Tình hình hoạt động xuất khẩu khoáng sản tại Công ty cổ phần
tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB
2.1. Tổng quan về Công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản
và thương mại VQB
2.1.1.1. Lịch sử hình thành
Công ty Cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB được
thành lập vào ngày giải phóng thủ đô Hà Nội 10 tháng 10 năm 2005,
hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103009491 do
Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà nội cấp ngày 07 tháng 10 năm 2005
Ngày 06/09/2005 tại trụ sở Viện nghiên cứu Mỏ và Luyện kim hợp
đồng liên doanh thành lập Công ty Cổ phần sản xuất thiếc và khoáng
sản tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào số 09/VML-BACISCO được ký
kết giữa 2 pháp nhân là viện nghiên cứu mỏ và luyện kim và Công ty Cổ
phần Đầu tư Xây dựng Ba Đình.
* Viện nghiên cứu mỏ và luyện kim:
Viện nghiên cứu mỏ và luyện kim là viện nghiên cứu chuyên ngành,
thuộc Bộ Công nghiệp Việt Nam, được thành lập năm 1967.
Chức năng của Viện là nghiên cứu kim loại màu quý hiếm, thiết kế,
chế tạo thiết bị cơ khí, máy thiết bị khai thác mỏ, thiết kế xây dựng, tư
vấn đầu tư các công trình mỏ…
Hiện nay Viện nghiên cứu Mỏ và Luyện kim cung cấp cho Công ty
Cổ phần Tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB một đội ngũ chuyên
viên bao gồm các tiến sỹ, kỹ sư có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh
vực luyện kim, khai thác khoáng sản và chế tạo thiết bị mỏ.
* Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Ba Đình
Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Ba đình là Doanh nghiệp NN cổ
phần hóa theo quyết định thành lập số 3881/QĐ-UB ngày 04 tháng 08
năm 2000 của UBND thành phố Hà Nội.
Sau 5 năm hoạt động, Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Ba Đình
đã đạt được những bước tăng trưởng đáng kể. Từ số vốn khiêm tốn
-Nhận thực hiện các dịch vụ, giao dịch mua bán xuất nhập khẩu
theo yêu cầu của khách hàng.
Kinh doanh với nước ngoài:
Xuất khẩu thiếc và antimony sang thị trường như Malaixia, Nhật
Bản,…
2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản và
thương mại VQB
Tổ chức quản lý của Công ty Cổ phần tập đoàn khoáng sản và
thương mại VQB là sự kết hợp giữa quản lý theo chức năng về thương
mại; quản lý tập trung về tài chính, vốn và quản lý tập trung theo chế độ
giám đốc ủy quyền trong một số lĩnh vực cho phó giám đốc và các
phòng ban trực thuộc. Cấu trúc của Công ty được xây dựng theo định
hướng kinh doanh thương mại, tạo sự năng động và tính cạnh tranh về
tính hiệu quả ngay trong nội bộ Công ty, Ban Giám đốc trực tiếp tham
gia vào quy trình tổ chức điều hành các hoạt động kinh doanh.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quy mô và phương thức hoạt
động của mình, Công ty đã xây dựng Bộ máy tổ chức như sau:
Bảng 2.1: Bộ máy tổ chức và quy mô nhân sự của Công ty Cổ phần tập
đoàn khoáng sản và thương mại VQB
STT Cơ cấu Số lượng người
1 Ban Giám Đốc Tổng giám đốc: 01 người
Phó Tổng giám đốc: 01 người
2 Kế toán 05 người
3 Kinh doanh 04 người
4 Thủ quỹ 01 người
5 Lái xe 02 người
6 Chuyên gia 02 người
7 Công nhân 14 người
8 Lớp học nghề 21 người
9 Tạp vụ 02 người
Công ty chính thức có kì hạch toán đầu tiên kể từ ngày 01/01/2006.
Do đặc tính kinh doanh thuần tuý về thương mại, thị trường của Công ty
rất cạnh tranh về giá và thông tin tương đối hoàn hảo, tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu là khá tốt. Trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu, thời gian
luân chuyển hàng hoá và thời gian thanh toán lâu theo thông lệ quốc tế
nên hệ số quay vòng vốn chưa cao, tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu
chi nhánh khá cao. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua các
năm 2006,2007,2008 được đánh giá là khả quan (Xem Bảng 2.2).
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua các năm
ĐVT: Triệu đồng
Các chỉ tiêu 2006 2007 2008
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Doanh thu bán hàng Xuất khẩu
31167
26564
33919
28007
37294
34741
2. Các khoản giảm trừ.
- Thuế TTĐB, Thuế XK, GTGT theo
phương pháp trực tiếp phải nộp
461 522 672
3. Doanh thu thuần 30706 33397 36622
4. Giá vốn 29559 32278 35287
5. Lợi nhuận gộp bán hàng và cung cấp
dịch vụ
1047 1119 1335
6. Doanh thu hoạt dộng tài chính 13 17 12
7. Chi phí tài chính 50 62 43
(Nguồn:B/C TC của PITCO-Chi nhánh Hà Nội)
Nhìn chung kết quả kinh doanh của Công ty qua các năm là khả
quan. Tỷ suất lợi nhận trên doanh thu của công ty là khá cao, ổn định và
có mức tăng trưởng đều theo các năm. Điều này chứng tỏ tình hình tài
chính của Công ty đang tăng trưởng theo chiều hướng tích cực.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế của Công ty liên tục tăng trưởng với
mức cao và ổn định trong các năm 2006, 2007, 2008. Thêm vào đó tỷ
suất lợi nhuân trên vốn chủ sở hữu của Công ty là khá cao từ 3,52%
năm 2006 đến 5,22% năm 2008. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng
vốn của Công ty là khá cao, phản ánh sự nỗ lực của tất cả cán bộ công
nhân viên của Công ty.
2.1.4. Tình hình hoạt động xuất khẩu của Công ty Cổ phần khoáng sản
và thương mại VQB, giai đoạn 2006- 2008
* Kim ngạch và giá trị xuất khẩu
Trong hoạt động kinh doanh của Công ty thì hoạt động xuất khẩu
thiếc là hoạt động kinh doanh chính, chiếm phần lớn doanh thu trong
hoạt động kinh doanh của Công ty hiện nay. Công ty chủ yếu xuất khẩu
khoáng sản Thiếc (Sn) sang các thị trường như Malaixia, Nhật Bản,…
Bảng 2.4: Kim ngạch và giá trị xuất khẩu của Công ty qua các năm
Số liệu năm Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Kim ngạch(Tấn) 324 474 581,66
Giá trị (nghìn USD) 4.514,838 6.605,042 8.131,789
( Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương
mại VQB)
Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ, ta nhận thấy rằng, thị trường
Malayxia vẫn là thị trường chiếm tỷ trọng xuất khẩu nhiều nhất về mặt
kim ngạch xuất khẩu, chiếm 63,4%. Tuy nhiên tỷ trọng này đã giảm đi so
với năm 2007 (72%). Điều này rất dễ hiểu bởi thị trường Nhật Bản và
các thị trường Đông Âu là các thị trường có nhu cầu rất lớn về mặt hàng
tiếp theo.
- Thị trường Nhật Bản
Thị trường Nhật Bản chiếm 25% kim ngạch xuất khẩu thiếc, đạt giá
trị hơn 2,1 triệu USD. Đây là thị trường đầy tiềm năng của Công ty. Hiện
tại, lượng thiếc xuất khẩu của Công ty vào thị trường này còn khá khiêm
tốn so với nhu cầu ngày càng cao của Nhật Bản. Song, trong một vài
năm tới, thị trường này sẽ là thị trường chủ yếu của Công ty. Khách
hàng của Công ty tại Nhật Bản là Công ty Tetsusho Kayaba.
Bảng 2.5: Bảng số liệu về thị trường xuất khẩu thiếc năm 2007
Các thị trường Giá trị ( USD) Tỷ trọng (%)
Malaysia 4.870.005 73 %
Nhật Bản 1.199.812 18 %
Các thị trường khác 535.225 9 %
( Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB)
Bảng 2.6: Bảng số liệu về thị trường xuất khẩu thiếc năm 2008
Các thị trường Giá trị ( USD) Tỷ trọng (%)
Malaysia 5.443.067 67 %
Nhật Bản 2.133.400 26 %
Các thị trường khác 555.322 7 %
( Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB)
Dựa vào biểu đồ 2.3 và 2.4 ở trên về thị trường xuất khẩu của
Công ty, Malayxia vẫn là thị trường chiếm tỷ trọng xuất khẩu nhiều nhất
73 % (năm 2007) và 67 % (năm 2008). Năm 2008 tỷ trọng xuất khẩu
sang Malaixia đã giảm đi so với năm 2007 vì thị trường Nhật Bản và các
thị trường Đông Âu, Trung Quốc… là các thị trường có nhu cầu rất lớn
về mặt hàng thiếc thỏi và nhu cầu này đang có xu hướng tăng. Mặt
khác, để có thể phát triển thành một Công ty hàng đầu trong lĩnh vực
khai khoáng, thì mục tiêu của Công ty là mở rộng thị trường xuất khẩu.
Trong những năm tới thị trường Malayxia vẫn sẽ là thị trường chiếm tỷ
trọng xuất khẩu chủ yếu của Công ty, nhưng tỷ trọng xuất khẩu vào thị
99,565 0,03 0,02 0,03 0,25 0,05 0,05 0,02 0,435
Sn
98,490
98,490 0,03 0,02 0,10 1,00 0,06 0,03 0,02 1,51
Sn
96,430
96,430 0,05 0,02 0,10 3,00 0,10 0,03 0,02 3,570
(Nguồn Báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm của Công ty cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại
VQB )
2.2. Thực trạng thực hiện quy trình hoạt động xuất khẩu khoáng sản tại Công ty
cổ phần tập đoàn khoáng sản và thương mại VQB