thiết cho đời sống nông dân. Chương trình nước sạch sẽ được thực
hiện nhanh hơn, trước hết ở các vùng nước bị ô nhiễm. Năng lượng sạch sẽ
được áp dụng rộng rãi.
* Hàn Quốc
Vào những năm 1960, nông thôn Hàn Quốc còn hết sức lạc hậu, đời

1976
Nhóm làng tích cực
6,7%
4,7%
Nhóm trung bình
40,2%
54,4%
Nhóm cơ bản
53,1%
0,9 %

Để thực hiện có hiệu quả quá trình hỗ trợ cho các làng, dự án Nông
thôn mới chú trọng đến nhân tố con người. Trình độ văn hoá của người dân
nông thôn rất thấp cho nên việc phổ biến chính sách gặp phải không ít khó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
khăn. Để khắc phục hạn chế này, dự án chú trọng vào việc phát triển đội ngũ
cán bộ cấp làng, cán bộ chính quyền địa phương.
Trước khi tiến hành hỗ trợ vào các làng, cán bộ dự án sẽ tiến hành các
điều tra xã hội học đối với ba nhóm đối tượng là: Cán bộ địa phương, cán bộ
làng và người dân. Các điều tra này cho phép cán bộ dự án biết đựơc đích xác
nhu cầu hiện tại của các làng, suy nghĩ và trình độ nhận thức của lãnh đạo làng.
Dự án tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo cán bộ cấp làng và chính quyền
địa phương. Tại các lớp tập huấn, sẽ có các buổi thảo luận nhóm với chủ đề:
“Làm thế nào để người dân hiểu và thực hiện các chính sách của nhà nước?”.
Với chủ đề này, lãnh đạo làng và chính quyền địa phưong tham gia các lớp tập
huấn sẽ đưa ra những ý kiến, giải pháp cho hoàn cảnh cụ thể của làng mình.
Để sự tham gia của người dân chủ động và hiệu quả, các cán bộ làng sẽ
thực hiện quá trình trao đổi ý kiến với dân làng, tiếp thu ý kiến của nhân dân

hộ gia đình. Với đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của mình, Nhật Bản đã đề ra
một chiến lược hiệu quả là tăng năng suất nông nghiệp quy mô nhỏ (bằng
cách thâm canh tăng năng suất trên đơn vị diện tích và trên đơn vị lao động),
vì vậy nông nghiệp Nhật Bản đã cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho
nhu cầu của nhân dân; tạo khả năng tích lũy và phát huy nội lực; thâm canh
tăng năng suất; xuất khẩu nông, lâm sản, nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ
công nghiệp hóa, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn, gắn nông thôn với
công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị. Những bước đi thích hợp là những
điều kiện quan trọng đã đưa nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản theo hướng
hiện đại hóa.
Để tạo cơ sở thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng và phát huy tác dụng
máy móc, thiết bị và hóa chất trong quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa nông
nghiệp, tạo năng suất lao động cao, Nhật Bản đã chú trọng phát triển, xây
dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc
hoàn chỉnh, phân bổ các ngành công nghiệp chế biến dùng nguyên liệu nông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
nghiệp (như tơ tằm, dệt may ), các ngành cơ khí, hóa chất trên địa bàn nông
thôn toàn quốc đã tạo việc làm cho lao động nông thôn, ngăn chặn làn sóng
lao động rời bỏ nông thôn ra thành thị. Chính phủ Nhật Bản thường xuyên có
chính sách trợ giá nông sản cho các vùng nông nghiệp mũi nhọn.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững và hiện đại hóa,
Nhật Bản thực hiện chính sách lấy nông nghiệp làm nền tảng ổn định xã hội
và tích lũy cho công nghiệp, thu hút vốn đầu tư, phát triển công nghiệp hướng
vào xuất khẩu làm tăng nhanh tiềm lực kinh tế đất nước. Chiến lược phát
triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững
của Nhật Bản là bài học kinh nghiệm để chúng ta tham khảo và học tập.
Từ năm 1979, Nhật Bản đã khởi xướng và phát triển phong trào "Mỗi
làng, một sản phẩm" với mục tiêu phát triển vùng nông thôn. Phong trào "mỗi

yếu tạo tăng trưởng nông nghiệp, thu nhập cho nông dân. Xuất hiện ngày
càng nhiều gia trại, trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và kinh doanh tổng hợp đạt
hiệu quả kinh tế cao. Tổ hợp tác phát triển nhanh, hoạt động đa dạng, phù hợp
với trình độ của nông dân ở nhiều vùng; các HTX nông nghiệp chuyển đổi và
thành lập mới theo Luật, thực hiện tốt hơn vai trò hỗ trợ kinh tế hộ. Doanh
nghiệp nông thôn được phát triển với nhiều thành phần kinh tế tham gia.
Hai là: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường,
nhất là thuỷ lợi, giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước
làm thay đổi bộ mặt nông thôn:
Thuỷ lợi tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát triển theo hướng đa mục
tiêu. Từ năm 2000 đến nay, năng lực tưới tăng thêm 575 ngàn ha, tiêu 235
ngàn ha, đảm bảo tưới tiêu chủ động cho 83% diện tích gieo trồng lúa, một số
cây trồng khác và cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ. Hệ thống
đê sông, đê biển được củng cố, nâng cấp một bước, nhiều công trình tiêu
thoát lũ và trên 1.100 cụm tuyến dân cư ở ĐBSCL được xây dựng và phát
huy tác dụng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24
Hệ thống giao thông, điện, kết cấu hạ tầng xã hội ở nông thôn có bước
phát triển nhanh về số lượng. Đến nay, 96,9% số xã có đường ô tô đến khu
trung tâm; 96,8% số xã và 93,3% số hộ có điện lưới quốc gia; 100% xã có
điện thoại cố định; hầu hết các xã đều có trường học, trạm y tế, trong đó hơn
40% số trường học được kiên cố hoá, 45% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế;
70% cư dân nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% số huyện có
Trung tâm văn hoá, thể thao; 38,6% số xã, 36% số thôn có nhà văn hoá.
Ba là: Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi
mới, phát triển đa dạng, đã huy động và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn
lực ở nông thôn, cư dân ở nông thôn có thêm việc làm, thu nhập được nâng cao.
Kinh tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, góp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status