348 Hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty kiểm toán và tư vấn tài chính ACCAGroup - Pdf 22

Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, dịch vụ kiểm toán là một trong
những dịch vụ có tính chuyên nghiệp cao và có ý nghĩa quan trọng trong
việc tạo lập một môi trường kinh doanh minh bạch và hiệu quả. Tác dụng
của loại hình dịch vụ kiểm toán đối với nền kinh tế có thể thấy rõ nhất đó
là: tạo ra niềm tin cho những người quan tâm đến đối tượng kiểm toán,
củng cố nền nếp tài chính, kế toán và các hoạt động được kiểm toán đồng
thời góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý.
Trên thực tế, chúng ta thường nhắc đến “ba loại” kiểm toán được phân
loại theo hệ thống bộ máy tổ chức đó là: kiểm toán nhà nước, kiểm toán
độc lập, kiểm toán nội bộ. Nhưng khi đề cập đến dịch vụ kiểm toán có
nghĩa là đề cập đến loại hình kiểm toán độc lập. Sau nghị định
105/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2004 về kiểm toán độc lập thì loại
hình kiểm toán này xuất hiện “nở rộ” trên thị trường kiểm toán ở Việt Nam.
Bây giờ, thị trường kiểm toán độc lập không còn chỉ là “sân chơi” cho các
doanh nghiệp nước ngoài (Big Four) mà đã xuất hiện hơn 100 công ty kiểm
toán độc lập hoạt động. Công ty kiểm toán và tư vấn tài chính ACCAGroup
ra đời năm 2001 đang cùng các công ty kiểm toán trong nước khác nỗ lực
để đạt được một vị thế ngày càng cao về cung cấp dịch vụ kiểm toán và các
dịch vụ tư vấn tài chính.
Là một sinh viên chuyên ngành kiểm toán của trường Đại học Kinh Tế
Quốc Dân, trong quá trình thực tập tại Công ty ACCAGroup, được sự giúp
đỡ của Ban giám đốc Công ty và giáo viên hướng dẫn trực tiếp TS. Nguyễn
Phương Hoa, em đã quan tâm và tìm hiểu về qui trình tiến hành kiểm toán
của Công ty. Trong quá trình tìm hiểu, em nhận thức được rằng kiểm toán
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một nội dung quan trọng và trong
đó kiểm toán chỉ tiêu doanh thu là một phần hành kiểm toán rất nhạy cảm
và có ảnh hưởng lớn đến Báo cáo tài chính của đơn vị. Xuất phát từ lý luận
1
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44

tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm, Báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh lại cho biết về kết quả hoạt động của cả niên độ, từ
đó giúp người sử dụng đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh
nghiệp. Do vậy kiểm toán mục doanh thu là một nội dung quan trọng trong
khi kiểm toán Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kiểm toán Báo
cáo tài chính.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh thu và thu nhập
khác” định nghĩa:
Doanh thu: là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được
trong kì kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông
thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Doanh thu gồm có doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ
và doanh thu hoạt động tài chính, thu nhập khác.
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu
được, hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu
như bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả
các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ thuần mà doanh nghiệp thực hiện được trong kỳ
kế toán có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ghi nhận
ban đầu do các nguyên nhân: doanh nghiệp chiết khấu thương mại, giảm
giá hàng bán cho khách hàng hoặc hàng đã bán bị trả lại, và doanh nghiệp
phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo
3
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
phương pháp trực tiếp được tính trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ thực tế mà doanh nghiệp đã thực hiện trong một kì kế toán. Doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ cũng bao gồm cả doanh thu nội bộ, là trị giá
của khối lượng hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ lao vụ cung cấp giữa các đơn
vị thành viên trong cùng công ty hay tổng công ty trong kỳ.
- Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm các khoản doanh thu tiền

- Tài khoản 521 : Chiết khấu thương mại
- Tài khoản 531: Hàng bán bị trả lại
- Tài khoản 532: Giảm giá hàng bán
3. Chu trình ghi nhận doanh thu
Doanh thu là kết quả của quá trình tiêu thụ hàng hoá dịch vụ của
doanh nghiệp. Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Quá trình tiêu thụ bắt đầu bằng một đơn đặt hàng của khách hàng và
kết thúc bằng sự trao đổi hàng hoá thành khoản phải thu hoặc thành tiền.
Chu trình này có thể tóm tắt như sau:
Khi người mua có nhu cầu mua hàng thông qua các đơn đặt hàng,
hợp đồng về mua bán hàng hoá dịch vụ... thì doanh nghiệp xem xét khả
năng bán hàng của mình. Nếu có đủ hàng hoá xuất bán thì doanh nghiệp
đưa ra quyết định bán hàng bằng cách lập phiếu xuất kho hoặc hoá đơn bán
hàng. Thông qua thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng mua bán hàng
hoá, phương thức thanh toán có thể là thanh toán ngay hoặc trả chậm. Sau
khi xét duyệt về phương thức thanh toán, hàng hoá được vận chuyển đến
người mua cùng với hoá đơn bán hàng và chứng từ vận chuyển. Căn cứ vào
hoá đơn bán hàng, kế toán ghi sổ Nhật ký hàng bán và theo dõi các khoản
phải thu. Lúc này, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã được ghi
nhận. Trường hợp phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu như hàng bán bị
trả lại, giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại thì kế toán cập nhật ghi
vào Nhật ký bán hàng các khoản giảm trừ doanh thu.
5
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
Công tác hạch toán tiêu thụ tuỳ thuộc vào chính sách từng doanh
nghiệp, mỗi doanh nghiệp có thể tiến hành theo nhiều phương thức khác
nhau như: tiêu thụ trực tiếp, tiêu thụ qua đại lý, bán hàng trả góp,...Tuy
nhiên, có thể khái quát quá trình tiêu thụ hàng hoá và cung cấp dịch vụ qua
sơ đồ sau:

người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
+ Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao
dịch bán hàng
+ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Điểm 16: Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi
nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy.
Trong trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kì thì
doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn
thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của giao dịch
cung cấp dịch vụ được xác định khi thoả mãn tất cả bốn (4) điều kiện sau:
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
+ Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ
đó
+ Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng
cân đối kế toán
+ Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn
thành cung cấp dịch vụ đó.
Điểm 24: Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và
lợi nhuận được chia của doanh nghiệp được ghi nhận khi thoả mãn đồng
thời hai (2) điều kiện sau:
+ Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
7
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
Khi không thoả mãn các điều kiện ghi nhận doanh thu như nêu trên
thì không được hạch toán vào tài khoản doanh thu.
Doanh thu (kể cả doanh thu nội bộ) phải được theo dõi riêng biệt
theo từng loại doanh thu: Doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ,
doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia. Trong

khoản phải thu, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, lợi nhuận chưa phân
phối… Do đó việc kiểm toán doanh thu là một trong những phần hành
quan trọng và chiếm tỷ trọng công việc lớn. Và do mối quan hệ chặt chẽ
của doanh thu tới các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán nên khi tiến hành
kiểm toán về doanh thu đã có thể bao quát các rủi ro, sai sót và gian lận có
thể có của các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán.
Thứ hai, doanh thu là chỉ tiêu rất nhạy cảm vì nó trực tiếp phản ánh
tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và liên quan
chặt chẽ đến chỉ tiêu lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được và chỉ tiêu thuế
thu nhập, và cả nghĩa vụ khác của doanh nghiệp đối với Nhà nước. Do vậy
thông qua những kiểm tra, phân tích, so sánh có thể phát hiện và sửa chữa
những sai sót, gian lận liên quan đến chỉ tiêu này.
2. Yêu cầu của việc kiểm toán doanh thu.
Khi tiến hành kiểm toán doanh thu, phải đạt được các mục tiêu kiểm
toán là:
Thứ nhất, thu thập bằng chứng chứng minh việc hạch toán doanh
thu và hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp phải đảm bảo cho việc
hạch toán doanh thu là trung thực, hợp lý, và đúng quy định của Nhà nước.
Thứ hai, thu thập đủ bằng chứng chứng minh mọi nghiệp vụ phát
sinh về doanh thu đã hạch toán phản ánh đầy đủ trong sổ kế toán.
Thứ ba, thu thập đủ bằng chứng chứng minh mọi nghiệp vụ phát
sinh về doanh thu là có thực.
Thứ tư, thu thập đủ bằng chứng chứng minh mọi nghiệp vụ phát sinh
về doanh thu đã hạch toán và phân loại chính xác và đã được tính toán
đúng đắn.
9
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
3. Những rủi ro thường gặp trong việc kiểm toán doanh thu
Trong quá trình kiểm toán doanh thu, kiểm toán viên thường gặp
những rủi ro sau:

chấp nhận thanh toán nhưng đơn vị chưa hạch toán hoặc đã hạch
toán nhầm vào các tài khoản khác (không hạch toán vào doanh thu
bán hàng)
o Các khoản thu nhập về hoạt động tài chính và thu nhập bất
thường đã thu được nhưng đơn vị chưa hạch toán hoặc đã hạch toán
vào các tài khoản khác (không hạch toán vào doanh thu hoạt động tài
chính và thu nhập bất thường)
o Số liệu đã tính toán và ghi sổ sai đã làm giảm doanh thu so
với số liệu phản ánh trên chứng từ kế toán.
Ngoài ra, doanh thu của doanh nghiệp luôn luôn đi kèm với chỉ tiêu
thuế giá trị gia tăng đầu ra phải nộp. Chính vì vậy mà còn rất nhiều trường
hợp gian lận và sai sót khác xảy ra nhằm mục đích trốn lậu thuế. Ví dụ như
gian lận trong việc hạch toán thuế suất thuế giá trị gia tăng: hạch toán
chuyển những mặt hàng có thuế suất cao thành mặt hàng có thuế suất thấp.
Việc hạch toán doanh thu như trên có nhiều nguyên nhân, nhưng
nguyên nhân chủ yếu là do nhân viên kế toán chưa hiểu biết đầy đủ qui
định về doanh thu hoặc do trình độ của nhân viên kế toán yếu, hoặc vì một
lý do nào đó mà nhân viên kế toán hạch toán doanh thu không đúng qui
định.
4. Các căn cứ để kiểm toán doanh thu
Để kiểm toán doanh thu của một doanh nghiệp, các kiểm toán viên
phải dựa vào các tài liệu, chứng từ và các sổ kế toán chủ yếu sau đây:
- Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Bảng cân đối phát sinh tài khoản
- Hợp đồng đã ký về bán hàng, cung cấp dịch vụ
- Hoá đơn bán hàng, hoá đơn bán hàng kiêm phiếu xuất kho
11
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
- Bản quyết toán, biên bản thanh lý hợp đồng bán hàng, hợp đồng
cung cấp dịch vụ

quan đến doanh thu. Cụ thể có thể tiến hành một số thủ tục phân tích dưới
đây :
- Lập bảng phân tích doanh thu theo từng tháng, từng quí, từng đơn
vị trực thuộc, từng cửa hàng… và xem xét các nghiệp vụ bất thường
- So sánh giữa doanh thu kế hoạch và doanh thu thực hiện, so sánh
doanh thu giữa các niên độ liền nhau, các biến động bất thường cần được
giải thích nguyên nhân
- So sánh tỷ lệ lãi gộp của từng mặt hàng chủ yếu qua các năm, các
kì kế toán khác nhau để xem xét những biến động bất thường nếu có
- So sánh tỷ lệ các khoản giảm trừ doanh thu như hàng bán bị trả lại,
giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại…
Qua các thủ tục phân tích trên, kiểm toán viên có thể phát hiện và
giải trình các thay đổi quan trọng của việc thực hiện chỉ tiêu doanh thu bán
hàng, lãi gộp và thuế thu nhập phải nộp. Các thay đổi đó có thể là do nhiều
nguyên nhân khác nhau, đó có thể là những biến động tất yếu theo mùa và
do đó không thể có giá trị bất biến hàng tháng.
Bằng chứng thu nhận được từ thủ tục phân tích đánh giá được những
sự kiện phát hiện qua kiểm toán không chỉ bao gồm các sai sót trong tài
khoản mà cả những quan sát hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống thông tin
và những vấn đề khác. Thông thường, bằng chứng thu được từ thủ tục
phân tích là kết quả của cả quá trình chi tiết hoá ước tính và cả quá trình
tìm hiểu tình hình kinh doanh của khách hàng.
5.3. Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết doanh thu
- Thực hiện thủ tục kiểm tra việc hoá đơn bán hàng có được lập, ghi
chép đầy đủ, chính xác các yếu tố cần thiết, luân chuyển và sử dụng đúng
với các qui định của Nhà nước và doanh nghiệp không. Thông thường nội
dung kiểm tra gồm :
13
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
+ Đối chiếu với bảng giá xét duyệt với hợp đồng để xác định đơn giá

- Kiểm tra việc khoá sổ bán hàng (Cutoff Test)
Việc ghi chép các nghiệp vụ bán hàng phải đảm bảo đúng niên độ
qui định của chế độ kế toán mới đảm bảo phản ánh đúng doanh thu. Việc
ghi chép không đúng niên độ sẽ dẫn đến những sai lệch trong doanh thu cả
lãi lỗ. Do đó cần kiểm toán các nghiệp vụ gần thời điểm cuối niên độ và
đầu niên độ để phát hiện các nghiệp vụ bán hàng của niên độ này hạch toán
nhầm vào niên độ sau và ngược lại. Việc kiểm tra này có thể tiến hành trên
một số mẫu chọn.
- Thử nghiệm kiểm tra việc phân loại doanh thu bán hàng. Mục đích
của thử nghiệm này là tránh việc phân loại doanh thu không đúng dẫn đến
việc cung cấp thông tin cho quản lý và cho việc tính thuế, tính lợi tức. Cụ
thể là :
+ Phân biệt rõ doanh thu bán hàng nội bộ đơn vị hạch toán doanh thu
bán hàng ra ngoài
+ Phân biệt doanh thu thu tiền ngay và doanh thu thanh toán sau để
tiện theo dõi công nợ
+ Phân biệt doanh thu bán hàng với doanh thu hoạt động tài chính và
thu nhập khác
+ Phân biệt giữa doanh thu bán hàng của đơn vị và doanh thu bán
hàng cho đơn vị khác
+ Phân biệt doanh thu của các mặt hàng, nhóm hàng chịu những mức
thuế suất thuế giá trị gia tăng khác nhau…
Các thủ tục cơ bản và mục tiêu kiểm toán của từng thủ tục đối với
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được trình bày tóm tắt trong bảng
sau :
15
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
Loại Thủ tục kiểm toán Mục tiêu kiểm toán
Thủ tục
phân tích

tức và lợi nhuận được chia chỉ được ghi nhận khi đơn vị được quyền nhận
chúng. Do đó đối với mỗi hoạt động tài chính, trước hết kiểm toán viên
kiểm tra về thời điểm ghi nhận doanh thu xem có phù hợp với chuẩn mực
và chế độ kế toán hiện hành hay không. Thủ tục này nhằm đáp ứng mục
tiêu phát sinh và đầy đủ của doanh thu.
16
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
- Đối với mỗi nghiệp vụ phát sinh mà doanh thu đã được xác định,
kiểm toán viên tiến hành kiểm tra số tiền đã được hạch toán. Thủ tục này
thoả mãn mục tiêu đánh giá doanh thu.
- Đối với các khoản doanh thu có tính chất định kì (tiền cho thuê tài
sản, lãi vay…) kiểm toán viên cần lập Bảng kê doanh thu từng tháng để
phát hiện những khoản chưa được ghi chép. Thủ tục kiểm toán này nhằm
xác minh về mục tiêu đầy đủ của doanh thu hoạt động tài chính.
5.5. Kiểm toán thu nhập khác
Mục đích của kiểm tra các khoản thu nhập bất thường là nhằm xem
các nghiệp vụ này có thực sự làm phát sinh thu nhập bất thường và đúng
với số hạch toán hay không.
- Khi kiểm tra các khoản thu nhập khác đã được ghi nhận, kiểm toán
viên cần chú ý những vấn đề sau đây:
+ Xem xét các khoản thu nhập đã đủ điều kiện ghi nhận hay chưa.
Thủ tục này liên quan đến mục tiêu hiện hữu của nghiệp vụ.
+ Giá trị của khoản thu nhập có được xác định đúng đắn hay không.
Thủ tục này nhằm phục vụ cho mục tiêu đánh giá thu nhập.
- Tìm kiếm các khoản thu nhập khác không được ghi chép, kiểm toán
viên có thể sử dụng những thủ tục sau:
+ Xem xét các nghiệp vụ ghi giảm chi phí trong kì. Nhiều đơn vị
thay vì hạch toán vào thu nhập khác thì lại hạch toán giảm chi phí trong kì.
Sai sót này tuy không ảnh hưởng lớn đến kết quả của đơn vị nhưng lại gây
biến động đối với từng loại lãi, lỗ.

giá so với thực tế.
- Một lưu ý nữa là khi hạch toán doanh thu, doanh nghiệp có thể bỏ
sót những nghiệp vụ phát sinh vào thời điểm cuối năm tài chính, không ghi
nhận ngay trong năm mà để hạch toán vào năm sau.
Trên đây là một số trường hợp mà doanh nghiệp thường sử dụng để
hạch toán giảm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ nhằm trốn thuế.
18
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
Hơn thế nữa, khi kiểm toán doanh thu, kiểm toán viên cũng cần phải lưu ý
đến doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác.
Đối với doanh thu hoạt động tài chính, kiểm toán viên cần chú ý mục
tiêu tính giá, phân loại và trình bày. Đối với hoạt động kinh doanh chứng
khoán và kinh doanh bất động sản, chỉ ghi nhận doanh thu tăng khi bán
chứng khoán hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng bất động sản, tuy nhiên
một số doanh nghiệp đã tự đánh giá, so sánh giá trị tài sản hiện tại với giá
gốc để hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính.
Đối với thu nhập khác, đặc điểm chung là tính đa dạng, không
thường xuyên và khó dự đoán được. Vì vậy nhiều doanh nghiệp không
phản ánh các thu nhập này khi nghiệp vụ phát sinh, mà chỉ ghi nhận khi
thực thu tiền. Nếu nghiệp vụ này có qui mô lớn thì sẽ gây nên ảnh hưởng
mang tính trọng yếu.
19
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KIỂM TOÁN DOANH
THU TẠI CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI
CHÍNH ACCAGROUP
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI
CHÍNH ACCAGROUP
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
ACCAGroup là công ty kiểm toán và tư vấn tài chính chuyên nghiệp,

19 tháng 3 năm 2002. Công ty chuyển về số 105, phố Nghi Tàm,
phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội.
+ Lần 2: Thay đổi về số thành viên góp vốn. Theo quyết định số
216/TB ngày 20 tháng 7 năm 2002.
+ Lần 3: Thay đổi địa chỉ công ty. Công ty chuyển trụ sở về số 2,
E11, Quỳnh Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
+ Lần 4: Thay đổi về trụ sở công ty và cơ cấu thành viên góp vốn.
Theo quyết định số 08/ACCA - HDTV ngày 26 tháng 11 năm 2005.
Công ty lấy tên là ACCAGroup, trụ sở chính tại số 14/14, đường
Yên Lạc, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty:
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến
chức năng, việc tổ chức này nhằm thống nhất mệnh lệnh, tránh sự rối loạn,
gắn trách nhiệm với từng đối tượng cụ thể và đạt được hiệu quả cao nhất.
Tuy nhiên số lượng nhân viên ít, tổng số nhân viên khoảng 20 người nên tổ
chức bộ máy của công ty khá đơn giản, được thể hiện theo sơ đồ sau (trang
bên) với cơ cấu chức năng là:
+ Phòng hành chính tổng hợp chịu trách nhiệm về quản lý nhân sự,
công tác kế toán và các vấn đề mang tính chất hành chính tổng hợp.
+ Phòng kiểm toán báo cáo tài chính: Thực hiện việc cung cấp dịch
vụ kiểm toán báo cáo tài chính, kế toán và thuế.
+ Phòng kiểm toán đầu tư: Thực hiện kiểm toán các dự án xây dựng
cơ bản và các dự án đầu tư được tài trợ bởi các tổ chức quốc tế như:
WB, ADB…
Tuy số nhân viên của công ty ít song mỗi thành viên từ nhân viên,
trợ lý kiểm toán đến các kiểm toán viên cao cấp và ban lãnh đạo của công
21
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
ty đều có ý thức nỗ lực hết mình trong mọi công việc để khẳng định vị trí
của công ty trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ kế toán và kiểm toán, đồng

Sau quá trình tìm hiểu về khách hàng của ACCAGroup bao gồm
những am hiểu sâu sắc về ngành nghề kinh doanh, hệ thống kiểm soát nội
bộ và những rủi ro tiềm tàng của khách hàng trước khi ra quyết định lập kế
hoạch kiểm toán và trợ giúp cho đánh giá rủi ro, ACCAGroup thực hiện
những thủ tục dự báo và phân tích. Với số lượng lớn thủ tục dự báo và phân
tích, phương pháp tiếp cận này giúp nhóm kiểm toán của công ty xác định
được những vấn đề không phát hiện được và có cái nhìn sâu sắc hơn trong
quá trình kiểm toán. Phương pháp tiếp cận của ACCAGroup rất bài bản
(mô hình trang sau), có thể đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của
khách hàng về tính chính xác và sự giải trình báo cáo tài chính
Cuộc kiểm toán được tiến hành với phương pháp kiểm toán khoa
học, sử dụng phần mềm kiểm toán thông minh. Thông qua việc sử dụng
công nghệ tiên tiến này ACCAGroup có thể giúp khách hàng giảm thiểu
chi phí bằng cách tối đa hoá hiệu quả và tăng cường tính hiệu năng trong
công tác kế toán.
.
23
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
Phương pháp tiếp cận kiểm toán được khái quát trong sơ đồ sau:
Thực hiện
các công việc
trước kiểm toán
Đánh giá, kiểm soát, xử lý rủi ro của kiểm toán
Lựa chọn nhóm kiểm toán
Thiết lập các điều khoản của hợp đồng kiểm toán
Lập kế hoạch
kiểm toán
Tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng
Tìm hiểu môi trờng kiểm soát
Tìm hiểu chu trình kế toán

Đánh giá chất lượng và kết quả cuộc kiểm toán
Lập báo cáo kiểm toán
Lập bảng tổng hợp kết quả kiểm toán
Thu thập thư giải trình của BGĐ khách hàng
Soát xét, kiểm soát giấy tờ làm việc
Kết luận và báo cáo
Các hoạt dộng sau
kiểm toán
Thực hiện thử nghiệm kiểm soát và đánh giá kết quả
Nguyễn Thị Tú Anh Kiểm toán 44
3.3. Kết thúc kiểm toán.
Ở giai đoạn kết thúc kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán tiến hành
phát hành báo cáo kiểm toán dự thảo, thảo luận với Ban giám đốc đơn vị về
những vấn đề phải điều chỉnh và sau đó phát hành báo cáo kiểm toán chính
thức.
Đồng thời chủ nhiệm kiểm toán phải tiến hành soát xét các sự kiện
phát sinh sau ngày phát hành báo cáo và soát xét chất lượng của kiểm toán.
Quy trình kiểm toán của ACCAGroup rất bài bản, đã gắn lý thuyết
vào thực tiễn rất thành công, biến lý thuyết thành thực tiễn. Tuy nhiên, do
quy mô công ty không lớn và mới thay đổi nên tuỳ theo từng đối tượng
khách hàng và để cân đối, tiết kiệm thời gian và chi phí kiểm toán thì công
ty sẽ có cách tiếp cận thích hợp thông qua việc đánh giá trọng yếu và rủi ro.
Quy trình kiểm toán của ACCAGroup được lập cho mỗi phần hành,
mỗi khoản mục, nội dung cụ thể. Ví dụ như từng khoản mục, phần hành
đều có chương trình riêng như: Chương trình kiểm toán hàng tồn kho,
chương trình kiểm toán doanh thu, chương trình kiểm toán tài sản cố
định… Mỗi chương trình được chi tiết hoá theo nội dung là: Tài liệu yêu
cầu khách hàng chuẩn bị, mục tiêu kiểm toán, đánh giá hệ thống kiểm soát
nội bộ, thủ tục phân tích (nếu có), và các thử nghiệm cơ bản. Đây là các
giấy tờ định hướng công việc cho kiểm toán viên khi tiến hành kiểm toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status