DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- Sách giáo khoa: SGK.
- Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: BCHTWĐCSVN.
- Nhà xuất bản: NXB.
- Nhà xuất bản giáo dục: NXBGD.
- Giáo dục: GD.
- Đào tạo: ĐT.
- Đại học sư phạm: ĐHSP.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Giả thuyết khoa học 5
7. Cấu trúc đề tài 5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆCTHIẾT KẾ
ĐỀ TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở TIỂU HỌC 6
1.1. Những khái niệm cơ bản 6
1.2. Cơ sở lí luận của việc thiết kế đề toán có lời văn ở tiểu học 6
1.3. Cơ sở thực tiễn của việc thiết kế đề toán có lời văn của giáo viên tiểu học
trong các nhà trường tiểu học hiên nay 6
CHƢƠNG2: RÈN KĨ NĂNG THIẾT KẾ ĐỀ TOÁN CÓ LỜI VĂNCHO
GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 12
2.1.Các yêu cầu đối với một bài toán có lời văn 12
2.2. Phương pháp sáng tác bài toán mới trên cơ sở bài toán đã có 16
2.3. Sáng tác bài toán mới trên cơ sở một số bài toán dạng điển hình đã giải 17
TIỂU KẾT 41
học cung cấp cho các em kiến thức, kĩ năng cần thiết cho người lao động, cần
thiết để học các môn học khác và học Toán ở các bậc học cao hơn.
Với học sinh tiểu học, môn Toán không những giúp trẻ làm quen với các
con số, các phép tính, mối quan hệ về số lượng, hình dạng không gian mà còn
giúp trẻ biết áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống thông qua
2
những tình huống cụ thể đó là những bài toán có lời văn. Trong dạy học người ta
gọi đó là những bài toán đố. Nhiệm vụ của giáo viên Tiểu họclà phải giúp các
em biết giải các bài toán đómột cách thành thạo để vận dụng giải quyết các vấn
đề trong cuộc sống hàng ngày.
Đối với giáo viên tiểu học việc thiết kế các đề toán có lời văn là một kĩ
năng hết sức cần thiết và quan trọng. Bởi lẽ, khi tiếp xúc với một bài toán bất kì,
bên cạnh yêu cầu người giáo viên phải hiểu và biết hướng dẫn học sinh giải bài
toán đó một cách khoa học, chính xác thì một giáo viên giỏi phải là người có khả
năng sáng tác nhanh những bài toán cùng dạng hoặc bài toán mới phù hợp với
yêu cầu dạy học của mình và kích thích được sự chủ động của học sinh.
Hơn thế nữa, một thực tế khác biệt của học sinh tiểu học so với học sinh
trung học cơ sở và trung học phổ thông đó là các em phải biết tự đặt đề toán mới
theo những yêu cầu nào đó: lập bài toán theo hình minh họa, lập đề toán theo
tóm tắt,… Khi đặt được các đề toán có lời văn đồng nghĩa với việc các em nắm
vững được ba yếu tố của bài toán: cái đã cho, cái phải tìm và các mối quan hệ và
giải quyết được bài toán đặt ra một cách khoa học và chính xác. Vì vậy, các giáo
viên tiểu học cần rèn cho mình kĩ năng thiết kế đề toán có lời văn bởi lẽ giáo
viên có hiểu đúng thì mới hướng dẫn các em thực hiện đúng.
Do bị hạn chế về thời gian (bó hẹp trong tiết học)nên sách giáo khoa, sách
bài tập in sẵn ở tiểu học chỉ cung cấp được một số bài toán điển hình nhất. Tuy
đã được chọn lọc, sắp xếp một cách có hệ thống phù hợp với kiến thức và năng
lực của học sinh, phản ánh được đời sống lao động, học tập và tâm lí của các em
nhưng nếu chỉ sử dụng các bài toán in sẵn thì chưa đủ để dạy tốt được. Để dạy
PGS.TS Trần Diên Hiển với: “Thực hành giải toán ở tiểu học” (tập1,2).
PGS.TS Vũ Quốc Chung với: “Các phương pháp giải toán có văn ở tiểu
học”.
Riêng tác giả Phạm Đình Thực đã đưa ra những yêu cầu của một đề bài
toán nói chung và bài toán có văn nói riêng trong “Phương pháp sáng tác đề
toán ở tiểu học”.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “ Rèn kĩ năng
thiết kế đề toán có lời văn cho giáo viên tiểu học thông qua một số bài toán điển
hình ở lớp 3 và lớp 4” để tìm hiểu và nghiên cứu.
4
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất việc áp dụng quy trình thiết kế đề toán có lời văn vào việc rèn kĩ
năng thiết kế đề toán có lời văn cho giáo viên tiểu học thông qua việc khai thác
một số bài toán có lời văn dạng điển hình.
3. Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng: Kỹ năng thiết kế đề toán có lời văn cho giáo viên tiểu học.
Khách thể: Giáo viên trường Tiểu học Đồng Tâm – Lạc Thủy – Hòa Bình.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Kỹ năng thiết kế các đề toán có lời văn từ các dạng
toán điển hình của lớp 3 và lớp 4.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận, thực tiễn của việc thiết kế các đề toán có lời văn.
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn việc khai thác bài toán có lời văn dạng điển hình
ở lớp 3 và lớp 4, áp dụng qui trình xây dựng và thiết kế các đề toán có lời văn.
- Đề xuất khả năng áp dụng quy trình thiết kế đề toán có lời văn vào việc thiết
kế đề toán từcác dạng toán điển hình ở lớp 3 và lớp 4 cho giáo viên tiểu học.
- Kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả của các đề xuất nói trên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
THIẾT KẾ ĐỀ TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở TIỂU HỌC
1.1.Những khái niệm cơ bản
Thiết kế: là trình bày một cách có hệ thống sau khi tính toán mọi chi tiết.
Quy trình: là thứ tự các bước cần làm một công việc nào đó.
Như vậy quy trình thiết kế đề toán có thể hiểu là thứ tự các bước cần làm một
cách có hệ thống trong quá trình xây dựng đề bài toán.
Kĩ năng: là thói quen áp dụng những kiến thức đã học hoặc kết quả của
một quá trình luyện tập một cách thành thạo vào thực tiễn.
Như vậy, rèn kĩ năng thiết kế đề toán có thể xem là việc làm nhằm biến
đổi những khả năng vốn có của giáo viên khi thiết kế những đề toán mới.
Khai thác: là việc làm nhằm tìm ra một cái gì đó cần thiết có thể là một sự
vật, hiện tượng, một vấn đề nào đó…. Khai thác các bài toán có lời văn dạng
điển hình là ngoài việc phân tích để tìm ra cách giải bài toán đó ta còn có thể tìm
ra các bài toán tương tự thuộc dạng toán đó.
1.2. Cơ sở lí luận của việc thiết kế đề toán có lời văn ở tiểu học
1.2.1. Vai trò, ý nghĩa của việc dạy học giải toán có lời văn ở tiểu học
- Dạy học giải toán có lời văn ở tiểu học giúp cho giáo viên trau dồi được ngôn
ngữ toán học, phát huy khả năng sáng tạo trong quá trình dạy học môn toán
Trong dạy học toán nói chung và dạy học giải toán có lời văn nói riêng,
giáo viên cần phải thường xuyên thiết kế các đề bài toán, ở mỗi lần ra đề bài
giáo viên phải giải thử bài toán, khi hướng dẫn học sinh giải bài toán, giáo viên
cũng có thể phát hiện thêm những cách giải mới, cách đặt lời giải mới, từ đó
giáo viên sẽ trau dồi được ngôn ngữ toán học của mình và hình thành được thói
quen thiết kế đề bài toán có lời văn một cách chuẩn xác.
- Dạy học giải toán có lời văn giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy học
Trong quá trình hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, giáo viên sẽ phát
- So sánh hai số hơn, kém nhau một số đơn vị (tìm số lớn).
- Một số được tăng thêm vài đơn vị (dạng trực tiếp).
- Một số được tăng thêm vài đơn vị (dạng gián tiếp).
- Một số được giảm đi vài đơn vị (dạng trực tiếp).
8
- Một số được giảm đi vài đơn vị (dạng gián tiếp).
- So sánh hai số gấp, kém nhau một số lần (tìm số lớn).
- So sánh hai số gấp, kém nhau một số lần (tìm số bé).
- Một số tăng lên vài lần (dạng trực tiếp).
- Một số tăng lên vài lần (dạng gián tiếp).
- Một số giảm đi vài lần (dạng trực tiếp).
- Một số giảm đi vài lần (dạng gián tiếp).
Nhóm 4: những bài toán đơn liên quan đến phân số, tỉ số:
- Tìm một phần mấy của một số.
- Tìm tỉ số của hai số.
- Tìm số thứ nhất, khi biết tỉ số của hai số và số thứ hai.
- Tìm số thứ hai, khi biết tỉ số của hai số và số thứ nhất.
- Tìm một số khi biết tỉ lệ xích và một số cho trước.
- Tìm tỉ số phần trăm của hai số.
- Tìm tỉ số phần trăm của một số.
Nhóm 5: những bài toán đơn giải bằng công thức:
- Tìm diện tích hình vuông, khi biết cạnh của nó.
- Tìm diện tích hình chữ nhật khi biết chiều dài và chiều rộng của nó.
- Tìm chu vi hình tròn khi biết đường kính của nó.
- Tìm vận tốc khi biết quãng đường và thời gian chuyển động.
- Tìm quãng đường đi được khi biết vận tốc và thời gian chuyển động.
- Tìm thời gian chuyển động khi biết quãng đường đi được và vận tốc của
chuyển động.
1.2.2.2. Các bài toán hợp
1.3.2. Về kĩ năng thiết kế đề toán có lời văn của giáo viên tiểu học
Chúng tôi đã tiến hành lấy ý kiến 20 giáo viên giảng dạy môn toán ở lớp 3
và lớp 4 của hai trường tiểu học Quyết Tâm, TP sơn La, Sơn La và trường tiểu
học Đồng Tâm, Lạc Thủy, Hòa Bình. Phiếu hỏi như sau:
10
PHIẾU ĐIỀU TRA 1
Họ và tên:
Giáo viên trường:
Thầy (cô) vui lòng trả lời câu hỏi sau: Ngoài các bài tập trong sách giáo khoa,
sách bài tập, trong quá trình dạy học thầy (cô) có sáng tác thêm các bài toán
mới không? Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ Kết quả như sau:
Số giáo viên
tham gia trả lời
Số giáo viên chọn
thường xuyên
Số giáo viên chọn
thỉnh thoảng
Số giáo viên chọn
chọn rất
quan trọng
Số giáo viên
chọn quan
trọng
Số giáo viên
chọn bình
thường
Số giáo viên
chọn không
quan trọng
20
12(60%)
5(25%)
2(10%)
1(5%)
Nhìn vào bảng trên ta thấy: đa số giáo viên đều cho rằng việc thiết kế đề
toán có lời văn trong quá trình dạy học môn toán nói chung và trong quá trình
bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng rất quan trọng(60%).
Tuy nhiên vẫn còn giáo viên cho rằng việc thiết kế đề toán có lời văn cho
học sinh là không cần thiết(5%). Giáo viên này cho rằng các bài toán từ dễ đến
khó đều đã có sẵn trong sách tham khảo và chỉ cần lấy những bài tập đó cho học
sinh làm là đủ.
Hầu hết giáo viên đều cho rằng nếu thiết kế được các bài toán hay không
những giúp học sinh hứng thú trong học tập mà còn nâng cao được hiệu quả học
tập một cách rõ rệt. Mỗi khi thiết kế một đề bài toán giáo viên phải tính toán một
cách chi tiết các số liệu, điều kiện bài toán việc làm đó sẽ giúp giáo viên hiểu
sâu sắc hơn về thành phần của bài toán, với học sinh, các em sẽ giải toán bằng
thực lực của mình chứ không phải chỉ biết xem đáp án có sẵn trong sách.
lít dầu. Hỏi có 7 thùng dầu như thế đựng được bao nhiêu lít dầu?” tại vì khi học lớp
3 học sinh chưa được học phép chia một số cho số có hai chữ số(156 : 12).
13
2.1.3. Bài toán phải đầy đủ dữ kiện
Nghĩa là những cái đã cho phải đủ để tìm ra đáp số, nếu bỏ bớt đi thì sẽ
không tìm được đáp số xác định của bài toán. Dữ kiện phải không được thiếu,
không được thừa.
Ví dụ bài toán: “Mẹ có 234 kg thóc, sau khi bán đi một phần số thóc, hỏi
mẹ còn lại bao nhiêu kg thóc?”.
Ta thấy, bài toán đã cho biết:
Có: 234kg
Bán: một phần số thóc
Còn: kg?
Đây là bài toán thiếu dữ kiện. Để tính được còn lại bao nhiêu kg thóc, ta
cần biết được số thóc đã bán. Như vậy bài toán cần cho biết cụ thể số thóc đã
bán hoặc mối liên hệ để tìm ra số thóc ấy. Để có đề toán hợp lý, ta có thể sửa
như sau:“Mẹ có 234 kg thóc, mẹ bán đi 78kg thóc, hỏi mẹ còn lại bao nhiêu kg
thóc?”
Hoặc: “Mẹ có 234 kg thóc, mẹ bán đi một phần ba số thóc, hỏi mẹ còn lại
bao nhiêu kg thóc?”
Ví dụ bài toán: “Tổng số tuổi của hai mẹ con là 31 tuổi, mẹ 28 tuổi, con 3
tuổi. Hỏi mẹ hơn con bao nhiêu tuổi?”
Đây là bài toán thừa dữ kiện, vì ta có thể tính ngay được mẹ hơn con: 28 –
3 = 25 (tuổi), mà không cần đến dữ kiện còn lại vì vậy ta có thể bớt dữ kiện ấy
để có bài toán ngắn gọn hơn như sau:“Mẹ 28 tuổi, con 3 tuổi. Hỏi mẹ hơn con
bao nhiêu tuổi?”
Ta thấy số cam phải thỏa mãn 3 điều kiện sau:
+ Nhỏ hơn 10
+ Chia hết cho 3
+ Chia hết cho 5
Các số nhỏ hơn 10 chia hết cho 3 là: 3, 6, 9.
Các số nhỏ hơn 10 chia hết cho 5 là: 5
Như vậy không tồn tại số nào nhỏ hơn 10 mà chia hết cho cả 3 và 5. Ta
sửa bài toán như sau:“Mẹ mua một số cam rồi xếp vào các đĩa. Nếu xếp mỗi
15
đĩa 3 quả thì vừa hết số cam. Nếu xếp mỗi đĩa 5 quả thì cũng vừa hết số cam
đó. Biết rằng số cam ít hơn 20 quả, hỏi mẹ mua bao nhiêu quả cam?”(đáp số:
15 quả) 2.1.6. Số liệu của bài toán phải phù hợp với thực tế
Một trong những tác dụng giáo dục của bài toán là nó phản ánh cuộc sống
xung quanh,nó làm cho học sinh thấy rõ mục đích thực tế của toán học. Do vậy,
khi sáng tác đề toán, giáo viên phải lấy số liệu phù hợp với thực tế để các em
thấy được lợi ích khi giải bài toán đó.
Ví dụ ta có bài toán như sau:“Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài
là 40cm, chiều rộng là 10cm. Tính diện tích thửa ruộng đó”.
Ta thấy, đơn vị cm ở đây không phù hợp thực tế, do đó cần lấy số đo có
đơn vị lớn hơn cm (dm, m). Ta có thể sửa lại đề toán trên bằng cách đổi đơn vị
đo, như sau: “Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài là 40m, chiều rộng là
10m. Tính diện tích thửa ruộng đó.”
2.1.7. Ngôn ngữ bài toán phải ngắn gọn, mạch lạc
Ngôn ngữ của bài toán có ảnh hưởng rất lớn tới việc hiểu nội dung và ý
nghĩa của bài toán. Nhiều trường hợp các em không hiểu được ý nghĩa của từ
nhiều hơn ít hơn, tăng lên, giảm đi, mà học sinh đã giải sai bài toán. Khi ra đề
+ Thay đổi các đối tượng trong bài toán: với cách sáng tác này, chúng ta giữ
nguyên mối quan hệ, chỉ thay đổi đối tượng của bài toán. Có thể thay đổi số liệu
cho phù hợp với đối tượng.
+ Thay đổi các quan hệ trong bài toán: sáng tác bài toán theo phương pháp này
ta giữ nguyên đối tượng, có thể thay đổi số liệu khi cần thiết, chỉ thay đổi mối
quan hệ của bài toán đã có. Các dạng toán có mối quan hệ với nhau, do đó, khi
ta thay đổi một quan hệ nào đó trong bài toán thì bài toán ấy sẽ trở thành 1 dạng
toán khác.
+ Tăng hoặc giảm số đối tượng trong bài toán: ta giữ nguyên mối quan hệ của
bài toán, chỉ tăng hoặc giảm những đối tượng ấy và điều chỉnh số liệu cho phù
hợp.
17
+ Thay một trong những số liệu đã cho bằng điều kiện gián tiếp: nghĩa là ta sẽ
sáng tác bài toán bằng cách dấu một điều kiện nào đó đi. Để tìm ra điều kiện ấy
thì người giải toán phải tính thêm một hoặc một số bước tính.
+ Thay đổi câu hỏi bài toán bằng một câu hỏi khó hơn:câu hỏi là một trong các
yếu tố quyết định mức độ khó – dễ của bài toán, do đó, nếu ta thay câu hỏi của
bài toán thành một câu hỏi khác thì bài toán có thể dễ hơn hoặc khó hơn bài toán
ban đầu.
2.2.2.Đặt các bài toán ngược lại với một bài toán đã có
Trong một bài toán, nếu ta thay một trong những điều kiện đã cho bằng
đáp số của bài toán và đặt câu hỏi vào điều đã cho thì ta được một bài toán
ngược với bài toán đó.
2.3.Sáng tác bài toán mới trên cơ sở một số bài toán dạng điển hình đã giải
2.3.1. Sáng tác bài toán mới liên quan đến rút về đơn vị
Bài toán 1: Có 28 kg gạo đựng đều trong 7bao. Hỏi 5 bao đó có bao
nhiêukg gạo? (SGK toán 3, trang 128)
Tóm tắt:
7 bao: 28kg
Đề số 3: Có 126 kg gạo đựng đều trong 9 bao. Hỏi 5 bao đó có bao nhiêu kg gạo?
Đáp số: 70kg gạo.
Đề số 4: Có 72 kg gạo đựng đều trong 6 bao. Hỏi 9 bao đó có bao nhiêu kg gạo?
Đáp số: 108 kg gạo.
Không nên ra đề bài như sau: có 120kg gạo đưng đều trong 12 bao. Hỏi 7
bao có bao nhiêu kg gạo. Vì phép chia 120 : 12 không thuộc chương trình lớp 3.
+ Thay đổi các đối tượng trong đề toán
Trong bài toán đối tượng là số kg gạo. Nếu ta thay “số kg gạo” bằng “số
cây cam” thì ta có bài toán mới như sau:
Đề số 5: Có 28 cây cam được trồng đều thành 7 hàng. Hỏi 5 hàng đó có bao
nhiêu cây cam.
Đáp số: 20 cây cam.
Tương tự, khi thay“số kg gạo” thànhcác đối tượng mới như: số kẹo, số
quyển vở, số học sinh, số lít dầu, ta có rất nhiều các bài toán khác:
Đề số 6: Có 28 chiếc kẹo chia đều cho 7 em. Hỏi 5 em có bao nhiêu chiếc kẹo?
19
Đáp số: 20 chiếc kẹo.
Đề số 7: Có 28 quyển vở tặng cho 7 học sinh giỏi. Hỏi 5 học sinh giỏi được tặng
bao nhiêu quyển vở?
Đáp số: 20 quyển vở.
Đề số8: Có 28 học sinh chia đều thành 7 nhóm. Hỏi 5 nhóm có bao nhiêu học sinh?
Đáp số: 20 học sinh.
Đề số 9: Có 32 lít dầu đựng đều trong 8 can. Hỏi 5 can có bao nhiêu lit dầu?
Đáp số: 20 lít dầu.
Đề số 10: Có 45 nghìn đồng mua được 9 quyển vở. Hỏi mua 7 quyển vở hết bao
nhiêu tiền?
Đáp số: 35 nghìn đồng.
Khi thay đổi đối tượng đôi khi ta cần kết hợp với điều chỉnh số liệu cho
phù hợp thực tế.
Một bao gạo có số kg là:
28: 7 = 4 (kg)
Một bao ngô có số kg là:
64: 8 = 8(kg)
Một bao thóc có số kg là:
42: 6 = 7(kg)
Mẹ mua số kg là:
4 + 8+ 7 = 19 (kg)
Đáp số: 19 kg.
+ Thay một trong những số liệu đã cho bằng điều kiện gián tiếp
Bài toán đã cho biết 7 bao đựng 28 kg gạo.Dấu “cái đã cho” đi, ta sẽ được
một đề toán mới:
Đề số 14: Biết một nửa số gạo trong 7 bao là 14kg. Hỏi 5 bao như thế đựng
được bao nhiêu kg?
Lời giải
7 bao gạo có số kg gạo là:
14 x 2 = 28 (kg)
Một bao gạo có số kg là:
28: 7 = 4 (kg)
21
5 bao đựng được số kg gạo là:
4 x 5 = 20 (kg)
Đáp số: 20 kg gạo.
Như vậy, để giải bài toán đó ta cần phải thực hiện thêm một bước tính:
14 x 2 = 28 (kg) để tìm tổng số kg gạo đựng trong 7 bao, rồi mới thực hiện được
bước giải tiếp theo là rút về đơn vị.
+ Thay câu hỏi của bài toán bằng một câu hỏi khó hơn
Câu hỏi của bài toán đã giải là: “ Hỏi 5 bao có bao nhiêu kg gạo”. Khi
thay câu hỏi của bài toán bằng một câu hỏi khó hơn ta sẽ được bài toán mới với
Bác Lan trả nhiều hơn bác Hồng số tiền là:
110 –82 = 28 (nghìn đồng)
1kg gạo có giá tiền là:
28 : 2 = 14 (nghìn đồng)
Đáp số: 14 nghìn đồng.
Đề số 18: Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Bác Hoa mua5 bao phải trả 280
nghìn đồng. Tính giá tiền một kg gạo?
Lời giải
Một bao gạo có số kg là:
28: 7 = 4 (kg)
1 bao có số tiền là:
280 : 5 = 56 (nghìn đồng)
1kg gạo có giá tiền là:
56 : 4 = 14 (nghìn đồng)
Đáp số: 14 nghìn đồng.
+ Sáng tác bài toán ngược với bài toán đã giải
Trong bài toánđã giải ta có:
Cái đã cho là:
(1) 28 kg.
(2) 7 bao.
(3) 5 bao.
Đáp số:
(4) 20kg.
23
Để có bài toán đảo ngược từ bài toán ban đầu, ta thay một trong những
điều kiện đã cho bằng đáp số của bài toán và đặt câu hỏi vài điều đã cho ấy,
như sau:
Nếu đổi chỗđáp số ở (4) chođiều kiện (2), ta có bài toán đảo ngược sau:
Đề số 19: Có 20 kg gạo đựng đều trong 5 bao. Hỏi 28 kg gạo thì đựng đều trong