Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập thị trường, nền kinh tế Việt Nam
cho thấy quá trình tự do hoá không chỉ dừng lại ở các quan hệ giao dịch
thương mại, hàng hoá mà còn mở rộng các quan hệ cung cấp dịch vụ. Nằm
trong xu thế đó, dịch vụ kiểm toán, kế toán ở nước ta hiện nay ngày càng mở
rộng và tự khẳng định mình trong nền kinh tế xã hội.
Sự ra đời và phát triển của các tổ chức kiểm toán trong nhiều năm qua
vừa là xu hướng tất yếu khách quan có tính qui luật của nền kinh tế thị
trường, vừa là bộ phận quan trọng của hệ thống công cụ quản lý vĩ mô nền
kinh tế tài chính đã đóng vai trò tích cực trong việc phát triển nền kinh tế xã
hội.
Một trong những loại hình dịch vụ chủ yếu mà công ty kiểm toán cung
cấp cho khách hàng đó là hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính. Trong đó,
các công ty kiểm toán xem xét, kiểm tra và đưa ra kết luận về các báo cáo tài
chính có được lập phù hợp với các qui tắc, chuẩn mực và phương pháp kế
toán, có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của doanh nghiệp
hay không.
Để xây dựng khung pháp lý cho hoạt động kiểm toán, Bộ tài chính đã
ban hành các chuẩn mực kế toán và kiểm toán. Trong số các chuẩn mực đó có
chuẩn mực số 520 “Qui trình phân tích” đã khẳng định thủ tục phân tích là
nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượng của cuộc kiểm toán báo cáo tài
chính.
Qua thời gian nghiên cứu tài liệu cùng tìm hiểu thực tế công tác kiểm
toán tại công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam, em đã nhận thức được tầm
quan trọng của thủ tục phân tích trong qui trình kiểm toán báo cáo tài chính.
Vì vậy, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán báo
cáo tài chính do Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam thực hiện”. Chuyên
đề thực tập của em gồm ba phần:
Trần Thị Nam Vinh 1 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
hướng tới công khai tài chính giữa các bên có lợi ích khác nhau trên cơ sở
bằng chứng kiểm toán đáng tin cậy. Để có được các bằng chứng này, Kiểm
toán tài chính cần triển khai các phương pháp kiểm toán cơ bản theo hướng
tổng hợp hay chi tiết tuỳ vào từng trường hợp cụ thể.
Về đối tuợng kiểm toán, Bảng khai tài chính và những thông tin tổng hợp
phản ánh nhiều mối quan hệ kinh tế, pháp lý cụ thể là đối tượng trực tiếp của
Kiểm toán tài chính. Tuy nhiên, các thông tin tài chính này có liên quan trực
tiếp đến các nghiệp vụ cúng như tình hình thực hiện văn bản pháp lý không
phải là đối tượng trực tiếp của Kiểm toán tài chính. Vì vậy, việc xem xét các
mặt, các yếu tố này trong thực trạng tài chính chỉ trên góc độ có liên quan trên
Bảng khai tài chính và được chọn lọc qua điều tra, đối chiếu, phân tích thực tế
tại khách thể kiểm toán.
1
1
Giáo trình Kiểm toán tài chính - NXB Tài chính , Hà Nội,7/2001- Chủ biên Gs.Ts Nguyễn Quang Quynh - Trang 29 - Khoa Kế toán
Trần Thị Nam Vinh 3 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
Về trình tự kiểm toán, do mối quan hệ nội kiểm và ngoại kiểm, do Bảng
khai tài chính mang tính tổng hợp, tính công khai, tính thời điểm nên trình tự
mỗi bước kiểm toán cơ bản đều triển khai phù hợp vơi những đặc điểm của
đối tượng, của quan hệ chủ thể, khách thể. Trong Kiểm toán tài chính, trình tự
phổ biến được thực hiện là tiến hành kiểm toán theo trình tự ngược với trình
tự kế toán.
Trong kiểm toán tài chính, bằng các cách thức hay trình tự xác định trong
việc vận dụng các phương pháp kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng
từ vào việc xác minh các nghiệp vụ, các số dư tài khoản hoặc khoản mục cấu
thành bảng khai tài chính đã hình thành nên ba loại trắc nghiệm cơ bản: Trắc
nghiệm công việc, trắc nghiệm trực tiếp số dư và trắc nghiệm phân tích.
Trắc nghiệm công việc (transaction) là cách thức và trình tự rà soát
nghiệp vụ hay hoạt động cụ thể trong quan hệ với sự tồn tại và hiệu lực của hệ
nghiệm
công
Trắc nghiệm đạt
yêu cầu
Trắc
nghiệm
trực
Trắc nghiệm
độ vững chãi
Trắc
nghiệm
phân
Trắc
nghiệm
Trắc nghiệm độ
vững chãi
Trắc nghiệm
đạt yêu cầu
1.1.2. Thủ tục phân tích trong hệ thống phương pháp kiểm toán
1.1.2.1. Bản chất của thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích là một trong những thủ tục kiểm toán quan trọng. Để
tìm hiểu sâu hơn về thủ tục phân tích trước hết cần làm rõ một số khái niệm
có liên quan.
Trần Thị Nam Vinh 5 Kiểm toán 44
Bằng chứng đầy đủ, có hiệu lực với
chi phí kiểm toán thấp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
Theo cuốn Từ Điển Tiếng Việt - năm 2000, thủ tục là những bước liên
quan với nhau theo kiểu hệ quả dùng để giải quyết những vấn đề có cấu trúc
chặt chẽ
tỷ lệ bao gồm việc điều tra, xem xét, xu hướng biến động của các thông tin để
phát hiện và giải thích các biến động bất thường”
(3, tr111)
.
Tóm lại, có nhiều khái niệm về thủ tục phân tích nhưng chung qui lại
phân tích là quá trình dự đoán, so sánh, đánh giá các mối quan hệ để xác định
Trần Thị Nam Vinh 6 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
tính hợp lý của số dư tài khoản trên các khía cạnh khác nhau. Bản chất của
thủ tục phân tích là phương pháp tổng hợp nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt
chẽ nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán, đưa ra kết luận chính xác về mức độ
trung thực, hợp lý về Báo cáo tài chính. Trong đó, các mối quan hệ này gồm
mối quan hệ giữa thông tin tài chính với nhau và mối quan hệ giữa thông tin
tài chính và thông tin phi tài chính. Các khái niệm dự đoán, so sánh, đánh giá
được hiểu như sau:
Dự đoán: Là việc kiểm toán viên ước đoán về số dư tài khoản, xu
hướng liên quan đến dữ kiện về tài chính và hoạt động.
So sánh: Là việc kiểm toán viên thực hiện so sánh thông tin tương ứng
kỳ này với kỳ trước, so sánh số thực tế với số ước tính của kiểm toán
viên, so sánh giữa số thực tế của đơn vị trong nghành có cùng qui mô
hoạt động.
Đánh giá: Bằng trình độ, kiến thức chuyên môn nghiệp vu, kiểm toán
viên phân tích đưa ra kết luận về các chênh lệch xảy ra và giải thích các
chênh lệch đó.
Như vậy, thủ tục phân tích đóng vai trò quan trọng trong tất cả các cuộc
kiểm toán đồng thời là công cụ hữu hiệu trong việc thu thập các bằng chứng
kiểm toán và mức giảm chi phí tới mức có thể. Thủ tục phân tích được áp
dụng xuyên suốt trong toàn bộ kiểm toán báo cáo tài chính.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: Thủ tục phân tích được nhằm
đánh giá tổng quan hoạt động của đơn vị được kiểm toán đặc biệt hoạt động
tục phân tích chi tiết cần xác định rõ việc phát triển mô hình là để dự đoán số
dư tài khoản hiện tại hay để dự toán thay đổi so với năm trước. Tuy nhiên,
việc dự đoán thay đổi so với năm trước chỉ có hiệu quả khi số dư năm trước
đã được kiểm toán vì khi đó, có thể loại ra khỏi mô hình những biến độc lập
không đổi so với năm trước. Chẳng hạn, có thể tính doanh thu hiện tại dựa
trên doanh thu năm trước và những thay đổi về tỷ lệ thuê phòng trong suốt
năm hiện tại so với năm trước khi giá thuê phòng không thay đổi.
Trần Thị Nam Vinh 8 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
Thông thường, để dự đoán chính xác, Kiểm toán viên phải xây dựng mô
hình dựa trên những biến độc lập có liên quan. Trái lại, nếu mô hình đơn giản
quá nhiều dẫn đến các phép so sánh và bằng chứng kiểm toán không được
đảm bảo. Tuy nhiên, cũng có thể tăng tính chính xác của các dự đoán bằng
cách phát triển các mô hình ước tính theo hướng chi tiết hoá dữ liệu, thậm chí
chi tiết hoá thành nhiều mô hình nhỏ hơn. Dưới đây là một số loại hình phân
tích phổ biến mà Kiểm toán viên thường sử dụng để kiểm tra các thông tin tài
chính của khách hàng.
So sánh giữa số liệu của khách hàng và số liệu chung của nghành
Mục đích của việc so sánh số liệu chung của toàn nghành mà khách
hàng đang hoạt động là nó giúp Kiểm toán viên tìm hiểu về lĩnh vực kinh
doanh của khách hàng cũng như xác định khả năng xảy ra các sai phạm về
mặt tài chính. Tuy nhiên, việc so sánh này cũng có hạn chế khi có sự khác
biệt giữa bản chất thông tin tài chính của khách hàng so vơi các doanh nghiệp
cùng nghành. Chẳng hạn, khi các doanh nghiệp cùng nghành sử dụng phương
pháp kế toán (phương pháp tính giá HTK, phương pháp khấu hao...) thì việc
so sánh không còn hiệu quả. Vì vậy, khi thực hiện so sánh này, Kiểm toán
viên cần thận trọng trong việc đánh giá kết quả.
So sánh số liệu năm nay với số liệu cùng kỳ năm trước của khách hàng
Từ kết quả so sánh, Kiểm toán viên phát hiện những biến động bất
thường trong hoạt động kinh doanh của khách hàng. Chẳng hạn, trong những
tiềm tàng. Tuy nhiên, nếu không có chênh lệch lớn giữa số liệu thực tế và dự
toán cũng có thể vẫn chứa đựng các sai phạm. Thông thường, kỹ thuật này áp
dụng trong kiểm toán các cơ quan nhà nước. Có hai khía cạnh, Kiểm toán
viên cần quan tâm khi thực hiện phương pháp so sánh này, đó là:
Độ tin cậy của số liệu dự toán của khách hàng
Các thông tin tài chính hiện tại có bị nhân viên của khách hàng làm sai
lệch để phù hợp với số kết quả dự toán hay không
Trần Thị Nam Vinh 10 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
Vì vậy, để đảm bảo kết quả so sánh chính xác, Kiểm toán viên phải tiến
hành thảo luận với nhân viên khách hàng về thủ tục dụ toán đồng thời, đánh
giá rủi ro kiểm soát và áp dụng các loại trắc nghiệm chi tiết.
So sánh số liệu của khách hàng với số liệu ước tính dựa trên thông tin phi
tài chính
• So sánh số liệu của khách hàng với số liệu ước tính dựa trên thông
tin phi tài chính
Phương pháp này có thể hiểu qua ví dụ dưới đây:
Ví dụ: Kiểm toán viên thực hiện ước tính doanh thu của một khách sạn
dựa trên số phòng, số phòng ngày trong tháng. Trong trường hợp này, Kiểm
toán viên phải chú ý sự chính xác của thông tin sử dụng. Bởi vì, doanh thu
ước tính chỉ có thể trở thành bằng chứng khi Kiểm toán viên cảm thấy thoả
mãn về tính hợp lý của số phòng và số phòng ngày trong tháng.
Lựa chọn số liệu phù hợp
Để việc so sánh đạt hiệu quả, dữ liệu sử dụng trong thủ tục phân tích phải
phù hợp với các mục tiêu đã định. Chẳng hạn, khi đánh giá tính hợp lý trong
việc lập dự phòng phải thu khó đòi thì doanh thu mà Kiểm toán viên sử dụng
để tính toán là doanh thu bán chịu, chứ không phải là tổng doanh thu.
Sự hợp lý được hiểu là mối quan hệ sử dụng trong thủ tục phân tích là
hợp lý và có thể dự đoán được. Mối liên hệ được xem là hợp lý khi có mối
liên hệ nhân quả một cách rõ rệt. Ví dụ: Khi Kiểm toán viên kiểm tra chi phí
chênh lệch thu được qua thủ tục phân tích vượt qua con số trên thì Kiểm toán
viên có thể kết luận rằng số dư tài khoản chưa được trình bày hợp lý.
Chênh lệch vượt quá một tỷ lệ % cụ thể
Ngoài việc sử dụng nguyên tắc quyết định cụ thể dưới dạng con số tuyệt
đối, Kiểm toán viên sử dụng nguyên tắc quyết đinh qua tỷ lệ % nhất định. Ví
dụ: Nếu chênh lệch giữa số dư tài khoản chi phí chi tiết năm nay so với năm
trước vượt quá 10% hoặc một tỷ lệ phù hợp mà Kiểm toán viên đã chọn thì
được coi là biến động bất thường.
Trần Thị Nam Vinh 12 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
1.1.2.3. Các loại thủ tục phân tích trong Kiểm toán báo cáo tài chính
Các loại hình phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính bao gồm:
Kiểm tra tính hợp lý
Kiểm tra tính hợp lý là một thuật ngữ dùng để chỉ một phương pháp tính
toán nhằm đưa ra những ước tính về một giá trị nào đó như một số dư tài
khoản hay một loại hình nghiệp vụ.
Bằng việc so sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, số liệu ước tính,
số liệu bình quân nghành, kiểm toán viên xác định được những chênh lệch.
Từ đó, kiểm toán viên tìm hiểu nguyên nhân chênh lệch nhằm phát hiện ra
những sai sót trong Báo cáo tài chính hoặc những biến động lớn trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Các so sánh cơ bản trong kiểm tra
hợp lý bao gồm:
- So sánh giữa chỉ tiêu của đơn vị và chỉ tiêu bình quân nghành
Bằng việc so sánh với các đơn vị trong cùng nghành, kiểm toán viên hiểu
rõ hơn công việc kinh doanh của khách hàng, đánh giá được thế mạnh tài
chính của khách hàng và triển vọng trong tương lai. Tuy nhiên, việc so sánh
này chỉ mang tính tương đối. Bởi vì, tuy hoạt động trong cùng nghành có
những đặc điểm cơ bản giống nhau, nhưng chúng cũng có những điểm khác
nhau về qui mô hoạt động kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, môi trường hoạt
động, phương pháp tính giá. Đặc biệt, ngày nay, khi các doanh nghiệp có xu
- So sánh số liệu của khách hàng với kết quả dự kiến của kiểm toán viên
Theo hình thức này, kiểm toán viên ước tính số dư của một tài khoản nào
đó bằng cách liên hệ nó với một vài tài khoản khác trên Bảng cân đối hoặc
Báo cáo kết quả kinh doanh. Nếu có sự khác biệt trọng yếu giữa số liệu ước
tính và số liệu thực tế thì kiểm toán viên tiến hành thu thập bằng chứng để xác
định nguyên nhân.
Ví dụ: Để ước tính chi phí lãi vay trên các phiếu nợ dài hạn phải trả bằng cách
nhân số dư chiết khấu hàng tháng trên các phiếu nợ phải trả với lãi suất hàng
tháng. Từ đó, kiểm toán viên so sánh thực tế chi phí lãi vay phát sinh với lãi
vay ước tính của kiểm toán viên để xem xét chi phí có hợp lý hay không.
- So sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán
Trần Thị Nam Vinh 14 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
Bằng việc so sánh các chỉ tiêu tài chính giữa số liệu thực tế và số liệu kế
hoạch hoặc dự toán sẽ giúp kiểm toán viên phát hiện những chênh lệch lớn
giữa số liệu kế hoạch và dự toán. Từ đó, kiểm toán viên thấy được những sai
sót trong báo cáo tài chính hoặc những biến động lớn về sản xuất kinh doanh
cần kiểm tra.
Ví dụ: Khi so sánh chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi
phí tài chính giữa số liệu thực tế với số liệu kế hoạch của khách hàng, kiểm
toán viên nhận thấy:
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Chênh lệch
Chi phí tài chính 143.453.266 420.200.400 276.747.134
Chi phí QLDN 569.000.782 900.564.200 331.156.418
Chi phí bán hàng 892.502.000 920.341.000 27.839.000
Qua quá trình kiểm tra cho thấy, chi phí tài chính tăng lên so với kế
hoạch chủ yếu là do lãi vay phải trả tăng lên 190.500.000, đồng thời khách
hàng đã trích rủi ro tài chính là 23.534.000 (không có qui chế tài chính qui
định cho việc trích lập này). Chi phí bán hàng tăng lên là do chi phí hoa hồng
trong năm tăng lên một cách đáng kể. Kiểm toán viên phải tiến hành kiểm tra
Phân tích hồi qui: Được sử dụng để đánh giá mối quan hệ tương quan
giữa các chỉ tiêu kinh tế. Phương pháp này xác định độ biến thiên của tiêu
thức kết quả theo sự biến thiên của tiêu thức ngyên nhân. Cụ thể, phương
trình hồi qui:
Y= ac + a1x1+ a2x2 +....+ akxk
Trong đó:
- a0: Phản ánh mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác đến chỉ tiêu phân
tích các ngoài các nhân tố đã phân tích
- a1 (i=1...k): Các hệ số hồi qui
- Y là chỉ tiêu phân tích
- x là chỉ tiêu nguyên nhân
Phân tích tỷ suất
Trần Thị Nam Vinh 16 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
Đây là hình thức phân tích được sử dụng phổ biến. Phân tích tỷ suất là
cách thức so sánh những số dư tài khoản hoặc những loại hình nghiệp vụ.
Phương pháp này giúp kiểm toán viên so sánh tính hợp lý về tình hình tài
chính của một công ty nào đó với công ty khác trong cùng một tập đoàn hay
nghành đó. Thông thường, khi phân tích tỷ suất, kiểm toán viên cần xem xét
xu hướng của tỷ suất đó.
Nhìn chung, phân tích tỷ suất áp dụng hiệu quả đối với Bảng cân đối kế
toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, phân tích tỷ suất
giữa các tài khoản trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn,
trong khi đó, các tài khoản trong Bảng cân đối kế toán đưa ra giá trị tại một
thời điểm, chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố nên dự đoán xu hướng biến động của
các tài khoản trên Bảng cân đối kế toán gặp nhiều khó khăn.
Trong cách tiếp cận với phân tích tỷ suất thường có hai loại: Phân tích
theo chuỗi thời gian và phân tích theo nghành. Trong đó, phân tích theo chuỗi
thời gian là so sánh các tỷ suất của đơn vị qua các thời kỳ khác nhau còn phân
tích theo ngành là so sánh các tỷ suất giữa các vị trong cùng nghành tại một
hao... đã được phản ánh đầy đủ hay chưa.
Tỷ suất khả năng
thanh toán nhanh
=
Vốn bằng tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn + Các KPT
Tổng nợ ngắn hạn
Tỷ suất này mô tả khả năng thanh toán tức thời với tiền và các phương
tiện có thể chuyển hoá thành tiền.
Tỷ suất này bằng 1 là hợp lý, càng lớn hơn 1 càng thể hiện doanh nghiệp
có khả năng thanh toán nhanh. Nếu tỷ suất này nhỏ hơn 1 và càng nhỏ thì
doanh nghiệp càng khó khăn trong thanh toán nợ ngắn hạn. Nhưng nếu lượng
tiền mặt dự trữ quá lớn sẽ không tốt vì lượng tiền nhàn rỗi trong két không tạo
ra lợi nhuận thay vì đem chúng giữ tiết kiệm.
Tỷ suất khả năng
thanh toán dài hạn
=
Tổng tài sản nợ
Trần Thị Nam Vinh 18 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
Tổng nợ phải trả
Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn không những có ý nghĩa đối với việc
đánh giá lại khả năng thanh toán mà còn có tác dụng xem xét khả năng tiếp
tục hoạt động của doanh nghiệp để có ý kiến nhận xét thích hợp trong báo cáo
kiểm toán. Tỷ suất này càng lớn hơn 1 cho thấy doanh nghiệp càng có khả
năng thanh toán. Ngược lại, tỷ suất này càng nhỏ hơn 1 thì nguy cơ phá sản
của doanh nghiệp càng lớn. Khi tỷ suất này bằng 0 thì doanh nghiệp không
còn khả năng thanh toán, bị phá sản.
Số vòng thu
hồi nợ
=
Giá vốn hàng bán
Số dư tồn kho bình quân
Một vòng luân chuyển hàng hoá được tính từ lúc xuất tiền mua cho đến
khi bán hàng thu lại tiền. Chỉ tiêu này không những cho thấy số lần luân
chuyển một năm của hàng tồn kho mà còn phản ánh năng lực của đơn vị trong
quản lý và bán hàng tồn kho.
Sự biến động giữa số vòng luân chuyển hàng tồn kho năm nay so với
năm trước có thể không gây ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán như: do khó
khăn trong sản xuất, sự yếu kém trong quản lý hàng tồn kho như dự trữ hàng
hoá không phù hợp với sản xuất kinh doanh, giá mua hàng hoá quá cao...
Các biến động có thể ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán như: Việc lập
dự phòng hàng tồn kho không phù hợp, ghi giảm giá trị hàng tồn kho với qui
mô lớn và không ghi nhận nghiệp vụ hàng bán bị trả lại...
Để làm sáng tỏ những biến động có thể gây rủi ro đối với cuộc kiểm
toán, kiểm toán viên có thể soát xét sự biến động ở cấp số dư tài khoản (thành
phẩm, nguyên vật liệu, hàng hoá, chi phí sản xuất kinh doanh) và tiến hành
phân tích chỉ tiêu này trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác như số ngày
phải trả, tỷ suất thanh toán nhanh...
Nhóm tỷ suất khả năng sinh lời
Tỷ lệ lãi gộp =
(Doanh thu – giá vốn) x 100%
Doanh thu
Kiểm toán viên sử dụng chỉ tiêu này nhằm mục đích đánh giá khả năng
của đơn vị trong việc quản lý giá vốn.
Các yếu tố gây sự biến động của tỷ lệ này có thể ảnh hưởng đến kế hoach
kiểm toán như: tăng giá bán hàng, bán nguyên vật liệu, sự yếu kém trong
quản lý sản xuất...
Sự biến động có ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán như doanh thu, giá
vốn bỏ sót không được ghi nhận hay doanh thu, giá vốn không có thật.
Trần Thị Nam Vinh 20 Kiểm toán 44
.....
Tỷ suất nợ =
Tổng số nợ phải trả
Tổng nguồn vốn
Hoặc có thể dùng tỷ suất tài trợ ngược với tỷ suất nợ để đánh giá
Trần Thị Nam Vinh 21 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
Tỷ suất tài = Nguồn vốn chủ sở hữu = 1- Tỷ suất nợ
Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tài trợ được sử dụng để xem xét khả năng tự đảm bảo về mặt tài
chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với chủ nợ (ngân hàng, chủ
đầu tư, các đối tượng khác), hoặc những khó khăn tài chính mà doanh nghiệp
phải đương đầu. Tỷ suất tài trợ càng lớn thể hiện doanh nghiệp có nhiều vốn
tự có và hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu, chủ động trong
kinh doanh.
Các yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán như công nợ
vay phải trả cao, chi phí lãi suất vay không phù hợp.
Để tìm hiểu nguyên nhân sự biến động, kiểm toán viên tiến hành soát xét
các biến động trên số dư tài khoản (tài sản, lãi phải trả, công nợ, nguồn vốn),
so sánh trong mối quan hệ với chỉ tiêu khác.
Tỷ suất tự tài trợ =
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tài sản cố định + Đầu tư dài hạn
Tỷ suất tự tài trợ được kiểm toán viên sử dụng để xem xét mối quan hệ
giữa nguồn vốn chủ sở hữu và giá trị tài sản cố định và khoản đầu tư dài hạn.
Tỷ suất này cho biết nguồn vốn chủ sở hữu đã dùng vào tài sản cố định và các
khoản đầu tư dài hạn là bao nhiêu. Nếu doanh nghiệp có khả năng tài chính
tốt thì nguồn vốn chủ sở hữu phải đủ đầu tư TSCĐ và các khoản đầu tư dài
hạn để hoạt động
Tuy nhiên, cũng phải thấy mặt trái ở đây là tài sản cố định chu chuyển
dụng riêng rẽ các loại hình phân tích mà thường sử dụng kết hợp các phương
pháp phân tích đó.
Các dạng thủ tục phân tích bao gồm:
- Thủ tục phân tích sơ bộ
- Thủ tục phân tích chi tiết
- Thủ tục phân tích soát xét
1.1.2.4. Ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích rất quan trọng trong mọi cuộc kiểm toán. Để cuộc
kiểm toán có sự đánh giá chính xác về các Báo cáo tài chính với mức chi phí
Trần Thị Nam Vinh 23 Kiểm toán 44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học KTQD
hợp lý, đòi hỏi các Công ty kiểm toán và Kiểm toán viên phải nâng cao hiệu
quả trong việc áp dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế số 520 (AU Section 8520), “Chất
lượng kiểm toán muốn được nâng cao đòi hỏi phải thực hiện các thủ tục phân
tích”
(2, tr111)
.
Để nói về tầm quan trọng của thủ tục phân tích, Hội đồng Chuẩn mực
Kiểm toán Quốc tế đã kết luận: Các thể thức phân tích có tầm rất quan trọng
đến nỗi chúng được qui định cho tất cả các cuộc kiểm toán. Đối với một số
mục tiêu kiểm toán nhất định hoặc số dư các tài khoản nhỏ, chỉ cần thủ tục
phân tích thôi cũng đủ bằng chứng
(2, tr111)
.
Bắt đầu một cuộc kiểm toán, để lập kế hoạch kiểm toán, Kiểm toán viên
cần thu thập thông tin về hoạt động của khách hàng trong năm hiện hành và
năm trước. Bằng việc tiến hành thực hiện các thủ tục phân tích, Kiểm toán
viên sẽ xác định được ccs thông tin chưa được kiểm toán năm trước và các
biến động về tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Từ việc phân tích này,
báo cáo tài chính
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên cần thực hiện trong mỗi
cuộc kiểm toán nhằm tạo ra những điều kiện pháp lý cung như điều kiện cần
thiết cho cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn này, thủ tục phân tích sơ bộ giúp
kiểm toán viên nhận biết được khoản mục bất thường và các mối quan hệ mà
nó chỉ ra các rủi ro đặc trưng của sai sót trọng yếu.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520- Điểm 9 qui định: “Kiểm toán
viên phải áp dụng qui trình phân tích trong lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu
rõ tình hình kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể rủi ro. Qui
trình phân tích giúp cho kiểm toán viên xác định được nội dung, lịch trình và
phạm vi của các thủ tục kiểm toán khác”
(3, tr111)
.
Việc sử dụng thủ tục phân tích sơ bộ trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán nhằm thực hiện mục đích sau.
Trần Thị Nam Vinh 25 Kiểm toán 44