thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty cổ phần tập đoàn intimex - Pdf 22

1
LỜI MỞ ĐẦU
Từ nhiều năm nay, cà phê đã trở thành một nhu cầu thiết yếu đối với cuộc sống con
người. Cà phê có giá trị kinh tế cao và là một trong những sản phẩm nông nghiệp đem về
nguồn thu ngoại tệ lớn cho nhiều nước. Ngoài giá trị dinh dưỡng, cà phê còn có hương vị
đặc trưng tuyệt vời, khiến cho việc uống cà phê trở thành một thói quen và tập quán đối
với phần lớn dân cư trên thế giới.
Cà phê không chỉ là một loại đồ uống mà còn là nguyên liệu cho một số ngành công
nghiệp như: sản xuất bánh kẹo, sữa, dược phẩm… Nhu cầu về sản phẩm này trên thị
trường thế giới ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng đòi hỏi những nhà sản xuất,
nhà xuất khẩu phải đáp ứng kịp thời và linh hoạt cho các nhu cầu khác nhau của từng
khu vực thị trường cụ thể.
Tại Việt Nam, cà phê đã được trồng phổ biến với sản lượng lớn và trở thành một
trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta. Nhận thức được những giá trị to
lớn của hoạt động xuất khẩu đó, công ty cổ phần Tập đoàn Intimex đã lựa chọn cà phê là
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của mình. Tuy nhiên trong quá trình xuất khẩu cà phê, ngoài
những thành công, thuận lợi, công ty cũng gặp phải không ít khó khăn, hạn chế cần phải
khắc phục để nâng cao hiệu quả kinh doanh, đây cũng là lý do để em chọn đề tài “Thực
trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty cổ phần Tập đoàn Intimex”.
Đề tài tập trung phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty, những
khó khăn mà công ty gặp phải trong quá trình thực hiện quy trình xuất khẩu để từ đó đưa
ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu cà phê của
công ty.
Nội dung đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Giới thiệu công ty cổ phần Tập đoàn Intimex
Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty cổ phần Tập đoàn Intimex
2
Chương 3: Giải pháp – Kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu cà phê của
công ty cổ phần Tập đoàn Intimex
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được sự hỗ trợ to lớn từ giảng viên
hướng dẫn - cô Trần Thiện Trúc Phượng và từ phía công ty cổ phần Tập đoàn Intimex,

chế biến cà phê xuất khẩu chất lượng cao nằm ở các vùng trọng điểm sản xuất cà phê của
Việt Nam với tổng công suất 150.000 tấn/năm, 1 nhà máy chế biến tiêu sạch xuất khẩu
cùng 2 Trung tâm Thương mại đã hoạt động và đang xây dựng tại Buôn Ma Thuột và
Tây Ninh. Tổng tài sản của công ty đã lên đến trên 2.200 tỷ đồng, đó chính là cơ sở quan
trọng cho sự phát triển mới của công ty trong giai đoạn tiếp theo. (Nguồn: Công ty CP
Tập đoàn Intimex, 2011)
Từ một đơn vị kinh doanh thương mại thuần túy, công ty đã dần hình thành nhiều
ngành nghề mới như tham gia sản xuất chế biến nông sản, sản xuất vật liệu xây dựng,
tham gia hoạt động mua bán doanh nghiệp, tham gia đấu thầu các dự án xây dựng lớn,
nạo vét sông… bằng vốn ODA của Chính phủ như cảng Cái Mép (Bà Rịa – Vũng Tàu),
sông Sài Gòn…
Trong quá trình hình thành phát triển, công ty đã đạt được những thành tích và các
danh hiệu cao quý như sau:
• Bằng khen Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Thương mại trao tặng.
• Bằng khen Doanh nghiệp đã có thành tích xuất sắc trong tổ chức xuất khẩu Hồ tiêu
2006 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp.
• Giải thưởng Thương mại dịch vụ Việt Nam – Top Trade Services 2007 do Bộ Công
Thương, Báo Công Thương trao tặng.
• Chứng nhận Top Doanh nghiệp tiêu biểu 3 năm liên tiếp đạt giải thưởng Thương mại
Dịch vụ Việt Nam (2007-2008-2009) do Bộ Công Thương, Báo Công Thương trao
tặng.
• Chứng nhận Top 10 Doanh nghiệp Thương mại Dịch vụ xuất sắc 2010 do Bộ Công
Thương tổ chức.
• Là doanh nghiệp tư nhân lớn thứ 13 ở Việt Nam năm 2010 theo bảng xếp hạng VNR
500 do Báo Vietnamnet và Vietnam Report công bố.
• Bằng khen do Thủ tướng Chính phủ trao tặng cho ông Đỗ Hà Nam – Chủ tịch HĐQT
kiêm Tổng Giám đốc Công ty.
5
• Huân chương Lao động Hạng ba do Chủ tịch nước trao tặng cho tập thể Công ty Cổ
phần Tập đoàn Intimex và cá nhân ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng

Đầu tư xây dựng cơ bản, Phòng Tổ chức Hành chính, Phòng Kinh tế tổng hợp,
Trung tâm thương mại.
Hình 1.1: Cơ cấu tổ chức công ty
(Nguồn: Công ty CP Tập đoàn Intimex, 2011)
Hội Đồng Quản Trị có vai trò quan trọng nhất trong hệ thống tổ chức của công ty, có
nhiệm vụ tổ chức các phiên họp với sự tham gia của Ban Kiểm soát để bàn bạc, thống
nhất các nội dung thuộc thẩm quyền của Hội Đồng Quản Trị nhằm mục tiêu tập trung chỉ
đạo định hướng, giám sát hoạt động, hỗ trợ kịp thời cho Ban Giám đốc thông qua việc
ban hành các nghị quyết, quyết định liên quan đến định hướng hoạt động sản xuất kinh
doanh, định hướng đầu tư thực hiện dự án, cũng như công tác tổ chức nhân sự lãnh đạo
của Công ty cho phù hợp với quy chế, quy định hiện hành của Công ty và pháp luật.
7
1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty
Công ty được các đối tác trong và ngoài nước biết đến là một đơn vị xuất nhập khẩu
uy tín với các mặt hàng nông sản xuất khẩu như cà phê, hạt điều, hồ tiêu, sắn lát… Bên
cạnh hoạt động xuất nhập khẩu, công ty còn đẩy mạnh kinh doanh nội địa bằng việc thiết
lập các mạng lưới bán buôn, bán lẻ, hệ thống siêu thị Công ty đặc biệt chú trọng đến
chất lượng sản phẩm và đã đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến cà phê rất hiện đại để
cho ra những sản phẩm chất lượng cao phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Bảng 1.1 dưới đây cho thấy sau hơn 10 năm hoạt động, công ty đã đạt những bước
phát triển vượt bậc với kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt hơn 40 triệu USD vào năm
2000 đã tăng gấp 13 lần, đạt gần 520 triệu USD vào năm 2010.
Bảng 1.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu, doanh thu công ty qua các năm
Năm
Kim ngạch XNK (USD)
Tổng doanh thu (tỷ đồng)
2000
40.537.231,35
532,014
2001

8
Năm 2008 khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra làm cho tình hình kinh tế thế giới
cũng như kinh tế Việt Nam có nhiều biến động phức tạp. Giá hàng hóa nông sản cũng vì
thế sụt giảm. Trong lúc nhiều doanh nghiệp xuất khẩu trong nước gặp nhiều khó khăn về
đầu ra do tác động khủng hoảng kinh tế thế giới thì công ty vẫn giữ vững đà tăng trưởng
mạnh với kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 315 triệu USD.
Đến nay, Công ty và các đơn vị thành viên trở thành đơn vị xuất khẩu cà phê hàng
đầu Việt Nam với tổng lượng xuất khẩu là 270.000 tấn/năm, chiếm hơn 20% lượng xuất
khẩu của cả nước. Công ty cũng đứng thứ 3 Việt Nam về xuất khẩu hạt điều chế biến với
số lượng trên 10.000 tấn/năm, đứng thứ 3 về xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam với số
lượng gần 10.000 tấn/năm. (Nguồn: Công ty CP Tập đoàn Intimex, 2011)
Về nhập khẩu: Công ty là nhà nhập khẩu thực phẩm đông lạnh hàng đầu Việt Nam
với số lượng bình quân là 1.000 tấn/tháng, cung cấp cho thị trường TPHCM, Hà Nội và
các tỉnh thành trên cả nước. (Nguồn: Công ty CP Tập đoàn Intimex, 2011)
Hình 1.2: Doanh thu và lợi nhuận bán hàng, cung cấp dịch vụ giai đoạn 2008 - 2010
Đơn vị tính: Tỷ đồng
(Nguồn: Công ty CP Tập đoàn Intimex) – xem thêm phụ lục 1
9
Qua hình 1.2 cho thấy mức độ gia tăng lợi nhuận của công ty qua các năm là khá
cao. Năm 2008 tổng lợi nhuận chỉ đạt 19,128 tỷ đồng và có giảm sút đôi chút vào năm
2009 do tác động của khủng hoảng kinh tế nhưng đến năm 2010, tình hình kinh doanh
của công ty đã ổn định trở lại và tăng trưởng với lợi nhuận tăng gấp gần 1,5 lần so với
năm 2008, doanh thu cũng tăng 77% so với năm 2009.
Nhìn chung, kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm gần đây là
rất khả quan. Dù gặp không ít khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
nhưng nhờ có sự chuyển hướng kịp thời cũng như chiến lược đa dạng hóa đã giúp công
ty hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của khủng hoảng và giữ vững đà tăng trưởng ổn
định, khẳng định vị thế của một doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng đầu Việt Nam.
10
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA

là Việt Nam, Columbia, Indonesia, Côte d'Ivoire, Mexico, Ấn Độ, Guatemala, Ethiopia,
Uganda, Costa Rica, Peru và El Salvador.
Hình 2.1: Thị phần cà phê thế giới năm 2010
(Nguồn: Chris Woodford, 2011)
Ở Việt Nam, niên vụ cà phê được tính từ tháng 10 đến hết tháng 9 năm sau (theo
dương lịch). Thời gian thu hoạch tại các tỉnh Tây Nguyên (là nơi sản xuất khoảng 80%
tổng sản lượng của Việt Nam) thường kéo dài trong 4 tháng, tính từ cuối tháng 10 đến
hết tháng 1 năm sau.
12
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, trong những
năm gần đây sản lượng cà phê Việt Nam luôn đạt mức trên 1 triệu tấn/năm với kim
ngạch đạt trên 1,5 triệu USD. Cà phê Việt Nam dành 95% cho xuất khẩu, chỉ 5% sản
lượng cho tiêu thụ nội địa. 95% sản lượng trên được bán cho các nhà buôn chính ở
London (Anh), New York (Mỹ) và từ đây sẽ được phân phối đến các nhà rang, xay. Và
theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), cứ 10,5 ly cà phê mà người dân các
nước trên thế giới uống có 1,5 ly từ Việt Nam. Với vị thế này, Việt Nam trở thành quốc
gia sản xuất và xuất khẩu cà phê xếp hàng thứ hai thế giới và đứng đầu thế giới về sản
xuất – xuất khẩu cà phê Robusta (cà phê vối)
Tuy nhiên, 98% lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam dưới dạng nguyên liệu thô, với
các tiêu chuẩn kỹ thuật vào loại trung bình trong các thang tiêu chuẩn cà phê xuất khẩu
thế giới. Trong khi đó, đối thủ cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam không chỉ đến từ
các quốc gia trồng cà phê như Brazil hay Colombia, mà còn đến từ các quốc gia có hoạt
động thương mại và chế biến cà phê phát triển như Đức, Mỹ hay Thụy Sĩ Vì vậy, việc
hiểu rõ được các đối thủ cạnh tranh trên thị trường cà phê thế giới, các khách hàng chủ
yếu và các sản phẩm được ưa chuộng là hết sức cần thiết để ngành cà phê Việt Nam có
thể duy trì và phát huy vị thế của mình trên thị trường thế giới.
2.2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty cổ phần tập đoàn Intimex
2.2.1 Quy trình xuất khẩu cà phê của công ty
Hiện nay, công ty giao dịch mua bán cà phê với các đối tác chủ yếu dựa vào hợp
đồng tương lai, thị trường hàng hóa Luân Đôn (LIFFE Market). Để thực hiện kí kết hợp

• Certificate of Weight (Giấy chứng nhận khối lượng)
Khi nhận được bộ chứng từ, khách ngoại kiểm tra tính hợp lệ và thực hiện thanh toán
cho công ty. Hợp đồng xuất khẩu cà phê sẽ thanh lý sau 45 ngày kể từ ngày giao hàng.
Ngay khi hoàn tất việc giao hàng, nhân viên giao nhận của công ty phải xác nhận
lượng hàng đã nhận từ khách nội và báo cho phòng kế toán thanh toán tiền hàng cho
khách nội. Sau 20 ngày nếu không có tranh chấp gì thì hợp đồng sẽ được thanh lý theo
đúng điều khoản thanh lý hợp đồng trong hợp đồng nội đã ký.
2.2.2 Kim ngạch xuất khẩu
Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty, đem về nguồn thu lớn. Năm 2008
kim ngạch xuất khẩu cà phê đã chiếm 93,33% kim ngạch xuất khẩu của toàn công ty và
tiếp tục tăng đến 95,8% trong năm 2010.
15
Sau khi thực hiện quá trình cổ phần hóa, hoạt động kinh doanh xuất khẩu của công ty
đã có bước phát triển vượt bậc. Năm 2006 kim ngạch xuất khẩu cà phê là 168,39 triệu
USD, tăng gần gấp đôi so với năm 2005.
Hình 2.3: Kim ngạch xuất khẩu cà phê của công ty giai đoạn 2006 – 2010
(Đơn vị tính: triệu USD)
(Nguồn: Phòng kinh doanh xuất khẩu công ty CP Tập đoàn Intimex, 2006, 2007, 2008,
2009, 2010)
Kim ngạch xuất khẩu cà phê tiếp tục tăng trưởng trong các năm tiếp theo, đạt 271,26
triệu USD trong năm 2008 và 271,48 triệu USD trong năm 2010. Như vậy chỉ trong
vòng 5 năm, kim ngạch xuất khẩu cà phê của công ty đã tăng thêm 103,09 triệu USD.
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của công ty có phần sụt giảm, nguyên nhân là do
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 khiến cho giá cà phê xuất
khẩu hạ xuống mức thấp, gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê.
Tuy nhiên, đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu cà phê của công ty đã tiếp tục ổn
định trở lại và công ty cũng đã trở thành doanh nghiệp xuất khẩu cà phê số 1 Việt Nam
với thị phần ấn tượng, chiếm 22% trong tổng sản lượng cà phê xuất khẩu của cả nước.
Đây là kết quả thế hiện những nỗ lực vượt bậc của toàn bộ cán bộ công nhân viên công
ty cùng với những chính sách hợp lý để thích nghi với môi trường cạnh tranh ngày càng

24,85
18,78
18,73
19,00
Tổng
168,39
256,8
271,26
270,93
271,48
(Nguồn: Phòng kinh doanh xuất khẩu công ty CP Tập đoàn Intimex, 2006, 2007, 2008,
2009, 2010)
Dựa vào bảng, có thể nhận thấy trong khoảng 5 năm từ năm 2006 đến năm 2010, cà
phê Robusta loại 2 luôn chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng gia tăng, từ 51,49% năm
2006 lên đến 57,9% năm 2010. Riêng năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kim
ngạch xuất khẩu có giảm nhẹ, nhưng tỷ trọng cà phê Robusta loại 2 xuất khẩu vẫn tăng.
Bên cạnh đó, tỷ trọng cà phê Robusta loại 1 lại có xu hướng giảm dần , từ 39,17%
năm 2006 xuống còn 35,1% năm 2010, mặc dù kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng từ 65,95
triệu USD năm 2006 lên 95,3 triệu USD năm 2010.
Cà phê Arabica còn chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong khối lượng xuất khẩu cà phê của
công ty, chỉ 7% trong năm 2010. Vì điều kiện tự nhiên thổ nhưỡng và khí hậu thời tiết
của nước ta không thuận lợi cho việc trồng cà phê Arabica, mặc dù giá trị của loại cà phê
này là khá cao, gấp 2 lần so với giống Rubusta loại 1. Do đó để tăng giá trị xuất khẩu,
công ty cần phải chú trọng vào việc nâng cao chất lượng cho giống cà phê Robusta.
17
2.2.4 Thị trường xuất khẩu
Trong những năm gần đây, sản phẩm cà phê của công ty thường được xuất khẩu sang
một số thị trường sau:
Hình 2.4: Kim ngạch cà phê xuất khẩu theo cơ cấu thị trường của công ty
giai đoạn 2006 – 2010

trường này của công ty còn hạn chế vì đây là khu vực có nhiều cường quốc sản xuất và
xuất khẩu cà phê như Brazin, Colombia… với những lợi thế về địa lý, am hiểu thị trường
• Thị trường Châu Á – Thái Bình Dương
Đây là thị trường quan trọng và đầy tiềm năng trong tương lai của công ty, tuy nhiên
tỷ trọng xuất khẩu cà phê của công ty vào thị trường này chỉ dừng lại ở mức hơn 5%.
Nguyên nhân chính là do thói quen sử dụng trà thay cho cà phê ở các nước châu Á.
19
2.3 Thuận lợi và khó khăn của công ty trong hoạt động xuất khẩu cà phê
2.3.1 Thuận lợi và khó khăn chung của các doanh nghiệp trong hoạt động xuất
khẩu cà phê
2.3.1.1 Thuận lợi
• Kinh tế Việt Nam mở cửa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận gần hơn
với các thị trường xuất khẩu tiềm năng, việc tham gia vào những hiệp hội sản
xuất, kinh doanh cà phê đã mang đến những cơ hội quảng bá sản phẩm, thương
hiệu cà phê Việt Nam đến với các bạn hàng thế giới.
• Các doanh nghiệp kinh doanh cà phê trong nước đã tích luỹ được kinh nghiệm
trên thương trường, thương thảo các hợp đồng ngoại thương bảo đảm quyền lợi
cho nhà xuất khẩu về phương thức thanh toán, chốt giá hạn chế được rủi ro
trong xuất khẩu.
• Công nghệ thông tin phát triển, nguồn thông tin về giá cà phê xuất khẩu trên thế
giới được cập nhập thường xuyên thông qua sàn giao dịch cà phê Luân Đôn
(LIFFE), đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể kiểm soát và lựa chọn giá bán hợp
lý và có lợi nhất.
• Những chính sách ưu đãi của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp như ưu đãi
thuế quan, không hạn chế về kim ngạch xuất khẩu ở các thị trường chủ lực đã
giúp các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, góp phần bình ổn giá cà
phê trong nước.
2.3.1.2 Khó khăn
• Việc gia nhập WTO đem đến nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt
Nam đồng thời cạnh tranh cũng trở nên khốc liệt hơn, đòi hỏi các doanh nghiệp

• Về nguồn cung sản phẩm: Nguồn cà phê xuất khẩu có xuất xứ từ Tây Nguyên, nơi
có nguồn hàng khá dồi dào, chất lượng ổn định, thu mua với khối lượng lớn nên
giá cả cạnh tranh hơn so với các đối thủ trong ngành.
2.3.2.2 Khó khăn
• Hoạt động tìm hiểu thị trường còn chưa được đầu tư đúng mức, công ty cũng chưa
có bộ phận marketing chuyên trách dẫn đến hạn chế trong việc tìm kiếm những
đối tác kinh doanh mới.
• Công ty không trực tiếp thu mua cà phê xuất khẩu từ các hộ nông dân mà thông
qua hệ thống các nhà cung cấp dẫn đến giá cà phê bị đẩy lên cao, ảnh hưởng đến
lợi nhuận xuất khẩu của công ty.
• Bên cạnh đó, công ty cũng chủ yếu xuất qua trung gian là những tập đoàn thương
mại cà phê lớn trên thế giới có văn phòng đại diện tại Việt Nam nên thiếu chủ
động về thị trường và bị ép giá.
• Điều kiện giao hàng trong các hợp đồng đều là FOB cũng là một hạn chế trong
hoạt động xuất khẩu của công ty vì không thể tận dụng được lợi nhuận từ việc
thuê tàu, mua bảo hiểm…
Tóm lại, qua những năm hình thành và phát triển, cà phê luôn là mặt hàng xuất khẩu
chủ lực, đem về nhiều lợi nhuận cho công ty. Tuy nhiên trong quá trình xuất khẩu cà
phê, ngoài những thành công, thuận lợi, công ty cũng gặp phải không ít khó khăn, hạn
chế.
22
Chương 3: GIẢI PHÁP - KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN
INTIMEX
Sau khi phân tích tình hình hoạt động kinh doanh xuất khẩu cà phê của công ty, ta đã
nhận xét được những thuận lợi và khó khăn của công ty trong quá trình kinh doanh xuất
khẩu. Dưới đây là một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy những mặt mạnh và giải
quyết những khó khăn, hạn chế trong hoạt động xuất khẩu cà phê của công ty:
3.1 Giải pháp
• Nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu

hàng mới, thị trường mới
Hiện nay, công ty chủ yếu thực hiện giao dịch cùng với những đối tác lâu năm vì vậy
hoạt động quảng bá để tìm kiếm khách hàng mới, thị trường mới chưa được chú trọng.
Một việc cần thiết là thu thập và phân tích những thông tin về thị hiếu khách hàng, thị
trường để tìm ra những khách hàng, thị trường tiềm năng cho sản phẩm cà phê của công
ty. Qua đó, cũng giúp cho những phương thức quảng bá được áp dụng phù hợp hơn, gia
tăng hiệu quả của việc quảng bá sản phẩm.
Tăng cường quảng bá sản phẩm công ty lên các sàn cà phê trực tuyến, tham gia vào
các hội chợ quốc tế là những phương thức quan trọng để công ty tìm kiếm được thêm
những khách hàng tiềm năng, thị trường tiềm năng.
Công ty cũng cần đầu tư tốt hơn cho website công ty, vì đây là một nguồn thông tin
quan trọng để khách hàng tìm hiểu về các sản phẩm của công ty.
• Chú trọng vào công tác nhân sự
Xây dựng cấu trúc lương cạnh tranh trên thị trường, hoàn thiện bảng tiêu chí đánh
giá, quy chế khen thưởng hợp lý, xác đáng để tạo động lực làm việc cho cán bộ công
24
nhân viên cũng như thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đến làm việc tại công ty. Xây
dựng và áp dụng các chương trình đào tạo nhằm nâng cao trình độ cán bộ quản lý các
cấp và nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên.
3.2 Kiến nghị
• Đối với Nhà nước
Nhà nước cần giúp đỡ các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc thu thập thông tin về
các thị trường xuất khẩu, hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế
để giới thiệu, quảng bá sản phẩm cà phê Việt Nam.
Duy trì chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà
phê thông qua tín dụng. Phối hợp với các ngân hàng thương mại để cung cấp tín dụng
cho người trồng cà phê, các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thông qua việc giảm bớt
các thủ tục vay vốn, các yêu cầu về tài sản thế chấp cũng như các điều kiện khác.
Nhà nước cần xây dựng hoàn thiện các bộ quy chuẩn về chất lượng, hỗ trợ các hộ
nông dân trồng cà phê áp dụng các tiêu chuẩn đó trong quá trình sản xuất. Mở các khóa

công ty để em có thêm những kinh nghiệm quý báu giúp cho công việc của mình trong
tương lai.
Em xin chân thành cảm ơn!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status