Đề án môn học 1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 7/11/2006 Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương
mại thế giới WTO. Có thể nói đây là mốc đánh dấu sự thay đổi lớn trong tiến trình
phát triển nền kinh tế của Việt Nam. Bên cạnh sự kiện này, sự phát triển, mở rộng
theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa của nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều cơ
hội lớn cho các cá nhân, tổ chức kinh tế tại Việt Nam, đồng thời thì việc phải đối mặt
với những rủi ro thách thức là điều không thể tránh khỏi. Sự hình thành và lớn mạnh
của các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong một môi trường kinh doanh nhiều rủi
ro tạo nên nhiều kênh thông tin tài chính khác nhau. Những người sử dụng thông tin
tài chính để đánh giá tình hình kinh doanh của các tổ chức kinh tế ngày càng nhiều và
đa dạng. Yêu cầu về tính chính xác và kịp thời của những thông tin tài chính cũng
ngày càng tăng. Trong xu thế phát triển tất yếu đó có thể nói rằng, dịch vụ kiểm toán
là dịch vụ có uy tín hàng đầu trong việc thẩm định thông tin tài chính doanh nghiệp.
Những người quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp coi báo cáo kiểm toán là
ý kiến cuối cùng trong việc thẩm định, xác minh tính trung thực, hợp lý của các báo
cáo tài chính.
Tuy nhiên, sự phức tạp của môi trường kinh doanh, yêu cầu đòi hỏi ngày càng
cao trong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán trong thời gian vừa qua, đã đặt ra nhiều
thử thách đối với các công ty kiểm toán. Thực tế cho thấy rằng, đã có nhiều tranh
chấp xảy ra giữa công ty kiểm toán với khách hàng hay những với người sử dụng báo
cáo kiểm toán của kiểm toán viên để ra quyết định. Nói một cách khác, khi đó dịch
vụ kiểm toán đã không cung cấp được dịch vụ có chất lượng trong việc thẩm định
thông tin tài chính doanh nghiệp. Điều này dẫn tới làm giảm uy tín của công ty kiểm
toán và gây thiệt hại đối với những người sử dụng báo cáo kiểm toán.
Bất cứ nghành nào cũng chứa đựng những yếu tố rủi ro, không mong muốn.
Hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó. Chính vì vậy
việc nghiên cứu các yếu tố rủi ro trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính
nói riêng là việc không thể thiếu trong bất kỳ cuộc kiểm toán nào. Với tầm quan
Phạm Thị Hương Giang Kiểm toán 46B
Đề án môn học 2
của mình. Nói một cách khác, rủi ro kiểm toán chính là khả năng kiểm toán viên đưa
ra ý kiến không phù hợp về các báo cáo tài chính do các báo cáo tài chính này vẫn
chứa đựng những sai sót trọng yếu.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) về Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ: “Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để có thể lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và
chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả. Kiểm toán viên phải sử dụng khả
năng xét đoán chuyên môn của mình để đánh giá rủi ro kiểm toán và xác định các thủ
tục kiểm toán nhằm giảm rủi ro kiểm toán thấp xuống tới mức có thể chấp nhận
Phạm Thị Hương Giang Kiểm toán 46B
Đề án môn học 4
được”. Như vậy, công việc đánh giá rủi ro kiểm toán không chỉ là việc cần thiết trong
kiểm toán tài chính nói riêng và kiểm toán nói chung mà đây còn là quy định, công
việc bắt buộc phải thực hiện trong khi lập kế hoạch kiểm toán.
Việc đánh giá rủi ro kiểm toán sẽ giúp cho kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến
một cách xác đáng về các thông tin trên các báo cáo tài chính. Sở dĩ rủi ro kiểm toán
là vấn đề mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán đều phải đối mặt là do một số
nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do phạm vi của đối tượng kiểm toán tài chính rất rộng. Đó là toàn bộ
các yếu tố liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách thể kiểm toán.
Chính vì thế, phương pháp mà kiểm toán viên sử dụng chủ yếu để thu thập bằng
chứng trong kiểm toán tài chính là phương pháp chọn mẫu. Quá trình này thông qua
việc lựa chọn một số mẫu và dựa trên kết quả đánh giá những mẫu được chọn đó để
đưa ra kết luận cho toàn bộ tổng thể. Do vậy mà luôn có khả năng đưa ra kết luận sai
do mẫu được chọn không phải là mẫu đại diện.
Thứ hai, bất kỳ cuộc kiểm toán tài chính nào cũng bị giới hạn bởi các yếu tố
như thời gian, chi phí, giới hạn vè nguồn lực, quản lý hay giới hạn từ phía khách thể
kiểm toán. Kiểm toán viên và công ty kiểm toán không thể kiểm tra toàn diện trên tất
cả các khoản mục, nghiệp vụ và chu trình liên quan đến đối tượng kiểm toán.
Thứ ba, rủi ro kiểm toán liên quan đến rủi ro kinh doanh. Các doanh nghiệp đều
và công ty kiểm toán không phát hiện được các sai sót trọng yếu trong các báo cáo tài
chính do áp dụng sai các thủ tục kiểm toán.
Trong ba loại hình rủi ro kiểm toán trên, kiểm toán viên không tạo ra và cũng
không thể kiểm soát được mà chỉ có thể đánh giá đối với rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát.
Phạm Thị Hương Giang Kiểm toán 46B
Đề án môn học 6
1.2.2. Mô hình rủi ro kiểm toán
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán luôn mong muốn đạt được mức rủi ro
kiểm toán thấp. Vậy thì làm thế nào để có thể đạt được mức rủi ro kiểm toán mong
muốn trong khi không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát? Trên thực
tế, kiểm toán viên vẫn có thể giảm được rủi ro kiểm toán dựa trên đánh giá hai loại
rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, sau đó điều chỉnh rủi ro phát hiện. Mối quan hệ
giữa ba loại hình rủi ro này được thể hiện qua phương trình sau, được gọi là mô hình
rủi ro kiểm toán:
AR = IR x CR x DR
Dựa vào mô hình trên ta có:
DR = AR/(IR x CR)
Như vây, rủi ro phát hiện phụ thuộc vào rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.
Việc đánh giá rủi ro phát hiện sẽ được thực hiện sau khi kiểm toán viên đánh giá rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Mô hình rủi ro cũng cho thấy yêu cầu ban đầu về
việc thu thập các bằng chứng kiểm toán. Cụ thể, để đạt mức rủi ro kiểm toán mong
muốn, nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá càng cao thì mức rủi ro
phát hiện càng thấp, khi đó số lượng bằng chứng cần kiểm toán viên thu thập sẽ giảm
đi. Ngược lại, nếu rủi ro phát hiện càng cao thì kiểm toán viên càng cần phải thu thập
nhiều bằng chứng hơn.
Hạn chế của việc sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán
Có hai hạn chế trong việc sử dụng mô hình đánh giá rủi ro kiểm toán. Một là,
dù kiểm toán viên có nỗ lực cao nhất trong việc lập kế hoạch, những đánh giá về rủi
ro kiểm toán mong muốn và rủi ro kiểm soát vẫn có tính chủ quan cao và chỉ xấp xỉ
kiểm toán viên cần phải kết luận là có những sai sót có thể chấp nhận được đối với
từng loại rủi ro kiểm toán, và cần có phương pháp ước lượng gần đúng khác để đánh
giá lại.
1.3. Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và trọng yếu
Trọng yếu là khái niệm chung chỉ rõ tầm cỡ và tính hệ trọng của phần nội dung
cơ bản có ảnh hưởng tới tính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đối tượng kiểm
toán trong việc sử dụng thông tin đã đánh giá để đưa ra kết luận. Theo Chuẩn mực
Phạm Thị Hương Giang Kiểm toán 46B
Đề án môn học 8
Kiểm toán Việt Nam số 320 (VSA 320): “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện
tầm quan trọng của thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính.” Như vậy,
muốn xác định được khả năng xảy ra những sai sót mang tính chất trọng yếu, kiểm
toán viên phải đánh giá được mức trọng yếu.
Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro được thể hiện rất rõ trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán nhằm đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và xác định những
vùng kiểm toán trọng yếu, xác định mức trọng yếu cho từng mục tiêu kiểm toán, khả
năng có những sai sót cho từng khoản mục.
Trong một cuộc kiểm toán tài chính, mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có quan
hệ tỷ lệ nghịch. Việc đánh giá rủi ro kiểm toán vì thế có quan hệ chặt chẽ trong việc
xác định mức trọng yếu. Mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và
ngược lại, mức trọng yếu càng thấp thì rủi ro kiểm toán càng cao. Trên cơ sở đó,
kiểm toán viên sẽ xác định được nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm
toán thích hợp nhằm đạt được mức rủi ro kiểm toán mong muốn.
* *
*
Tóm lại, có thể khẳng định lại rằng, đánh giá rủi ro kiểm toán là công việc
không thể thiếu trong bất kỳ một cuộc kiểm toán tài chính nào. Với tầm quan trọng
như vậy, việc đặt ra một quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán có hiệu quả là rất cần
thiết. Vậy công tác đánh giá rủi ro kiểm toán được dựa trên những yếu tố nào? Dựa
trên những kiến thức đã được học cùng nghiên cứu những tài liệu thu thập được, sau
Phạm Thị Hương Giang Kiểm toán 46B
Đề án môn học 10
2.1. Đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn
Cũng tương tự như xác định mức rủi ro kiểm toán, muốn đánh giá rủi ro kiểm
toán mong muốn, kiểm toán viên cũng cần phải dựa vào đánh giá ba loại hình rủi ro:
rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện.
Rủi ro kiểm toán mong muốn, hay rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được được
đánh giá dựa trên ước lượng ban đầu của kiểm toán viên về mức độ tin cậy của các
báo cáo tài chính sẽ được kiểm toán. Như vậy, nếu mức độ tin cậy càng cao thì rủi ro
kiểm toán mong muốn càng được xác định thấp. Việc đánh giá rủi ro này phụ thuộc
rất lớn vào xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên. Một yếu tố quan trọng khi đánh
giá rủi ro kiểm toán mong muốn là mức rủi ro phát hiện mong muốn. Rủi ro phát hiện
mong muốn được xác định dựa trên một mức rủi ro kiểm toán, rủi ro tiềm tàng và rủi
ro kiểm soát cụ thể. Nếu rủi ro kiểm toán mong muốn, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát càng thấp thì mức rủi ro phát hiện mong muốn càng cao.
Các yếu tố mà kiểm toán viên cần xem xét khi xác định mức rủi ro kiểm toán
mong muốn là: quy mô khách hàng, sự phân phối quyền sở hữu, bản chất và quy mô
của công nợ, khả năng tiếp tục hoạt động về mặt tài chính của công ty khách hàng
sau khi báo cáo kiểm toán được công bố. Ngoài ra, kiểm toán viên cũng cần cân nhắc
các yếu tố như chi phí kiểm toán, trình độ nghiệp vụ của kiểm toán viên, các giới hạn
có thể có từ phía công ty khách hàng,…
Tuy nhiên, do rủi ro kiểm toán phụ thuộc vào ba loại hình rủi ro kiểm toán khác,
và ba loại hình rủi ro này trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên có thể sẽ phải
thay đổi để phù hợp với những đánh giá của kiểm toán viên nhất, nên mức rủi ro
kiểm toán mong muốn có thể sẽ thay đổi theo.
2.2. Đánh giá rủi ro tiềm tàng
Đánh giá rủi ro tiềm tàng là bước công việc thứ hai trong quá trình đánh giá rủi
ro kiểm toán, sau khi xác định được mức rủi ro kiểm toán mong muốn. Đây là một
thành phần trong rủi ro kiểm toán đối với các báo cáo tài chính chưa được kiểm toán.
Rủi ro tiềm tàng là rủi ro cố hữu tồn tại trong các báo cáo tài chính nói chung
khả năng mà các nhà lãnh đạo phải chịu áp lực công việc cao như phải hoàn thành
mục tiêu tăng doanh thu trong kỳ do cấp trên giao phó, cũng như việc các nhân viên
Phạm Thị Hương Giang Kiểm toán 46B
Đề án môn học 12
trong doanh nghiệp chịu sự quản lý quá cứng nhắc của nhà lãnh đạo như: Kế toán
trưởng là người chịu trách nhiệm lập báo cáo tài chính, nếu có những áp lực bất
thường từ Ban Giám đốc thì đây là hoàn cảnh thúc đẩy cho việc trình bày báo cáo tài
chính không đúng sự thật; hay việc bắt buộc phải tăng doanh thu trong kỳ trong khi
các yếu tố kinh doanh không thuận lợi, bắt buộc phải thực hiện một mục tiêu kinh
doanh, chính sách, quy định khác không phù hợp vơi đặc điểm hoạt động của bộ
phận mình. Những yếu tố này dẫn tới việc khả năng sai phạm dễ xảy ra.
Yếu tố tiếp theo mà kiểm toán viên cần chú ý đó là động cơ của khách hàng.
Trong một số tình huống, Ban quản trị có thể tin rằng sẽ có lợi nếu báo cáo sai như
nhận được tiền thưởng theo tỷ lệ lợi nhuận trong kỳ, và do đó có thể có xu hướng
khai khống, khai tăng lợi nhuận. Tương tự, nếu có quy định về trái khoán ghi rõ là tỷ
lệ thanh toán hiện hành phải ở trên một mức tối thiểu nào đó, thì khách hàng sẽ có thể
cố gắng báo cáo dư tài sản hiện có hoặc khai giảm, khai thiếu nợ ngắn hạn để có thể
thỏa mãn quy định đó. Tương tự, có thể có động cơ rõ ràng rằng Ban quản trị muốn
giảm bớt số thuế phải nộp, và nếu vậy, sẽ cần báo cáo thiếu lợi nhuần thuần trước
thuế.
Việc tìm hiểu kết quả của các lần kiểm toán trước cũng rất quan trọng. Những
sai số được tìm thấy trong những lần kiểm toán trước có khả năng sẽ lại tiếp tục xuất
hiện trong lần kiểm toán năm nay. Có điều này là vì rất nhiều loại sai sót có bản chất
hệ thống và các doanh nghiệp thường chậm chạp trong việc điều chỉnh các sai sót
này. Do đó, kiểm toán viên không nên chủ quan mà bỏ qua kết quả kiểm toán của
năm trước. Ví dụ, kiểm toán viên tìm thấy một số lượng sai sót đáng kể trong việc
định giá hàng tồn kho trong báo cáo kiểm toán năm trước, rủi ro tiềm tàng có khả
năng cao, và việc mở rộng các cuộc khảo sát sẽ được thực hiện để xác định liệu hệ
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng có phát hiện và sửa chữa kịp thời hay chưa.
Tuy vậy, nếu kiểm toán viên không tìm thấy sai sót nào liên quan đến tính giá hàng