Nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp đô thị ở Hà Nội (toàn văn + tóm tắt) - Pdf 22

Gi9
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

VŨ THỊ MAI HƯƠNG
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành: Địa lý học
Mã số: 62.31.05.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS. Đỗ Thị Minh Đức
2. PGS.TS. Hoàng Văn Chức
HÀ NỘI - 2014
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng
được công bố trong những công trình để bảo vệ bất kỳ một học vị nào.
Tác giả luận án
Vũ Thị Mai Hương
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, đồng nghiệp, bạn bè và những người thân.
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Đỗ
Thị Minh Đức, GS.TS. Nguyễn Viết Thịnh, PGS.TS. Hoàng Văn Chức là những
Thầy, Cô giáo đã trực tiếp dìu dắt, chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi những kiến thức quý
báu và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
Phòng Sau Đại học, Phòng Tài chính - Kế toán, Ban Chủ nhiệm Khoa Địa lý, tập thể

10 NTQD Nông trường quốc doanh
11 NXB Nhà xuất bản
12 RAT Rau an toàn
13 TP Thành phố
14 UBND Ủy ban nhân dân
Tiếng Anh
TT
Chữ
viết tắt
Nghĩa nguyên gốc Nghĩa tiếng Việt
1 AVRDC
Asian Vegetable Research and
Development Center
Trung tâm phát triển và nghiên
cứu rau châu Á
2 CFP Cities Feeding People Các thành phố nuôi dưỡng con người
3 CIP International Potato Center Trung tâm khoai tây quốc tế
4 DSE
German Foundation for
International Development
Quỹ phát triển quốc tế Đức
5 FAO
Food and Agriculture Organization
of the United Nations
Tổ chức lương thực và nông
nghiệp của Liên Hợp Quốc
6 GTZ
Deutsche Gesellschaft fur
Technische Zusammenarbeit
Tổ chức dịch vụ hợp tác phát

viết tắt
Nghĩa nguyên gốc Nghĩa tiếng Việt
Agriculture and Food security thực quốc tế
13 UNDP
United Nations Development
Programme
Chương trình phát triển của Liên
Hợp Quốc
14 USA United States of America Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
16 UWEP Urban Waste Expertise Programme Chương trình giám sát chất thải đô thị
17 WB World Bank Ngân hàng thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1. Dân số và mật độ dân số của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011 48
Bảng 2.2. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của TP Hà Nội so với 50
cả nước và một số đô thị khác năm 2010 (giá thực tế) 50
Bảng 2.3. Tổng số lao động và cơ cấu lao động nông thôn TP Hà Nội 50
Bảng 2.4. Nhu cầu tiêu thụ lương thực, thực phẩm của TP Hà Nội 51
Bảng 2.5. Vốn đầu tư cho nông nghiệp (vốn nhà nước) của TP Hà Nội 52
Bảng 2.6. Hiện trạng mạng lưới giao thông đường bộ ở TP Hà Nội năm 2010 55
Bảng 2.7. Hiện trạng giao thông nông thôn ở TP Hà Nội năm 2011 57
Bảng 2.8. Hệ thống phân phối nông sản của TP Hà Nội chia theo hạng năm 2011 58
Bảng 2.9. Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của TP Hà Nội năm 2007 và
2011 65
Bảng 2.10. Biến động đất sản xuất nông nghiệp của TP Hà Nội giai đoạn 2001 -
2011 66
Bảng 2.11. Một số đặc trưng trung bình khí hậu ở TP Hà Nội 67
Bảng 3.1. Tăng trưởng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản 73
của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011 (giá cố định 1994) 73
Bảng 3.2. Quy mô và cơ cấu giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản 74
của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011 (giá thực tế) 74

của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011 95
Bảng 3.19. Giá trị sản xuất và diện tích cây rau, đậu thực phẩm 96
của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011 96
Bảng 3.20. Diện tích, năng suất, sản lượng rau của TP Hà Nội giai đoạn 2001 -
2011 97
Bảng 3.21. Diện tích, năng suất, sản lượng rau 98
của TP Hà Nội chia theo mùa vụ, giai đoạn 2001 - 2011 98
Bảng 3.22. Diện tích, năng suất, sản lượng RAT của TP Hà Nội giai đoạn 2001 -
2011 99
iv
Bảng 3.23. Diện tích, năng suất, sản lượng RAT của TP Hà Nội chia theo mùa vụ
102
Bảng 3.24. Cơ cấu diện tích canh tác RAT của Hà Nội phân theo quy trình sản xuất
102
Bảng 3.25. Tỷ trọng giá trị và diện tích cây ăn quả so với cây lâu năm 104
Bảng 3.26. Diện tích và sản lượng cây ăn quả của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011
105
Bảng 3.27. Diện tích cho sản phẩm các cây ăn quả chính giai đoạn 2001 - 2011 106
Bảng 3.28. Sản lượng thu hoạch của các cây ăn quả chính giai đoạn 2001 - 2011
108
Bảng 3.29. Cơ cấu chủng loại hoa - cây cảnh chính của TP Hà Nội năm 2011 113
Bảng 3.30. Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất dịch vụ nông nghiệp 117
của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011 (giá thực tế) 117
Bảng 3.31. Số hộ nông nghiệp của TP Hà Nội năm 2001, 2006 và 2011 129
Bảng 3.32. Số trang trại của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011 chia theo loại hình
130
Bảng 3.33. Một số chỉ tiêu bình quân của trang trại nông nghiệp ở TP Hà Nội 132
Bảng 4.1. Quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở 143
TP Hà Nội đến năm 2015 và 2020 143
Bảng 4.2. Dự báo dân số TP Hà Nội đến năm 2015 và 2020 144

Biểu đồ 2.2. Số dân đô thị của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011 55
Biểu đồ 3.3. Đàn bò sữa và sản lượng sữa bò của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011
85
Biểu đồ 3.4. Giá trị sản xuất/1ha đất gieo trồng phân theo nhóm cây năm 2011 92
Biểu đồ 3.6. Diện tích gieo trồng và giá trị sản xuất hoa - cây cảnh 111
của TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011 111
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Bản đồ 2.1. Bản đồ hành chính TP Hà Nội năm 2007 và 2011……………………. 45
Bản đồ 2.2. Các nhân tố KT - XH ảnh hưởng đến phát triển NNĐT ở Hà Nội……… 60
Bản đồ 2.3. Biến động sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở TP Hà Nội giai đoạn
2001 - 2011……………………………………………………………. 65
Bản đồ 2.4. Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến phát triển NNĐT ở Hà Nội…… 68
Bản đồ 3.1. Phát triển ngành chăn nuôi ở TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011……… 87
Bản đồ 3.2. Phát triển ngành trồng trọt ở TP Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011……… 114
Bản đồ 3.3. Tổ chức không gian sản xuất của NNĐT ở Hà Nội năm 2011……… 133
vi
Bản đồ 4.1. Quy hoạch tổ chức không gian lãnh thổ TP Hà Nội đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030……………………………………………… 137
Bản đồ 4.2. Định hướng phát triển NNĐT ở Hà Nội đến năm 2020………………. 146
Bản đồ 4.3. Định hướng tổ chức không gian sản xuất của NNĐT ở Hà Nội đến
năm 2020……………………………………………………………… 150
vii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hoá (ĐTH) là vấn đề tất yếu, không thể không xảy ra. Dù muốn hay
không muốn, tương lai của thế giới vẫn nằm ở các đô thị. Minh chứng là trong hơn
60 năm qua, quá trình ĐTH đã diễn ra trên phạm vi toàn thế giới với quy mô lớn và
nhịp độ nhanh chưa từng thấy. Nếu năm 1950, dân số đô thị chỉ chiếm gần 1/3
(29,6%) dân số thế giới thì đến năm 2011 đã vượt qua ngưỡng 50% (đạt 52,1%) [132].
Sự tăng trưởng dân số đô thị thế giới chủ yếu tập trung tại các nước đang phát

trạng ĐTH trên thế giới gia tăng làm phát sinh những hệ lụy về mặt kinh tế, xã hội
và môi trường thì NNĐT bắt đầu được các nhà khoa học trong và ngoài nước tập
trung nghiên cứu nhiều. Tiêu biểu có các nghiên cứu sau:
- Các nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến NNĐT
+ Nghiên cứu về vành đai nông nghiệp
NNĐT là một hình thức đặc thù của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. Những
nghiên cứu đầu tiên về NNĐT có lẽ là những nghiên cứu về vành đai nông nghiệp.
Vượt lên trước giới hạn tư tưởng trong thời đại của mình, Von Thunen (1783 -
1850) là người đầu tiên đưa ra lý thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp. Mô
hình của ông bước đầu thể hiện ý tưởng về tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp.
Thunen cho rằng chi phí vận chuyển từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ (TP, đô
thị) quyết định đến sự phân bố các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Trong trường
hợp đô thị phát triển hoàn toàn độc lập, đơn lẻ, những điều kiện sản xuất (đất đai,
lao động…) khá đồng nhất thì lợi nhuận trên 1 đơn vị diện tích canh tác sẽ giảm dần
khi khoảng cách đến trung tâm TP tăng lên. Theo ông, để giảm chi phí và tăng lợi
nhuận, những sản phẩm có khối lượng lớn, khó bảo quản được sản xuất ở gần TP
hơn. Từ giả thiết này, Thunen xây dựng 4 vành đai nông nghiệp xung quanh đô thị
trung tâm từ nhân ra bao gồm: vành 1 là vành thực phẩm tươi sống; vành 2 là vành
lâm nghiệp; vành 3 là vành lương thực; vành 4 là vành chăn nuôi [141].
Sau Thunen, một số tác giả như Sinclair (1967), Boal (1970), Bryant (1973)
cũng nghiên cứu các mô hình NNĐT và họ nhận thấy một điểm chung là NNĐT
thường phát triển thành các vành đai. Tiêu biểu nhất phải kể đến mô hình vành đai
xanh của Boal. Theo Boal, có thể hình thành 3 vành đai khác nhau đối với NNĐT.
Vành đai thứ nhất tại trung tâm TP, đất đai đã quy hoạch ổn định, nông nghiệp đạt
lợi nhuận ổn định do có nhiều lợi thế thị trường. Vành đai thứ hai cận kề ngoại ô,
quy hoạch đất đai chưa ổn định, lợi nhuận thấp do nông dân không muốn đầu tư vào
sản xuất nông nghiệp. Vành đai thứ ba ở ngoài cùng xa trung tâm TP, nông nghiệp
phát triển đa dạng và đạt lợi nhuận rất cao trên đơn vị diện tích [dẫn theo 65].
Lý thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp cũng được nhắc đến trong
nghiên cứu của các tác giả Việt Nam như Bùi Văn Loãn [33], Ngô Doãn Vịnh [100],

thấp. Khó khăn là đất trồng không ổn định; ô nhiễm đất, nước, không khí; rủi ro đối
với sức khỏe. Tác giả Nguyễn Đăng Nghĩa (2011) [37] cho rằng cơ hội của nông
nghiệp ven đô là: giảm đóng gói, lưu trữ và vận chuyển thực phẩm; tạo việc làm, thu
nhập cho người thất nghiệp và hưu trí; dễ tiếp cận các dịch vụ; khả năng tái sử dụng
chất thải lớn. Tuy nhiên, rủi ro là bị cạnh tranh về đất, nước, năng lượng và lao động
với các ngành kinh tế khác; rủi ro về sức khỏe và môi trường. Theo tác giả Lê Quốc
Doanh (2004) [19] nông nghiệp ven đô có các đặc trưng chính như: địa bàn sản xuất
3
không ổn định, đất nông nghiệp có xu thế giảm mạnh, nông nghiệp ảnh hưởng
nhiều của sự ô nhiễm đô thị, quy mô nông hộ nhỏ bé, có nhiều lợi thế về thị trường.
+ Nghiên cứu về nông nghiệp đô thị
Phát triển NNĐT có vai trò rất quan trọng trong việc tham gia giải quyết các
vấn đề khó khăn của các đô thị trong quá trình ĐTH. Từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX
trở lại đây, do sự phát triển bùng nổ của các đô thị và dân số đô thị trên toàn cầu
nên ngày càng có nhiều tác giả có những nghiên cứu liên quan đến NNĐT.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của NNĐT. Đề cập đến vai trò
đối với an ninh lương thực và dinh dưỡng, có công trình của Brown K., Carter A.
(2003) [112]; Prain G., Karanja N., Lee - Smith D. (2010) [133]; đối với vấn đề sức
khỏe có nghiên cứu của Flynn K. (1999) [121]; Lee - Smith D., Prain G. (2006)
[127]; Bellows A.C, Brown K., Smit J. (2008) [110]; đối với vấn đề môi trường có
nghiên cứu của Brock B., Foeken D. (2006) [111]; Tổ chức Lương thực và Nông
nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) (2010) [119]. Đề cập tổng hợp nhiều vai trò có
công trình của Smith J., Ratta A., Nasr J. (1996) [135]; Garnett T. (1996) [123];
Luc Mougeot J.A. (1999) [129]; Smith O.B (1999) [136]; Baumgartner B., Belevi
H. (2001) [109]; Đào Thế Tuấn (2003) [65]; Veenhuizen R.V. (2006) [139]; Zeeuw
H.D., Dubbeling M. (2009) [140]; Phạm Sỹ Liêm (2009) [32].
Các đặc trưng của NNĐT cũng được đề cập trong công trình nghiên cứu của
Tinker I. (1992) [137]; Smith J., Ratta A., Nasr J. (1996) [135]; Koc M. và các
cộng sự (1999) [126]; Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2003) [97]; Lê
Văn Trưởng (2006) [71]; Lê Đức Thịnh (2009) [54]. Nghiên cứu của Viện Quy

thiện điều kiện sống cho các đô thị trên thế giới. Thông qua chương trình đặc biệt
về an ninh lương thực (Special Programme for Food Security) được phát động từ
năm 1994, FAO (2001) [117] đã xuất bản cẩm nang “Nông nghiệp đô thị và ven
đô” với những hướng dẫn khá chi tiết và có tính ứng dụng cao các mô hình NNĐT
và ven đô cho các quốc gia đang phát triển. Ở một nghiên cứu khác, FAO (2007)
[118] chủ yếu bàn đến những thách thức của nông dân nghèo, của chính quyền đô
thị như vấn đề tiếp cận tài nguyên, vấn đề tài chính, chính sách, môi trường pháp lý
và đề xuất các giải pháp để giải quyết các thách thức.
Ngoài FAO, các tổ chức quốc tế như Chương trình phát triển của Liên Hợp
Quốc (UNDP), Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế Canađa (IDRC), Ngân
hàng thế giới (WB), Tổ chức dịch vụ hợp tác phát triển Cộng hòa Liên bang Đức
(GTZ), Viện tài nguyên thiên nhiên Vương quốc Anh (NRI) cũng có nhiều sáng
kiến thúc đẩy phát triển NNĐT. Các tổ chức này đã tài trợ thành lập "Nhóm hỗ trợ
cho nông nghiệp đô thị" vào năm 1992 và "Sáng kiến toàn cầu về nông nghiệp đô
thị" trong năm 1996. Với sự tài trợ của UNDP, Smith J. và các cộng sự (1996) đã
xuất bản cuốn sách “Nông nghiệp đô thị: Lương thực, việc làm và các đô thị bền
vững” [135]. Được tài trợ bởi IDRC, một loạt các báo cáo thuộc chương trình
5
“Cities feeding people” đã giới thiệu các chính sách và công nghệ nhằm hỗ trợ, thúc
đẩy và quản lý bền vững NNĐT. Nhìn chung, những nghiên cứu của các tổ chức
quốc tế thường tập trung vào giới thiệu, hướng dẫn kinh nghiệm và kỹ thuật nhằm
giúp các nhóm nông dân nghèo ở đô thị và ven đô thị của các quốc gia đang phát
triển tăng sản lượng lương thực, tăng thu nhập, cải thiện sức khỏe và môi trường.
Về phía các cá nhân, bước đầu đã có một số nghiên cứu đề cập đến lịch sử
phát triển NNĐT. Nhiều bằng chứng cho thấy, NNĐT trên thế giới xuất hiện từ khá
sớm. NNĐT đã ra đời từ các mảnh vườn của người Nam Tư cổ cho đến các tiền đồn
của đế chế La Mã ở Angiêri và Marôc, từ các thị trấn tu viện ở thời Trung cổ của
châu Âu cho đến các TP của người Aztec và phát triển cho đến ngày nay. Song, chỉ
sau những năm 70 của thế kỉ XX trở lại đây, khi quá trình ĐTH diễn ra với tốc độ
nhanh trên quy mô toàn cầu thì NNĐT mới thực sự phát triển [140].

Các tác giả Việt Nam cũng có một số nghiên cứu tóm lược tình hình phát triển
NNĐT trên thế giới như Đào Thế Tuấn (2003) [64], Nguyễn Đăng Nghĩa (2011) [37].
NNĐT ở Thủ đô Havana được nghiên cứu bởi tác giả Vũ Minh Nhật (2012) [39].
- Các nghiên cứu về thực tiễn phát triển NNĐT ở Việt Nam
Các nghiên cứu có tính quy mô, bài bản về thực tiễn phát triển NNĐT ở Việt
Nam còn khá ít. Các kết quả công bố về mảng đề tài này chủ yếu là các bài báo.
Tác giả Lê Văn Trưởng (2008) [72] cho rằng mầm mống của NNĐT ở Việt
Nam đã xuất hiện xung quanh các thành cổ ngay từ thời phong kiến. Trong thời kỳ
Pháp thuộc, NNĐT cũng được chú ý phát triển và mang dáng dấp của NNĐT hiện
đại. Tác giả Lê Hồng Kế và Lê Văn Lan nhận định rằng hầu hết những đô thị ở Việt
Nam, ngay cả vào lúc đã phát triển hoặc rất phát triển, vẫn tồn tại ngay trong lòng
đô thị, thậm chí giữa đô thị, những khu cư trú nông nghiệp [dẫn theo 28].
Tình hình phát triển NNĐT ở Việt Nam được tóm lược trong nghiên cứu của
tác giả Lê Đức Thịnh (2005) [53], Lê Văn Trưởng (2008) [72]. Theo tác giả Lê Đức
Thịnh, nông nghiệp của TP Hà Nội, Hải Phòng và nhiều TP khác ở miền Bắc, miền
Trung và miền Nam thường phát triển theo mô hình 3 vành đai. Kể từ trong ra ngoài
có: vành đai nông nghiệp thoái hóa, vành đai nông nghiệp đa dạng hóa và vành đai
nông nghiệp thích ứng. Tác giả Lê Văn Trưởng (2008) thì đề cập đến 5 đặc điểm cơ
bản của NNĐT Việt Nam và cho rằng nó vừa có những nét tương đồng với NNĐT
của các nước đang phát triển, vừa có những sắc thái riêng của NNĐT Việt Nam.
Phát triển NNĐT theo hướng sinh thái đang trở thành xu hướng phổ biến trên
thế giới. Hình thành các vùng nông nghiệp theo hướng đô thị sinh thái sẽ đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần cho dân cư đô thị, tạo ra môi trường sống
tốt, bảo đảm sức khỏe cho người dân và giải quyết được những vấn đề của ĐTH. Ở
Việt Nam, mảng đề tài này thu hút được sự quan tâm nghiên cứu nhiều hơn cả.
Đề tài nghiên cứu của tác giả Vũ Xuân Đề (2003) [21] đã đánh giá thực trạng
các mô hình sản xuất nông nghiệp của TP Hồ Chí Minh theo hướng sinh thái và đưa
ra các giải pháp phù hợp để phát triển các mô hình đó. Đề tài của Đinh Sơn Hùng
7
(2005) [26] đã đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp,

như sau: “Nó không có dạng vòng tròn khép kín, mà đó là một vành đai không liên
tục, có dạng hình sao bởi những điểm sản xuất nông nghiệp có khoảng cách xa gần
8
khác nhau đối với nội thành. Những điểm sản xuất đó thường bám sát các trục đường
giao thông lớn từ nội thành tỏa ra, đó là các quốc lộ số 1, 6, 5 và 3. Bán kính các
huyện ngoại thành cách trung tâm Hà Nội xa nhất cũng chỉ tới 30 km, là một cự ly lý
tưởng cho các mối quan hệ trao đổi và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp” [48, tr.76].
Nhắc đến vai trò của nông nghiệp Hà Nội, tác giả Lương Ngọc Cừ (1994)
khẳng định ngoại thành Hà Nội có một vị trí quan trọng: cung cấp những sản phẩm
nông nghiệp chủ yếu, đặc biệt là thực phẩm cho nhân dân Thủ đô; tạo cảnh quan
xanh tươi và hài hòa cho Thủ đô [15]. Bài viết của Moustier P. (2001) [40] nhận
định rằng, ở Hà Nội, nông nghiệp vừa đóng vai trò tự cung tự cấp, vừa đóng vai trò
tăng thêm thu nhập. Các tác giả Ali M., De Bon H. và Moustier P. (2005) [107] cho
rằng NNĐT và ven đô Hà Nội có chức năng chính là cung cấp thực phẩm, tạo việc
làm, duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường cho TP.
Cũng có một số công trình quan tâm đến những nhân tố tác động tới NNĐT ở
Hà Nội. Tác giả Phuong Anh M.T. và Ali M. (2004) đã phân tích sơ lược các nguồn
lực phát triển NNĐT và ven đô Hà Nội [134]. Các tác giả Van Den Berg L.M., Van
Wijk M.S., Van Hoi P. [138] và Lê Quốc Doanh [19] cho rằng thách thức đối với
nông nghiệp ngoại thành Hà Nội là tình trạng mất đất nông nghiệp, gia tăng sự
manh mún về ruộng đất, úng ngập, ô nhiễm. Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông
nghiệp (2003) đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của ĐTH đến vấn đề sử dụng đất nông
nghiệp, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và triển vọng của kỹ thuật, công nghệ có
thể áp dụng vào sản xuất nông nghiệp của Hà Nội tới năm 2010.
Một số nghiên cứu có giá trị khác đã tập trung phân tích thực trạng phát triển
NNĐT ở Hà Nội. Tác giả Mai Thị Phương Anh (2001) [2] tổng kết những thành tựu
mà nông nghiệp ngoại thành Hà Nội đạt được từ năm 1995 đến 2000. Georges
Rossi và Phạm Văn Cự (2002) [16] phân tích những thay đổi của nông nghiệp ven
đô Hà Nội giai đoạn 1990 - 1998. Các tác giả nhận thấy, người nông dân ngày càng
đa dạng hóa sản xuất, phát triển các cây trồng, vật nuôi có giá trị cao dành cho thị

tại Việt Nam khá ít. Ở địa bàn Hà Nội, đặc biệt là địa bàn Hà Nội mở rộng chưa có
nghiên cứu nào liên quan trực tiếp đến NNĐT. Vì vậy, nghiên cứu sinh đã kế thừa
và chọn lọc những công trình đã nghiên cứu ở trên và các nghiên cứu khác để thực
hiện đề tài “Nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp đô thị ở Hà Nội”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển NNĐT ở Hà
Nội trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển NNĐT
ở Hà Nội theo hướng hiện đại, chất lượng và hiệu quả cao trong tương lai.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
10
- Tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển NNĐT, làm cơ sở
khoa học cho việc nghiên cứu hiện trạng phát triển NNĐT ở Hà Nội.
- Đánh giá các nhân tố tác động đến phát triển NNĐT ở Hà Nội.
- Phân tích hiện trạng phát triển NNĐT ở Hà Nội theo ngành và theo không gian.
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển NNĐT ở Hà Nội theo
hướng hiện đại, chất lượng và hiệu quả cao.
4. Giới hạn nghiên cứu
4.1. Giới hạn về nội dung
Luận án giới hạn nghiên cứu NNĐT theo nghĩa hẹp, gồm trồng trọt, chăn nuôi
và dịch vụ nông nghiệp. Trong mỗi phân ngành, luận án đi sâu phân tích những tiểu
ngành đặc trưng cho NNĐT, cụ thể trồng trọt gồm có lúa chất lượng cao, rau đậu
thực phẩm, cây ăn quả, hoa - cây cảnh; chăn nuôi gồm có lợn, bò thịt, bò sữa, gia cầm.
4.2. Giới hạn về thời gian
Thời gian nghiên cứu đánh giá hiện trạng: từ năm 2001 đến 2011. Tuy nhiên,
giai đoạn 2001 - 2011 địa giới của Hà Nội có sự thay đổi nên những phân tích, đánh
giá thường được chia thành 2 thời kỳ: thời kỳ 2001 - 2007 và thời kỳ 2008 - 2011.
Thời gian nghiên cứu dự báo phát triển: định hướng đến năm 2015 và 2020.
4.3. Giới hạn về không gian
Luận án không đề cập đến 6 quận trung tâm (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa,

với nhau. Đô thị là thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp; đồng thời nó cũng
là nơi cung cấp các dịch vụ vật tư, thành tựu KH - CN, nguồn tài chính cho khu vực
nông nghiệp. Vận dụng quan điểm lãnh thổ, luận án vừa xem xét mối quan hệ giữa
không gian nông nghiệp và không gian đô thị; vừa nghiên cứu sự phân hóa và biến
đổi của các phân ngành nông nghiệp trong không gian đô thị của Hà Nội.
5.4. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Dựa vào quan điểm lịch sử - viễn cảnh, luận án phân tích, đánh giá khách quan
hiện trạng phát triển NNĐT ở Hà Nội giai đoạn 2001 - 2011 và xem xét mục tiêu,
định hướng phát triển NNĐT ở Hà Nội đến năm 2015 và 2020.
5.5. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển NNĐT có thể gây tác động xấu đến tài nguyên và môi trường; có
thể bị tác động xấu do quá trình phát triển đô thị nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ thiếu
bền vững. Quán triệt quan điểm phát triển bền vững, luận án cố gắng xem xét mối
quan hệ giữa NNĐT và môi trường đô thị Hà Nội, cụ thể là ảnh hưởng của NNĐT
đối với môi trường đô thị và ảnh hưởng của môi trường đô thị lên NNĐT ở Hà Nội.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Luận án đã thu thập các tài liệu sơ cấp và thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau.
Tài liệu sơ cấp được thu thập thông qua các cuộc điều tra, khảo sát thực địa của
chính nghiên cứu sinh. Tài liệu thứ cấp bao gồm các bản đồ, niên giám thống kê, đề
án quy hoạch, đề tài nghiên cứu, luận án, sách, báo, tạp chí đã được công bố ở trong
12
và ngoài nước. Các tài liệu này đề cập đến vấn đề lý luận, phương pháp nghiên cứu,
các khía cạnh của phân bố và phát triển NNĐT nói chung, NNĐT ở Hà Nội nói riêng.
Sau khi thu thập, luận án phải tiến hành xử lý sơ bộ tài liệu, tức là xem
xét, sàng lọc và lựa chọn ra những tài liệu cần thiết cho quá trình nghiên cứu.
6.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Căn cứ vào nguồn tài liệu đã thu thập và xử lý, luận án tiến hành phân tích
từng phân ngành, phân tích các kết hợp của các phân ngành để rút ra bản chất, quy
luật phát triển của NNĐT ở Hà Nội. Bên cạnh đó, luận án cũng tiến hành so sánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status