Nghiên cứu chất lượng môi trường đất, nước khu vực đảo Cò, xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương - Pdf 22

Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường1

Học viên: Bùi Duy Anh

MỞ ðẦU
ðảo Cò thuộc xã Chi Lăng Nam huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương xưa kia
là vùng sình lầy ngập nước ven sông Hồng. Trải qua thời gian với nhiều biến cố,
vùng ngập nước ấy còn sót lại Chi Lăng Nam với hồ An Dương, ðảo Cò và các
ñầm ao, kênh rạch với cảnh quan nguyên sơ của vùng ñất ngập nước.
Vào ñầu những năm 90 của thế kỉ trước, ñịa danh này ñã ñược biết ñến khi
những ñàn cò ñầu tiên về trú ngụ trên ñảo nhỏ giữa vùng hồ An Dương. Từ ñó ñến
nay, hàng vạn chim nước các loài (chủ yếu là cò và vạc) tập trung về ñây ñã biến
ðảo Cò thành một ñịa ñiểm du lịch sinh thái ñộc ñáo của miền Bắc. Hàng năm ñịa
danh này thu hút từ 50 ñến 60 nghìn học sinh, sinh viên, cán bộ nghiên cứu, khách
du lịch trong và ngoài nước ñến học tập, nghiên cứu và tham quan.
Hồ An Dương với diện tích 8,3 ha, có chỗ sâu nhất tới 18m là môi trường lý
tưởng cho các loài cá sinh sống trong ñó có nhiều loài có tên trong Sách ðỏ Việt
Nam như cá măng kìm nổi tiếng qu ý hiếm, cá ngạnh, cá vền
Với hệ sinh thái ngập nước ña dạng và hiếm có trong vùng ñồng bằng sông
Hồng, trong những năm gần ñây ðảo Cò vùng hồ An Dương ñã thu hút ñược sự
quan tâm và ñầu tư của các tổ chức quốc tế. Nổi bật trong ñó là dự án “Xây dựng mô
hình trình diễn quản l ý, bảo vệ và khai thác hợp lý môi trường và tài nguyên vườn
chim Chi Lăng Nam” do Quỹ Môi Trường toàn cầu tại Việt Nam tài trợ ñã ñược
triển khai trong giai ñoạn 2001-2008, chủ yếu tập trung giáo dục và nâng cao ý thức
bảo vệ ñàn chim cũng như tính ña dạng sinh vật ðảo Cò, mở rộng diện tích cho ñàn
chim trú ngụ.
ðã từ lâu, huyện Thanh Miện nói riêng và tỉnh Hải Dương nói chung ñã xác


Học viên: Bùi Duy Anh

Chương I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ HỒ
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Hồ tự nhiên
Hồ tự nhiên là những chỗ sụt lún, trũng xuống như lòng chảo trên bề mặt trái
ñất và dần dần ñược nước lấp ñầy qua thời gian. Các chỗ sụt lún như vậy ñược tạo
thành do kết quả của hoạt ñộng kiến tạo hoặc sau các ñợt thiên tai như sông băng và
núi lửa.
Trong quá khứ, quá trình hình thành hồ quan trọng nhất ở vùng ôn ñới xảy ra
trong suốt và sau kỷ băng giá do sự dịch chuyển chậm của những khối băng khổng
lồ. Sự dịch chuyển này ñã tạo ra những chỗ sụt lún trên mặt ñất và sau ñó chúng
ñược lấp ñầy nước ñể tạo thành hồ. Những hồ lớn ở Bắc Mỹ như hồ Superior,
Michigan, Huron, Erie và Ontario, Vương Quốc Anh, bán ñảo Scandinavi và
Argentina ñều ñược hình thành bởi quá trình này [30].
Một quá trình hình thành hồ quan trọng khác là do hoạt ñộng kiến tạo với sự
dịch chuyển chậm của vỏ trái ñất và hoạt ñộng núi lửa ñã tạo thành các hồ sâu trên
trái ñất như hồ Baikal ở Nga và những hồ ở thung lũng Rift.
Khoảng 75% các hồ trên thế giới ñược hình thành vào cuối kỷ băng giá cách
ñây khoảng 10.000 năm. Các hồ ven biển ñược hình thành khoảng 6.000 năm trước
ñây khi mực nước biển ổn ñịnh. Những hồ ñược hình thành do kết quả của quá trình
kiến tạo có niên ñại rất lớn. Hồ Baikal nằm trong vết nứt kiến tạo ở Siberia ñược
ước tính ñã hình thành cách ñây hơn 20 triệu năm. Vùng rạn nứt lớn ở Châu Phi ñã
tạo thành các hồ có niên ñại và ñộ sâu tương tự nhau như hồ Malawi và hồ
Tanganyika [31].
Nguồn gốc của hồ giúp con người phán ñoán ñược các ñặc tính của nó.
Chẳng hạn như các hồ ñược hình thành bởi quá trình kiến tạo thường sâu hơn do
vậy có thời gian lưu nước dài hơn, các hồ này là môi trường sống của các loài ñặc

tích của các ñầm, hồ (bao gồm cả hồ tự nhiên và hồ nhân tạo) trên lục ñịa là 2,5
triệu ha, chiếm khoảng 1,8% diện tích lục ñịa. Hồ có diện tích lớn nhất thế giới là
hồ Caxpien với diện tích hơn 438.000 km
2
. Hồ sâu nhất thế giới là hồ Baikal ở
Siberia. Toàn bộ các hồ lưu giữ 100.000 km
3
nước ngọt, chiếm 6% tổng lượng nước
ngọt trên trái ñất. Phổ biến nhất là hồ và ñầm nhỏ [31].
Sự phân bố của các hồ chủ yếu ñược quyết ñịnh bởi sự khác nhau về ñiều
kiện ñịa chất và khí hậu. Ở Canada và Liên Bang Nga có rất nhiều hồ ñược tạo
thành do những vùng ñất này có nhiều vết lõm ñịa hình và lượng mưa lớn hơn nhiều
Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường5

Học viên: Bùi Duy Anh

so với lượng nước bốc hơi. Hồ phân bố ở tất cả các lục ñịa trên thế giới ngay cả ở
Nam Cực, một nơi xuất hiện rất nhiều hồ nước mặn. Cũng có trường hợp hồ ñược
hình thành ở bên dưới lớp băng dày hàng kilômét như hồ Vostok ở Nga. Do lượng
nước bốc hơi lớn, ở những vùng khô hạn và bán khô hạn có nhiều hồ nước mặn tự
nhiên [30].
Các hồ nhân tạo lưu giữ hơn 14% tổng lượng nước mưa. Theo số liệu năm
1997, toàn thế giới có khoảng 800.000 ñập ñang hoạt ñộng trong ñó có hơn 45.000
ñập lớn (ñộ cao > 15m hoặc ñộ cao từ 5 - 15m với dung tích > 3 triệu m
3
) [31].

cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất.
Việt Nam có khoảng 3.600 hồ nhân tạo với tổng diện tích các hồ lên tới 180
nghìn ha, trong ñó chỉ có chưa ñến 15% là các hồ cỡ lớn và trung bình (có dung tích
> 1 triệu m
3
hoặc ñộ cao > 10m). Một số hồ chứa lớn là Hòa Bình, Thác Bà (ở miền
Bắc), Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ và Sông Hinh (ở miền Nam).
Hồ nhân tạo thường ñược thiết kế và sử dụng ña mục ñích, trước tiên là phát
ñiện, ñiều tiết dòng chảy (cắt lũ và cấp nước vào mùa khô), phục vụ giao thông,
thuỷ lợi và du lịch [1].
1.1.3. Vai trò và chức năng của hồ
Hệ thống hồ, ñầm ñóng vai trò rất quan trọng ñối với vòng tuần hoàn nước.
Chúng tham gia vào chu trình bay hơi, mưa và các dòng chảy ở trên và dưới mặt
ñất. Bên cạnh ñó nước hồ có khả năng hấp thụ một lượng nhiệt lớn do vậy một
lượng lớn nước trong hồ có thể ñiều hòa khí hậu tại vùng ñó.
Các hồ tự nhiên và hồ chứa nhân tạo là môi trường sinh sống lý tưởng của rất
nhiều loài ñộng thực vật trong ñó có nhiều loài ñặc hữu mà không tìm thấy ở một
nơi nào khác trên trái ñất. Hồ chứa ñựng và cung cấp nước cho con người ñể phục
vụ sinh hoạt cũng như các hoạt ñộng sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sản xuất
ñiện. Hồ Tonle Sap ở Campuchia là một ví dụ ñiển hình về khả năng hạn chế lũ lụt
và hạn hán cũng như ñem lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân sống ven hồ và
khu vực hạ lưu. Bên cạnh ñó, hồ còn có tác dụng giảm thiểu chất ô nhiễm nhờ quá
trình lắng ñọng [32].
Hồ không những cung cấp cho con người một lượng lớn thủy sản mà còn là
nơi con người sử dụng ñể nuôi các loài cá và thủy cầm. Ở các nước ñang phát triển
phần lớn cuộc sống của dân cư sống ven hồ ñều phụ thuộc vào hệ ñộng, thực vật
của hồ. Hồ Malawi cung cấp ñến 70% lượng protein ñộng vật cho người dân, hồ
Tonle Sap hàng năm cung cấp khoảng 230.000 tấn cá, chiếm tới hơn 50% sản lượng
cá của cả nước. Hồ Victoria cung cấp sản lượng cá lớn nhất thế giới với hơn
300.000 tấn, trị giá 600 triệu ñô la Mỹ mỗi năm [32].

- Môi trường sống thủy sinh
- Giao thông ñường thủy
Chức năng về văn hóa
- Giá trị về cảnh quan
- Giá trị văn hóa và tâm linh
- Di tích lịch sử
- Môi trường giáo dục
Chức năng bổ trợ
- Nguồn nhiệt lượng
- Kiến tạo ñịa chất
- Tuần hoàn dinh dưỡng
- Cấu trúc vật chất
Nguồn: [31]
Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường8

Học viên: Bùi Duy Anh

1.2. TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NƯỚC HỒ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.2.1. ðặc ñiểm chung của hiện tượng ô nhiễm nước hồ
Hồ là một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Các chất dinh dưỡng trong nước hồ là
nguồn thức ăn cho thủy sinh vật (TSV). Rong, tảo và thực vật là sinh vật (SV) sản
xuất của hệ sinh thái. Chúng sử dụng ôxy hoà tan, ánh sáng và các chất tạo sinh (N,
P, Si…) và một số chất khác ñể tổng hợp các chất hữu cơ. SV tiêu thụ bao gồm
ñộng vật phù du, cá ăn rong, tảo, thực vật hay các chất hữu cơ vụn nát và các loài ăn
ñộng vật. Khi chết, xác ñộng thực vật bị phân huỷ bởi vi khuẩn và nấm (sinh vật
phân huỷ) trả lại môi trường các nguyên tố ñã ñi vào hệ ban ñầu.


1.2.2. Tình hình ô nhiễm môi trường nước hồ trên thế giới
Hơn 97% lượng nước của trái ñất ở các ñại dương và do vậy chỉ chưa ñầy
2,5% lượng nước là ở các lục ñịa. Trong khi ñó 70% lượng nước trên lục ñịa lại bị
ñóng băng tại hai cực và phần lớn lượng nước còn lại là nước mặn hoặc nằm ở sâu
trong lòng ñất mà con người chưa khai thác ñược. Vì vậy sự sống của toàn nhân
loại và các SV khác trên trái ñất phụ thuộc vào lượng nước chiếm chưa ñầy 1%
tổng lượng nước trên trái ñất ñược phân bố ở các hồ, ao, sông ngòi và túi nước
ngầm [30]. Tuy có tầm quan trọng như vậy nhưng lượng nước ñó hiện ñang bị
khai thác sử dụng một cách lãng phí và bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi các hoạt ñộng
của con người.
1.2.2.1. Ô nhiễm nước hồ ở Trung Quốc
Trong những năm gần ñây, tốc ñộ và diện tích các hồ bị phú dưỡng ở Trung
Quốc tăng lên một cách nhanh chóng. Trong một nghiên cứu về sự phú dưỡng ở 34
hồ từ năm 1988 - 1994 thì có ñến 26,5% số hồ với 1,503% tổng diện tích các hồ bị
phú dưỡng [33]. Tốc ñộ và mức ñộ phú dưỡng ở các hồ có kích thước nhỏ và trung
bình nhanh diễn ra nhanh hơn so với các hồ lớn, ñồng thời mức ñộ ô nhiễm ở các hồ
ñô thị và ven ñô cũng xảy ra nghiêm trọng hơn.
Nước hồ bị phú dưỡng là kết quả tổng hợp của các quá trình xảy ra trong hồ
và các tác ñộng bên ngoài. Các quá trình xảy ra bên trong hồ như sự thay ñổi cấu
trúc và chức năng của hệ sinh thái ñã phá vỡ sự cân bằng vật chất cũng như làm
giảm tính ñệm và khả năng tự làm sạch của hồ. Tác ñộng bên ngoài chủ yếu là sự xả
thải vào hồ nước thải sinh hoạt (NTSH) và sản xuất công nghiệp có chứa một lượng
lớn chất dinh dưỡng và vật chất hữu cơ vượt quá khả năng tự làm sạch của hồ.
Hàm lượng nitơ có trong nước ở hầu hết các hồ nhỏ, trung bình và một vài hồ
lớn ñều rất cao. Hàm lượng N-NH
4
+
trung bình ở 80% các hồ ñều lớn hơn 1 mg/l,
ñặc biệt hồ Moshuihu ở thành phố Vũ Hán có hàm lượng N-NH

số lượng các SV tiêu thụ bị giảm ñi ñáng kể. Chẳng hạn việc xây dựng công trình
thuỷ lợi ñã chặn ñường di cư của cá chép bạc và cá chép ñầu to, hai loài này chủ
yếu ăn thực vật phù du và mảnh vụn hữu cơ do vậy khi chúng biến mất hay suy
giảm số lượng thì quá trình phú dưỡng xảy ra mạnh hơn.
1.2.2.2. Ô nhiễm nước hồ ở Mỹ
a. Ô nhiễm kim loại nặng
Một nghiên cứu ñược tiến hành tại 74 hồ ñã cho thấy hàm lượng của các
KLN như Pb, Hg, Cd, Mg, Zn và Cu trong nước mặt tương ñối cao. Chúng có nhiều
trong nước thải của các khu mỏ, nhà máy giấy, nhà máy dệt, phân bón hóa học và
công nghiệp vận tải ñược ñổ trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hồ. NTSH và nước
chảy tràn cũng chứa một hàm lượng lớn các KLN ñộc hại như Cu, Pb, Cd, Zn, các
chất dinh dưỡng và vi khuẩn gây bệnh.
Tại rất nhiều hồ, khí quyển cũng ñóng vai trò quan trọng trong việc vận
chuyển các KLN và các chất ô nhiễm khác vào hồ. Nghiên cứu của Schmidtke và
Andren (1988) ñã cho thấy rằng có tới 50% lượng KLN ñược vận chuyển vào hồ
Lớn ở Bắc Mỹ là do nước mưa [34].
Sự có mặt của một lượng lớn các KLN trong các hồ sẽ hủy hoại ñời sống của
các TSV, làm ñộc nguồn nước và xâm nhập vào cơ thể con người qua chuỗi thức ăn
và nước uống gây ra các bệnh hiểm nghèo. Tính ñộc của các KLN phụ thuộc trực
tiếp và gián tiếp vào rất nhiều yếu tố trong ñó ñáng kể nhất là nồng ñộ và dạng tồn
tại của chúng.
Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường11

Học viên: Bùi Duy Anh

Các tính chất của nước cũng gián tiếp ảnh hưởng ñến sự hút thu các KLN của

Bắc Mỹ ở phần lãnh thổ Canada chủ yếu theo con ñường lắng ñọng khí quyển. Hàm
lượng DDT tổng số ở các hồ Superior, Michigan, Huron, Erie và Ontario lần lượt là
Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường12

Học viên: Bùi Duy Anh

90, 64, 65, 33 và 26 kg/năm, chiếm trung bình 31% tổng lượng DDT xâm nhập vào
các hồ [34].
Sự tích lũy sinh học các loại HCBVTV trong các loài TSV ở hồ Lớn ñược
xác ñịnh thông qua việc phân tích hàm lượng tổng số các chất DDT, Mirex và
Lindane (bảng 2) có trong cơ thể các loài thủy sinh ở hồ Ontario.
Bảng 2. Hàm lượng các HCBVTV có trong các loài thủy sinh ở hồ
Ontario (ng/l)

Hàm lượng
DDT
TS
Hàm lượng
Mirex
TS

Hàm lượng
Lindane
TS

Nước 0,3 - 57 0,1 0,4 - 11

1.2.3.1. Ô nhiễm nước các hồ trong ñô thị
Hầu hết các hồ trong khu vực ñô thị ñều tiếp nhận trực tiếp và gián tiếp một
lượng lớn NTSH và công nghiệp không qua xử lý xả thẳng vào hồ. Bên cạnh ñó
nước mưa từ các khu vực xung quanh chảy vào hồ mang theo rác bẩn ñã gây ra tình
trạng ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu tới ñời sống của các TSV và làm mất
mỹ quan khu vực xung quanh hồ.
Hà Nội có một hệ thống gồm 31 hồ tự nhiên và nhân tạo với tổng diện tích
khoảng 783 ha. Trong số ñó có 19 hồ thuộc khu vực nội thành, chiếm 68,9% về
diện tích. Hầu hết các hồ ở Hà Nội ñều là hồ tự nhiên như Hồ Tây, Hồ Gươm, Hồ
Trúc Bạch…Chúng có vai trò rất quan trọng trong việc ñiều tiết nước mưa [18].
Hiện nay ngoại trừ hồ Hoàn Kiếm là không tiếp nhận nước thải từ các cống
của thành phố ñổ vào còn lại phần lớn các hồ khác ñều tiếp nhận NTSH và nước
thải của các cơ quan xí nghiệp từ các tuyến phố và khu vực xung quanh. Các hồ có
diện tích lớn như hồ Tây và hồ Bảy Mẫu hàng ngày tiếp nhận lượng nước thải lần
lượt là 8.000 m
3
/ngñ và 12.000 m
3
/ngñ [18].
Bảng 3. Kết quả phân tích chất lượng nước ở một số hồ Hà Nội (9/2006)
Hồ

Chỉ tiêu
Thanh
Nhàn
Ba Mẫu

Phương

Mai

Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường14

Học viên: Bùi Duy Anh

Kết quả nghiên cứu (bảng 3) ñược tiến hành vào năm 2006 về mức ñộ ô
nhiễm nước tại một số hồ ở Hà Nội cho thấy hàm lượng lớn chất hữu cơ (BOD
5
từ
27,6 - 84,0 mg/l) và các nguyên tố dinh dưỡng nitơ, phốtpho (NH
4
+
từ 3 - 10 mg/l,
PO
4
3-
từ 1,5 - 10 mg/l) ñã tạo ñiều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tảo. Nước có
màu xanh lục ñến xanh ñen do sự phát triển quá mức của tảo và có mùi tanh, hôi
thối. Xác chết của tảo và SV phù du khi lắng xuống cùng với cặn trong nước thải
tạo nên lớp trầm tích ñọng ở ñáy hồ, làm cho hồ nông dần theo thời gian nhất là ở
các vùng ñầu hồ, nơi trực tiếp nhận nước thải. Ở hầu hết các hồ, chiều sâu lớp bùn
ñáy dao ñộng từ 1,5 - 2,0m. ðây là nguyên nhân làm giảm khả năng ñiều tiết của hồ
và gia tăng mức ñộ ô nhiễm môi trường nước.

Nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước
của các hồ ở Hà Nội là do việc tiếp nhận trực tiếp các nguồn nước thải bao gồm :
- Nước thải sinh hoạt: Từ các khu sinh hoạt của dân cư chưa hoặc ñã ñược

số còn lại ñược ñổ vào các khu ñất trống, bờ hồ và kênh mương. ðây là nguồn gây
ô nhiễm không thường xuyên.
Sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở các hồ không những hủy hoại hệ
sinh thái trong hồ mà còn gây hại tới sức khỏe của người dân khu vực xung quanh
và làm mất mỹ quan ñô thị. Một vài phát biểu của người dân về tình trạng ô nhiễm
ở các hồ như sau:
Ông Lâm phường Văn Chương, quận ðống ða (Hà Nội) nói: “Bước vào nhà
tắm một luồng hôi thối xộc thẳng vào mặt ông. Ông mở cửa sau liền bị một binh
ñoàn ruồi nhặng, côn trùng ùa lên mắt mũi. Trước mặt ông là vũng nước ñen ngòm
tanh tưởi, ñặc quánh mà con ông gọi là hồ. Nhiều chỗ rác rưởi vun cao thành
những gò ñồi sừng sững giữa hồ. Chung sống với “cái rốn cặn bã ñô thị” ñúng 30
tiếng ñồng hồ, ông ñổ bệnh và quyết ñịnh tạm biệt con cháu khẩn cấp cùng cái hồ
sau nhà mang tên rất thanh cao - Linh Quang ñể về quê”
Anh Hoàng Ngọc Hòa, phó giám ñốc Xí nghiệp Xây dựng công trình 2, ñơn
vị ñang thi công kè hồ Văn Chương nói: “Nước thải của hàng trăm hộ dân, một cái
chợ và hàng chục cơ quan ngày ñêm tháo ồng ộc xuống hồ. Với gần 2 ha mặt nước
nhưng hồ ñang chứa khoảng vài vạn tấn rác thải, bùn thối. Dân xung quanh gần
như ai cũng ñi ñổ rác ngoài hồ nước. Ngày nào cũng có chừng vài tấn rác ném
xuống hồ”
1.2.3.2. Suy giảm chất lượng nước ở các hồ tự nhiên và hồ chứa nhân tạo
a. Hồ Bàu Trắng
Hồ Bàu Trắng hay còn gọi là Bàu Bà thuộc xã Hòa Thắng, huyện Bắc Bình,
tỉnh Bình Thuận là hệ thống hồ nước ngọt tự nhiên gần biển lớn nhất Việt Nam với
dung tích hơn 12 triệu m
3
. ðây là nguồn nước quý giá không chỉ phục vụ ñời sống
người dân mà còn cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và phát triển rừng
Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường


Hồ nằm ở bậc thang ñiều tiết nước cuối cùng trên sông ðồng Nai và La Ngà với
diện tích lưu vực vào khoảng 1.480 km
2
bao gồm lưu vực sông ðồng Nai và sông
La Ngà.
Kết quả phân tích về các chỉ tiêu hóa lý mẫu nước của hồ cho thấy hàm lượng
chất hữu cơ trong nước vẫn nằm trong tiêu chuẩn chất lượng nước mặt (CLNM)
TCVN 5942:1995 loại B. Giá trị BOD
5
và COD ño ñược ở các tầng nước có xu
hướng tăng dần theo chiều sâu với mức ñộ tăng giữa các tầng dao ñộng trong
khoảng 0,24 - 0,65 mg/l [25].
Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường17

Học viên: Bùi Duy Anh

Tuy nhiên tại các ñiểm cục bộ như cống xả của nhà máy ñường, xung quanh
các khu nuôi cá bè thì chất lượng nước bị suy giảm nghiêm trọng ñặc biệt vào mùa
khô với hàm lượng sắt tổng số, chất hữu cơ và coliform tổng số ở mức cao. Nguồn
gây ô nhiễm chủ yếu là từ lượng thức ăn thừa của các làng cá bè tồn lưu trong nước,
phân cá thải ra trong quá trình sinh trưởng và chất thải của nhà máy chưa qua xử lý.
Trong giai ñoạn mùa mưa, nguồn gây ô nhiễm chất hữu cơ chủ yếu là do quá
trình phân hủy các loài thực vật ở vùng bán ngập khi mực nước lên cao gây ngập
vùng này. Theo kết quả ñiều tra, diện tích vùng ven hồ Trị An ñang bị cây Trinh Nữ
(Mimosa pigra) che phủ lên tới 10.000 ha, chiếm gần 30,83% tổng diện tích mặt hồ
và có thể thải vào hồ một lượng chất hữu cơ từ 120.000 - 150.000 tấn/năm. ðây là

DO (mg/l) 0,55 - 0,75 1,05 - 1,65 ≥ 6 ≥ 2
COD (mg/l) 324,7 - 360,6 118,8 - 151,23 ≤ 10 ≤ 35
BOD
5
(mg/l) 182,7 - 239,6 52,05 - 75,07 ≤ 4 ≤ 25
Nguồn: [25]
Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường18

Học viên: Bùi Duy Anh

Tuy nhiên vào mùa khô, các kênh tiêu tiếp nhận nước thải từ thị xã Tây Ninh
và nhà máy ñường Tây Ninh ñã bị ô nhiễm cục bộ nghiêm trọng với hàm lượng các
chỉ tiêu NH
4
+
, DO, COD và BOD
5
rất cao, vượt tiêu chuẩn CLNM loại B nhiều lần.
Vào mùa mưa, nhờ lưu lượng nước lớn ñã pha loãng các chất ô nhiễm nên hàm
lượng các chỉ tiêu trên ñã giảm ñi ñáng kể so với mùa khô.
Các nguyên nhân chính làm thay ñổi chất lượng nước hồ Dầu Tiếng:
- Hoạt ñộng công nghiệp: Nước thải của các nhà máy công nghiệp, chế biến
nông sản mỗi ngày thải ra hàng ngàn tấn chất cặn bã. Hiện tại có 4 vị trí nước thải
trực tiếp vào hồ Dầu Tiếng từ các nhà máy sản xuất nông sản gồm nhà máy ñường,
công ty liên doanh mì Tân Châu, cơ sở chế biến mủ cao su ðịnh An và công ty cổ
phần chế biến cao su Bình Mỹ. ðặc ñiểm chung là nước thải của các cơ sở này chỉ

qua rạch Tây Ninh. Nước thải sinh hoạt với hàm lượng lớn các chất dinh dưỡng nitơ
và phốtpho là nguyên nhân gây ô nhiễm cục bộ ở các kênh tiêu của hồ.
+ Nguồn chất thải của hơn 1.000 lao ñộng sống trên các bè cá bao gồm lượng
chất hữu cơ thải ra từ hoạt ñộng ăn uống, phân (E.Coli và các vi trùng khác), chất
tẩy rửa…gây ô nhiễm mùi và môi trường nước mặt.
- Ngoài các nguyên nhân chính ñã ñược ñề cập ở trên thì các hoạt ñộng khai
thác cát và hoạt ñộng phá rừng cũng góp phần gia tăng nguy cơ suy giảm chất lượng
nước hồ do sự giải phóng trở lại các chất dinh dưỡng có trong trầm tích vào môi
trường nước và ô nhiễm nước do xói mòn ñất ở những vùng ñất bị mất rừng phòng
hộ. Qua ñó một lượng lớn ñất ñá và phèn tiềm tàng có trong ñất ñược ñưa vào hồ
làm giảm giá trị pH, tăng hàm lượng Al và Fe gây ảnh hưởng xấu tới ñời sống của
các thủy sinh vật.
1.3. NGHIÊN CỨU XỬ LÝ Ô NHIỄM VÀ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC HỒ
1.3.1. Các phương pháp xử lý ô nhiễm nước hồ
ðể xử lý ô nhiễm nước người ta thường sử dụng các phương pháp: Cơ học,
hóa học, hóa lý và sinh học.
1.3.1.1. Phương pháp cơ học
Phương pháp này thường là giai ñoạn sơ bộ của quá trình xử lý nước nhằm
loại bỏ các tạp chất không tan trong nước ở dạng vô cơ hay hữu cơ bằng cách lọc
qua lưới, ñể lắng, lọc qua lớp cát sỏi có kích thước khác nhau.
1.3.1.2. Phương pháp hóa học
Phương pháp này dùng các hóa chất ñể keo tụ, ñông kết các chất bẩn có trong
nước. Thông thường người ta thường dùng vôi, ôxít sắt, alumino, natri…Phương
pháp này có hạn chế là chi phí xử lý tốn kém và ñưa thêm vào môi trường nước các
loại hóa chất ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của các TSV.
Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường20

xử lý sinh học ñều là các loại VSV tùy tiện.
Trong môi trường nước hồ, các vi khuẩn dị dưỡng phân hủy chất hữu cơ ñể
tạo thành CO
2
, H
2
O, NO
3
-
và một số chất khoáng. Sau ñó, các chất khoáng này sẽ
ñược tảo và các loài thực vật thủy sinh sử dụng ñể tạo thành sinh khối. Tảo phát
triển sẽ thúc ñẩy sự phân hủy chất hữu cơ xảy ra mạnh mẽ hơn do chúng tạo ra ôxy
nhờ quá trình quang hợp [29].
Trong quá trình làm sạch nước trong hồ, người ta thường sử dụng tảo kết hợp
với một số loài thực vật thủy sinh, một mặt cung cấp thêm ôxy cho quá trình phân
hủy chất hữu cơ mặt khác vùng rễ của thực vật sẽ là nơi trú ngụ cho các VSV phát
triển ñồng thời lưu giữ các chất rắn lơ lửng trong nước. Bên cạnh ñó, trong quá trình
sinh trưởng các loài thực vật thủy sinh còn hút thu một lượng lớn chất dinh dưỡng
có trong nước.
Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường21

Học viên: Bùi Duy Anh

1.3.2. Nghiên cứu xử lý ô nhiễm và cải thiện chất lượng nước hồ trên Thế giới
và ở Việt Nam
1.3.2.1. Trên Thế giới

50 - 65
Kết tủa hóa học bằng Ca(OH)
2

Phốtpho
Kim loại nặng
BOD
5

85 - 95
80 - 95
50 - 70
Tẩy amoni NH
4
2+
70 - 95
Nitrát hóa Ôxy hóa NH
4
2+
thành NO
3
-
80 - 95
Hấp phụ bằng cácbon hoạt tính

COD
BOD
5
40 - 95
70 - 70

biến bên trong hồ. Các tác ñộng từ bên ngoài gồm có hoạt ñộng phá rừng, sự ngăn
dòng chảy, việc sử dụng ñất và dinh dưỡng chảy vào hồ. Các quá trình tự diễn biến
trong hồ như sự thoáng khí, phân tầng dòng chảy, sự lắng ñọng và kết tủa chất dinh
dưỡng…[32].
- Hồ Green nằm ở phía Bắc bang Seattle nước Mỹ có diện tích hơn 105 ha
với ñộ sâu trung bình là 3,9m bị phú dưỡng nghiêm trọng do hàm lượng chất dinh
dưỡng nitơ và phốtpho trong nước quá cao ñã ñẩy mạnh sự phát triển của tảo. Việc
tiếp nhận nước thải từ khu vực xung quanh cộng với sự giải phóng trở lại chất dinh
dưỡng từ trầm tích ñáy vào môi trường nước là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng
hàm lượng chất dinh dưỡng trong nước ñặc biệt là phốtpho - tác nhân chính gây ra
phú dưỡng.
Vào 10/1991, Dự án khôi phục chất lượng nước hồ ñược sự tài trợ của Cục
Bảo vệ Môi trường Mỹ ñã áp dụng phương pháp hóa học dùng Al
2
(SO
4
)
3
ñể hạn chế
sự giải phóng trở lại phốtpho từ trầm tích do phốtpho bị cố ñịnh bởi Al dưới dạng
Al(PO
4
) kết tủa. Kết quả là sau khi xử lý, hàm lượng phốtpho tổng số trong nước ñã
giảm từ 52 µg/l xuống còn 16 µg/l [37].
- Hồ Havasu ở bang Colorado nước Mỹ có nhiệm vụ chính là cung cấp nước
sinh hoạt cho người dân thành phố. Theo số liệu quan trắc năm 1995, hàm lượng
Mn
2+
trong nước khá cao ñạt 0,62 mg/l do vậy người ta ñã sử dụng KMnO
4

nanô ñã làm giảm hàm lượng các ion nói trên với hiệu suất ñạt từ 90 - 98% [38].
Luận văn tốt nghiệp
Cao học Môi Trường23

Học viên: Bùi Duy Anh

1.3.2.2. Ở Việt Nam
- Năm 1993, Trung tâm Kỹ thuật Môi trường ðô Thị và Khu công nghiệp, ðại
học Xây Dựng ñã nghiên cứu “ðánh giá hiện trạng thoát nước, sinh thái học khu
vực hồ Tây và hồ Trúc Bạch và ñề xuất biện pháp cải tạo hệ thống thoát nước và
môi trường khu vực”.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tình trạng ô nhiễm của hồ Tây ở mức nhẹ, hồ
Trúc Bạch ô nhiễm nặng hơn hồ Tây. Tuy nhiên dựa trên quan ñiểm phát triển bền
vững thì cần phải có những giải pháp thích hợp ñể bảo vệ môi trường nước hồ tạo
ñiều kiện thuận lợi ñể hồ trở thành ñiểm du lịch lí tưởng của thủ ñô và cả nước [7].
- Trần Hiếu Nhuệ, Trần ðức Hạ, Bộ môn Cấp thoát nước Trường ðại học Xây
dựng thực hiện “Nghiên cứu bảo vệ nguồn nước sông hồ Hà Nội” năm 1985 [13];
“ðánh giá chất lượng nước hồ Tây trên quan ñiểm sinh thái và phát triển lâu bền”
năm 1994 [12].
- Dương ðức Tiến ñã nghiên cứu ñề tài “ðiều tra hiện trạng hồ Tây, hồ Bảy
Mẫu thành phố Hà Nội” năm 1993 [21]; “Hiện trạng nước và vi tảo (Microalgae)
trong các thủy vực Hà Nội” [20].
- Lê Thu Hà ñã nghiên cứu ñánh giá “Chất lượng nước hồ Hoàn Kiếm sau ñợt
nạo vét lòng hồ năm 1993” [5] và “Phân tích và ñánh giá chất lượng nước của một
số hồ Hà Nội” năm 1995 [6].
- Báo cáo “Diễn Biến chất lượng nước mặt và những nguyên nhân làm thay
ñổi chất lượng nước trong hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng” năm 2005 cho thấy, nhìn

mg/l [22].
- Trần Văn Quang cùng các cộng sự ñã thực hiện “Nghiên cứu kiểm soát sự ô
nhiễm nước hồ ðầm Rong bằng mô hình ðất ướt” năm 2008. Hồ ðầm Rong thuộc
ñịa bàn quận Hải Châu, thành phố ðà Nẵng bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi NTSH, rác
thải của các hộ dân xung quanh hồ với hàm lượng NH
4
+
vượt tiêu chuẩn cho CLNM
loại A 500 lần.
ðể giảm thiểu ô nhiễm, nhóm nghiên cứu ñã sử dụng mô hình ñất ướt chứa
lớp ñá dăm, cát lọc và trên cùng trồng cỏ Vertiver, chuối hoa và chuối nước và thu
ñược hiệu suất xử lý NH
4
+
tới 90%, PO
4
3-
ñạt 87 - 90%, chất rắn lơ lửng ñạt 70%.
Các loài thực vật trong mô hình thí nghiệm phát triển mạnh, sau 2 tuần chiều cao
của cỏ vertiver sau 2 tuần dài thêm 60 cm, chuối hoa và chuối nước mọc thêm nhiều
chồi non [15].
- Nguyễn Phú Tuân và các cộng sự ñã tiến hành sử dụng chế phẩm LTH 100
xử lý ô nhiễm nước hồ Văn. Nằm trong quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám
nhưng nước hồ Văn bị ô nhiễm nghiêm trọng với sự phát triển quá mức của tảo,
nước hồ có mùi hôi thối do cá chết. Sau khi ñược phun chế phẩm LTH 100 với liều
lượng 60 - 80 m
3
nước/1 lít chế phẩm thì mùi hôi ñã hết, nước trở lại màu xanh
trong sau khi phun từ 3 - 4 ngày [10].
1.3.3. Những nghiên cứu bảo vệ môi trường và ña dạng sinh học khu vực ðảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status