Phần mở đầu
1. Sự cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc góp
phần bảo đảm ổn định đời sống cho ngời lao động, ổn định chính trị, trật tự an
toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nớc, bảo vệ tổ quốc. Thực hiện
tốt chính sách BHXH trên nguyên tắc công bằng và tiến bộ xã hội trong hệ
thống chính sách xã hội, sẽ là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, là yếu tố
quyết định cho sự ổn định và phát triển kinh tế, phát triển xã hội.
Xã hội ta là xã hội vì con ngời; đặt con ngời vào vị trí trung tâm của
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và lấy việc nâng cao chất lợng cuộc sống
con ngời làm mục tiêu phục vụ. Đảng ta luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế
phải đi đôi với giải quyết tốt vấn đề xã hội. Từ ngày đầu thành lập nớc Việt
Nam dân chủ cộng hoà đến nay Đảng và Nhà nớc ta đã luôn quan tâm đến
ban hành, bố sung, sửa đổi các chính sách Xã hội trong đó có chính sách
BHXH phù hợp với từng thời kỳ.
Tuy nhiên, chính sách BHXH hiện hành còn còn có mặt hạn chế. Số lao
động tham gia bảo hiểm xã hội mới chỉ chiếm khoảng 15% lao động xã hội,
chủ yếu là cho đối tợng BHXH bắt buộc do Bộ Luật lao động điều chỉnh (lao
động trong khu vực Nhà nớc và lao động làm việc trong các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên).
Hiện nay, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa lại
càng đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề xã hội. Chủ trơng của Đảng và
Nhà nớc ta là từng bớc mở rộng đối tợng tham gia BHXH cho lao động toàn
xã hội và trong tất cả mọi thành phần kinh tế là một chủ trơng đúng đắn và có
tầm chiến lợc. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu rõ:
Khẩn trơng mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội và thực
1
1
hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sống mọi thành viên cộng
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn trong các chính sách an sinh xã
hội của Đảng và Nhà nớc ta. Những năm qua các cơ quan quản lý nhà nớc về
kinh tế - xã hội, các nhà khoa học đã có nhiều đề tài nghiên cứu đề xuất chính
sách chế độ cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
BHXH Việt Nam từ khi thành lập đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về
BHXH trên cả lĩnh vực khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, đã và đang là
cơ sở để đề xuất với cơ quan quản lý nhà nớc hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi về
chính sách, chế độ và cơ chế quản lý BHXH.
Các khoá đào tạo, bồi dỡng lý luận chính trị cao cấp của Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhiều học viên đã có những đề tài nghiên
cứu ở từng nội dung khác nhau liên quan đến bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên các
đề tài mới chỉ tập trung phân tích sự bất cập của chính sách, chế độ và cơ chế
quản lý bảo hiểm xã hội đối với đối tợng hiện đã và đang tham gia BHXH
theo quy định hiện hành, cha nghiên cứu để triển khai tổ chức thực hiện
BHXH đối với khu vực kinh tế tập thể, cụ thể là ngời lao động làm việc trong
các HTX phi nông nghiệp, trong đó có các HTX CNTTCN.
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu:
4.1. Cơ sở lý luận:
- Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh về chính
sách xã hội.
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nớc về chính sách xã hội và chính
sách BHXH.
- Lý luận xã hội học về chính sách xã hội và chính sách BHXH.
- Các công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học, giáo trình kinh tế bảo
hiểm, tài liệu tổng kết về hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và số liệu trong niên
giám thống kế qua một số năm...
4.2. Phơng pháp nghiên cứu:
3
3
Sử dụng các phơng pháp và kỹ thuật điều tra xã hội học kết hợp với
theo quy luật từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội
khác. Sự phát triển của xã hội loài ngời đợc xem là quá trình lịch sử tự nhiên.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã vạch ra bộ khung lý luận cơ bản làm nền tảng
cho xã hội học mác xít đi sâu nghiên cứu chính sách xã hội, coi chính sách xã
hội là bộ phận không thể tách rời khỏi đối tợng nghiên cứu của nó.
Chính sách xã hội là công cụ tác động vào những quan hệ xã hội nhằm
giải quyết những vấn đề xã hội đang dặt ra, góp phần thực hiện công bằng,
bình đẳng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con ngời.
Một trong những luận điểm trọng tâm trong lý thuyết xã hội học của
Mác là con ngời đóng vai trò vừa là chủ thể của xã hội, vừa là khách thể chịu
sự chi phối của xã hội. Nghiên cứu xã hội học về chính sách xã hội là nghiên
cứu những nguyên nhân, đặc điểm và tính chất của những khác biệt xã hội
nhằm điều chỉnh hoặc làm giảm bớt những hậu quả của chúng, tạo điều kiện
tối u cho các hoạt động lao động, môi trờng lao động và môi trờng sống của
con ngời.
Chính sách xã hội sẽ nhằm đạt tới những mục tiêu sau:
Một là: góp phần giải quyết những hậu quả xã hội có tính lịch sử nh:
tàn d chiến tranh, hậu quả của chủ nghĩa thực dân, tàn d của phong tục tập
quán lạc hậu, bảo thủ...
Hai là: Xác định và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh
do chính tình trạng lạc hậu về kinh tế, văn hoá, xã hội và những hệ quả của
5
5
ngay sự phát triển tạo ra, làm sao tạo đợc môi trờng tự nhiên và xã hội tốt nhất
cho sự phát triển của mỗi ngời, mỗi nhóm xã hội, bảo đảm cho họ phát huy
cao nhất những khả năng sẵn có của mình.
Chính sách xã hội chỉ có thể thực hiện đợc một cách triệt để một khi
chế độ công hữu về t liệu sản xuất phù hợp với trình độ xã hội hoá cao của lực
lợng sản xuất giữ địa vị thống trị và nhà nớc thực sự của dân, do dân, vì dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đề cập một cách tóm tắt, mộc mạc:" làm cho mọi
phối lại thu nhập. Bao gồm: chính sách tiền lơng, chính sách phúc lợi xã hội,
chính sách BHXH, chính sách u đãi xã hội, chính sách cứu trợ xã hội.
+ Nhóm chính sách xã hội tác động đến lĩnh vực hoạt động văn hoá
tinh thần. Bao gồm: chính sách giáo dục, chính sách khuyến khích phát triển
văn hoá, nghệ thuật.
1.1.3. Bảo hiểm xã hội là một bộ phận quan trọng của chính sách xã
hội:
Nh phần trên đã trình bày, trong hệ thống chính sách xã hội, BHXH
thuộc nhóm chính sách xã hội tác động vào quá trình phân phối và phân phối
lại thu nhập. BHXH cần cho tất cả mọi ngời trong mọi giai tầng xã hội bất
luận giầu hay nghèo, địa vị xã hội cao hay thấp. Thực tế tai nạn rủi ro không
trừ một ai. Do đó đảm bảo sự cân bằng thu nhập cho ngời lao động khi họ mất
hoặc giảm sút khả năng lao động là hết sức cần thiết. Xã hội nào hệ thống
BHXH càng tốt thì xã hội càng phát triển ổn định, ngời lao động càng yên
tâm, tha thiết với sản xuất.
T tởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở
nớc ta là" Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân,
trớc hết là nhân dân lao động". ở từng giai đoạn, từng thời kỳ Đảng và Nhà n-
ớc ta luôn chú trọng đến các vấn đề thuộc chính sách xã hội trong đó có
BHXH.Trong Hiến pháp đợc Quốc hội nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
thông qua ngày 31/12/1959, tại Điều 32 đã ghi rõ quyền của ngời lao động đ-
ợc giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động. Ngày 27/
7
7
12/1961 Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số
218/CP ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân
viên chức Nhà nớc. Khi định hớng phát triển các lĩnh vực chủ yếu trong đó có
chính sách giải quyết một số vấn đề xã hội, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII, Đảng ta xác định phải giải quyết tốt việc: Thực hiện và hoàn thiện
chế độ BHXH, bảo đảm đời sống ngời nghỉ hu đợc ổn định, từng bớc đợc cải
sự bảo hộ của Nhà nớc theo Pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho
ngòi lao dộng và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội."
Bảo hiểm xã hội cần cho tất cả mọi ngời trong mọi giai tầng xã hội bất
luận giầu hay nghèo, địa vị xã hội cao hay thấp. Do đó đảm bảo sự cân bằng
thu nhập cho ngời lao động khi họ mất hoặc giảm sút khả năng lao động là
hết sức cần thiết. Xã hội nào hệ thống BHXH càng tốt thì xã hội càng phát
triển ổn định, ngời lao động càng yên tâm, tha thiết với sản xuất.
1.2.2. Chính sách Bảo hiểm xã hội:
Chính sách Bảo hiểm xã hội là những chủ trơng, quan điểm, nguyên tắc
BHXH để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo
ngời lao động và các vấn đề kích thích phát triển kinh tế của từng thời kỳ.
Chính sách BHXH nằm trong hệ thống chính sách xã hội. Trong mỗi giai
đoạn phát triển kinh tế khác nhau, chính sách BHXH đợc Nhà nớc đề ra và
thực hiện phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng
giai đoạn.
1.2.3. Chế độ Bảo hiểm xã hội :
Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH. Bao gồm các chế độ
trợ cấp nh: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già,
trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ
cấp mất ngời nuôi dỡng.
1.2.4. Trợ cấp BHXH:
Trợ cấp BHXH là khoản tiền do cơ quan BHXH trích từ quỹ BHXH để
chi trả cho ngời LĐ đã tham gia BHXH, khi họ bị giảm hay mất nguồn thu
9
9
nhập do bị suy giảm hoặc mất khả năng lao động, hoặc mất việc làm và hội tụ
đủ các điều kiện thụ hởng chế độ BHXH theo luật định.
1.2.5. Quỹ BHXH:
Hiện nay, cha có định nghĩa thống nhất về quỹ BHXH. Nhng có thể
hiểu quỹ BHXH là tổng số tiền đóng góp của những ngời tham gia BHXH,
nh chính bản thân mình bị ốm.
2.3. Chế độ trợ cấp thất nghiệp:
Ngời lao đông tham gia BHXH, nếu có đủ điều kiện quy đinh, khi bị thất
nghiệp (mất việc làm và cha tìm đợc việc làm), đợc BHXH trả một khoản trợ cấp
thất nghiệp để ổn định tạm thời cuộc sống của bản thân và gia đình họ trong thời
gian thất nghiệp.
2.4. Trợ cấp hu trí (hay còn gọi là trợ cấp tuổi già):
Ngời lao động khi hết tuổi lao động, có tham gia BHXH và có đủ các điều
kiện quy định, sẽ đợc BHXH trả trợ cấp hu trí để sống và nghỉ ngơi trong những
năm cuối đời.
2.5. Chế độ tử, tuất: gồm hai loại trợ cấp:
- Ngời lao động khi tham gia BHXH, không may bị chết (do ốm đau,
tai nạn, già cả...) đều đợc BHXH trợ cấp một khoản tiền để làm các thủ tục
mai táng, chôn cất cho ngời đã quá cố. Khoản trợ cấp này gọi là tiền mai
táng đợc trả cho ngời đứng ra làm việc này.
- Ngời lao động có tham gia BHXH, không may bị từ trần, thì ngoài trợ
cấp khi chết (nh đã nêu ở phần trên), những ngời thân sống dựa vào nguồn
thu nhập của ngời đã chết còn đợc BHXH trợ cấp một khoản tiền từ quỹ
BHXH gọi là trợ cấp mất ngời nuôi dỡng (hay trợ cấp tuất, trợ cấp cô nhi, quả
phụ).
11
11
2.6. Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:
Ngời lao động khi tham gia BHXH, trong quá trình lao động, làm việc,
sản xuất và kinh doanh, dịch vụ không may bị tai nạn lao động (TNLĐ)
không do lỗi của cá nhân ngời lao động gây ra, hoặc bệnh nghề nghiệp
(BNN), sẽ đợc chữa chạy không phải mất tiền (tiền chữa chạy do ngời chủ sử
dụng lao động trả). Sau đó, nếu sức khoẻ và khả năng lao động bị giảm sút
dẫn đến nguồn thu nhập bình thờng bị giảm, ảnh hởng đến cuộc sống lâu dài,
sẽ đợc BHXH trả một khoản trợ cấp, gọi là trợ cấp tai nạn lao động & bệnh
khẳng định thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều
thành phần. Điều này đã đợc nêu rõ bằng những chủ trơng, chính sách và quy
định cụ thể trong các văn bản sau: Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị
(15/7/1988) về phát triển kinh tế ngoài quốc doanh; Nghị định 221/HĐBT và
222/HĐBT ngày 23/7/1991 của Hội đồng Bộ trởng ban hành những quy định
cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp t nhân và Luật công ty. Đặc
biệt, nhà nớc đã ban hành Nghị định số 27/HĐBT và Nghị định 28/HĐBT
ngày 9/3/1988 về sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận
tải, trong đó có quy định cụ thể việc thực hiện các chính sách lao động và xã
hội đối với ngời lao động làm thuê ở các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh.
Ngày 18/4/1989 Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội đã ra Thông t số
09/LĐTBXH-TT hớng dẫn thực hiện các chính sách lao động và xã hội theo
tinh thần nghị định số 27 và 28 /HĐBT.
Thông t này có một số nội dung quy định cụ thể việc thực hiện các chế
độ BHXH đối với ngời lao động làm việc ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
nh sau:
Ngời lao động làm việc trong các HTX đợc hởng các quyền lợi BHXH
khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động (TNLĐ), hu trí hoặc chấm dứt hợp
13
13
đồng lao động, chết. Ngời chủ sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện
BHXH cho ngời lao động.
Về các chế độ BHXH gồm có:
a. Chế độ đối với ngời lao động bị ốm đau:
Ngời lao động bị ốm đau đợc đi khám bệnh và điều trị tại các cơ sở y
tế, bệnh viện, đợc hởng trợ cấp ốm đau và chi phí khám bệnh, thuốc men và
điều trị.
Thời gian và mức trợ cấp do ngời sử dụng lao động và ngời lao động
thoả thuận, nhng mức trợ cấp ốm đau không thấp hơn 70% mức tiền công th-
ng mức chi phí về chôn cất không đợc thấp hơn mức quy định của Nhà nớc
đối với công nhân viên chức xí nghiệp quốc doanh.
Mức trợ cấp vì mất ngời nuôi dỡng không thấp hơn 15 tháng tiền công
(nếu chết vì tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp), không thấp hơn 6
tháng tiền công ( nếu chết do ốm đau, hoặc bị tai nạn rủi ro).
Thông t này cũng quy định cách chi trả BHXH nh sau:
- Trợ cấp BHXH đối với các trờng hợp ốm đau, thai sản, TNLĐ, bệnh
nghề nghiệp và trợ cấp cho thân nhân ngời lao động bị chết trong khi đang
làm việc theo hợp đồng lao động thì do ngời chủ sử dụng lao động chi trả theo
chế độ quy định đã nêu ở trên.
- Mức BHXH cho các trờng hợp MSLĐ, hu trí, chấm dứt hợp đồng lao
động là 10% tiền công (mức bảo hiểm này đợc tính nh sau: Nếu mức tiền
công ghi trong hợp đồng lao động đã bao gồm 10% nói trên thì ngời chủ sử
dụng lao động (SDLĐ) có trách nhiệm giữ lại cho ngời lao động (LĐ), nếu
mức tiền công ghi trong hợp đồng lao động cha bao gồm 10% nói trên thì ng-
ời SDLĐ phải chi thêm và tổ chức chi trả theo 1 trong 3 phơng pháp sau:
+ ở những nơi có tổ chức BHXH thì chuyển cho tổ chức BHXH ở đó
để thực hiện BHXH cho ngời lao động.
15
15
+ Gửi vào 1 tài khoản riêng tại Ngân hàng cho từng ngời lao động nếu
đợc ngời lao động thoả thuận.
+ Chi trả trực tiếp hàng tháng cho ngời lao động, cùng lúc trả tiền công
để ngời lao động tự về BHXH khi nghỉ hu trí, mất sức hoặc chấm dứt hợp
đồng lao động.
II. cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện
BHXH trong các Htx CNTTCN
1. Đặc điểm các hợp tác xã công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp ở Việt
nam.
Hợp tác xã là một hình thức biểu hiện của kinh tế tập thể, là sản phẩm tất
nghề, lĩnh vực, quy mô sản xuất, kinh doanh, và địa bàn hoạt động; quyết
định hình thức và cơ cấu tổ chức sản xuất, kinh doanh; đợc phép xuất, nhập
khẩu, liên doanh, liên kết với các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nớc,
thuê khoán lao động theo các quy định của pháp luật Nhà nớc; kết nạp xã viên
mới, giải quyết việc xã viên xin ra khỏi HTX, khai trừ xã viên; quyết định việc
phân phối thu nhập và xử lý các khoản thua lỗ của HTX theo điều lệ của
HTX; quyết định việc khen thởng, kỷ luật những xã viên vi phạm điều lệ
HTX; buộc xã viên bồi thờng các khoản thiệt hại đã gây ra cho HTX; đợc
phép vay vốn ngân hàng và huy động các nguồn vốn khác, cho xã viên vay
vốn theo quy định của pháp luật; đợc bảo hộ bí quyết công nghệ, phát minh
sáng kiến, mẫu , mã sản phẩm theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, HTX
còn có nhiều quyền khác có liên quan theo quy định của pháp luật.
Cũng theo Luật HTX thì HTX còn có các nghĩa vụ sau: Sản xuất, kinh
doanh đúng ngành, nghề, mặt hàng đã đăng ký với Nhà nớc; thực hiện đúng
chế độ kế toán, thống kê, kiểm toán hiện hành; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
thuế, nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; bảo toàn và phát triển
vốn hoạt động của HTX, quản lý và sử dụng đất đợc Nhà nớc giao quyền sử
dụng theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và
các nghĩa vụ khác; bảo vệ môi trờng; bảo đảm các quyền lợi của xã viên và
17
17
thực hiện các cam kết kinh tế đối với xã viên; đóng BHXH cho xã viên theo
quy định của pháp luật; chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dỡng, nâng cao trình
độ, cung cấp thông tin để mọi xã viên tích cực tham gia xây dựng HTX và tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị - xã hội (đợc pháp luật công
nhận) hoạt động trong HTX.
Theo điều lệ mẫu HTX CNTTCN và HTX xây dựng đợc ban hành kèm
theo Nghị định số 44/CP ngày 29/4/1997 thì HTX CNTTCN là tổ chức kinh
tế tự chủ, do những ngời lao động có nhu cầu lợi ích chung, tự nguyện cùng
góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật, để sản xuất kinh doanh
dịch vụ của mình, đồng thời cũng tự quyết định việc phân phối thu nhập, đảm
bảo HTX và xã viên cùng có lợi.
- Chia lãi bảo đảm kết hợp hài hoà lợi ích của xã viên và sự phát triển của
HTX.
- Hợp tác và phát triển cộng đồng : Xã viên phải phát huy tinh thần tập
thể, nâng cao ý thức hợp tác trong HTX và trong cộng đồng xã hội, hợp tác
giữa các HTX ở trong nớc với nhau, cũng nh hợp tác với các HTX ở nớc
ngoài theo quy định của pháp luật.
5. Căn cứ vào Luật HTX thì có thể coi các HTX CNTTCN là các doanh
nghiệp tập thể, kinh doanh trên lĩnh vực CNTTCN.
6. Thành viên của HTX đợc gọi là xã viên. Một ngời có thể là xã viên
của nhiều HTX không cùng ngành, nghề, nếu điều lệ HTX không quy định
khác. Một HTX CNTTCN ít nhất phải có 9 xã viên, trong đó phải có 2/3 xã
viên có nghề chuyên môn phù hợp với ngành, nghề của HTX.
7. Hộ gia đình cũng có thể trở thành xã viên HTX. Điều kiện trở thành
xã viên HTX là hộ gia đình phải cử ngời đại diện cho mình có đủ tiêu chuẩn
xã viên, làm đơn xin vào HTX và chỉ có quyền lợi và nghĩa vụ nh một xã viên
khác.
19
19
8. Về quyền lợi và nghĩa vụ : Quyền lợi và nghĩa vụ của xã viên đợc ghi
rõ trong điều lệ mẫu HTX công nghiệp và xây dựng (ban hành kèm theo Nghị
định số 44/CP, ngày 29/4/1998), nhng ở đây cần lu ý một số điểm sau :
+ Về quyền lợi :
- Xã viên đợc u tiên làm việc cho HTX và đợc HTX trả công lao động
theo quy định trong Điều lệ của HTX. Thu nhập (tiền công) của xã viên là tuỳ
thuộc vào tình hình sản xuất, kinh doanh của các HTX mà họ tham gia và khả
năng lao động của họ, nên thờng không ổn định.
- Xã viên đợc hởng lãi chia theo vốn góp, công sức đóng góp của xã viên
và theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX.
(trong đó có chính sách, chế độ BHXH) còn bất cập và có mức độ.
12. Hình thức tồn tại của các HTX đa dạng, phong phú và thực hiện ở
mọi ngành, mọi nghề nh: Các tổ hợp tác, HTX cấp thấp, HTX cấp cao, Liên
hiệp HTX, Liên minh các HTX, HTX cổ phần, ...
13. Khi phong trào hợp tác hoá phát triển tốt theo đúng nghĩa của nó thì
HTX trong nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc thờng rất năng
động, linh hoạt trớc những thay đổi của thị trờng. Đặc biệt là với các nhu cầu
nhỏ, lẻ và phục vụ kịp thời cho địa phơng, do nó có khả năng nhanh chóng,
kịp thời chuyển hớng kinh doanh và mặt hàng chủ yếu, mức tăng giảm lao
động dễ dàng.
14. Nói chung nơi làm việc của các HTX CNTTCN có tính ổn định cao
và ít bị đe dọa mất nơi làm việc.
15. Tổ chức sản xuất kinh doanh và dịch vụ nói chung là gọn nhẹ, tổ
chức quản lý linh hoạt. Các quyết định quản lý đợc thực hiện nhanh, mặc dù
tình trạng thiếu tác phong công nghiệp của ngời xã viên là khá phổ biến, đặc
biệt là đối với các HTX cha chuyển đổi.
21
21
2. Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện các chế độ BHXH trong các
HTX CNTTCN.
2.1. Cơ sở chủ yếu để tổ chức thực hiện các chế độ BHXH:
Điều 140 của Bộ Luật Lao động đã nêu rõ:
1. Nhà nớc quy định chính sách về BHXH nhằm từng bớc mở rộng và
nâng cao việc bảo đảm vật chất, góp phần ổn định đời sống cho ngời lao động
và gia đình trong các trờng hợp ngời lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao
động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro và
các khó khăn khác.
2. Các loại hình BHXH Bắt buộc hoặc tự nguyện đợc áp dụng đối với
từng loại đối tợng và từng loại doanh nghiệp để bảo đảm cho ngời lao động đ-
ợc hởng các chế độ BHXH thích hợp.
động, ốm đau.. của ngời lao động tính trong những khoảng thời gian khác
nhau.
+ Sự tính toán khoa học đối với từng chế độ BHXH dựa trên cơ sở xác
định các nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến từng chế độ nói riêng và quỹ BHXH
nói chung.
+ Mức hởng BHXH phải thấp hơn mức chuẩn làm cơ sở để xác định
tiền đóng BHXH, đồng thời phải đảm bảo cân bằng thu- chi của quỹ BHXH.
Nhng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho ngời LĐ và gia đình họ.
Quá trình thực hiện cần đảm bảo các yêu cầu nh: tính hợp lý; tính
thống nhất; tính hệ thống; tính đồng bộ; tính kế thừa. Xác định đợc mô hình,
cơ cấu tổ chức bộ máy, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn. Đảm
bảo hệ thống bộ máy phải tinh, gọn.
2.2. Cơ sở lựa chọn các chế độ BHXH thực hiện trong các HTX
CNTTCN:
23
23
Để lựa chọn các chế độ BHXH sẽ thực hiện trong các HTX CNTTCN, tr-
ớc hết, cần phải căn cứ vào chính sách BHXH và các chế độ BHXH mà Đảng
và Nhà nớc ta đã ban hành. Sau đó có thể dựa vào các cơ sở chủ yếu sau để
điều chỉnh cho phù hợp.
Nh đã biết, chế độ BHXH là những biểu hiện cụ thể, những phơng tiện
thực hiện các mục tiêu của chính sách BHXH của một quốc gia nào đó. Chế
độ BHXH nêu lên sự bố trí, sắp xếp nhất định về các phơng tiện (khả năng tài
chính, điều kiện kinh tế - xã hội), phù hợp với những quy luật của từng nớc
trong các giai đoạn phát triển khác nhau.
Một chế độ BHXH thờng đợc xác định bởi các yếu tố sau: Đối tợng đợc
hởng BHXH; các trờng hợp đợc BHXH; điều kiện hởng; mức trợ cấp và thời
hạn hởng trợ cấp BHXH.
Những yếu tố này lại dựa trên cơ sở những căn cứ sau :
- Các nhu cầu tối thiểu và nhu cầu mở rộng của đối tợng đợc thụ hởng
tài chính trong BHXH thể hiện mối quan hệ nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu
cầu BHXH thông qua lợng vật chất nhất định của xã hội. Nhu cầu BHXH rất
rộng và phong phú, nhng khả năng đáp ứng lại phụ thuộc rất nhiều vào khả
năng tài chính. Khả năng tài chính, hay nói cách khác là nguồn tài chính (th-
ờng gọi là quỹ BHXH) phải do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH. Sự
đóng góp này tạo ra sự ràng buộc giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của
các bên tham gia BHXH. ở đây, thông qua việc đóng góp, BHXH đã kết gắn
và điều hòa các mâu thuẫn về lợi ích của các bên tham gia BHXH. Tuy nhiên,
trong mối quan hệ tài chính BHXH trong các HTX CNTTCN xác định đợc
mức đóng góp của các bên sao cho hợp lý lại là một vấn đề rất phức tạp.
+ Cơ sở để xác định mức trợ cấp BHXH trong các HTX CNTTCN:
Để xác định mức trợ cấp BHXH, phải dựa trên nhiều căn cứ khác nhau.
Nhng cơ sở chung nhất có thể gồm 2 nhóm sau :
- Hệ thống các nhu cầu cần thiết trong các trờng hợp BHXH.
25
25