Hiện trạng chất thải rắn và ứng dụng nguyên lý bảo toàn vật chất để giải thích quá trình biến đổi trong quản lý và kiểm soát thuộc khu vực Hà Nội - Pdf 22

Đại học quốc gia Hà Nội
Trờng đại học khoa học tự nhiên
Khoa môi trờng
Tiểu luận môn học
Đề tài:
Hiện trạng Chất thải rắn và
ứng dụng nguyên lý bảo toàn vật chất để giải thích
quá trình biến đổi trong quản lý và kiểm soát
thuộc khu vực Hà Nội
Hà Nội/2002
1
Mục lục
Trang
I. Lời nói đầu 3
II. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu 4
2.1. Đối tợng nghiên cứu 4
2.2. Phơng pháp nghiên cứu 4
III. Hiện trạng chất thải nguy hại 4
3.1. Khái niệm về chất thải nguy hại 4
3.2. Các tính chất của chất thải nguy hại 5
3.3. Hiện trạng chất thải nguy hại 5
3.3.1. Nguồn chất thải nguy hại 5
3.3.2. Lợng chất thải nguy hại 7
IV. hiện trạng vấn đề quản lý và xử lý chất thải nguy hại 8
V. chất thải nguy hại dới góc độ nguyên lý bảo toàn vật chất và
bảo toàn chất ô nhiễm 9
VI. Kết luận 11
2
I. Lời nói đầu
Hiện nay, ở Việt Nam cũng nh nhiều nớc có cùng mức độ phát triển
cũng nh nhận thức trong khu vực và trên thế giới, sự hiểu biết về vấn đề

quản lý và kiểm soát thuộc khu vực Hà Nội " đợc đặt ra và thực hiện.
3
II. Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
Do quy mô và thời gian thực hiện của đề tài tiểu luận nên đề tài có
những giới hạn nhất định. Cụ thể:
2.1. Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số loại chất thải nguy
hại có từ nhiều nguồn khác nhau trong giai đoạn hiện nay.
2.1. Phơng pháp nghiên cứu
Phơng pháp nghiên cứu chủ yếu là:
- Phơng pháp kế thừa: Trên cơ sở thu thập các nguồn tài liệu, số liệu đã
có sẵn từ các công trình nghiên cứu trớc đây, sau đó kế thừa một cách có
chọn lọc những vấn đề có liên quan.
- Phơng pháp hệ thống: Đây là phơng pháp cơ bản và đợc giải quyết trên
cơ sở đa vấn đề chất thải nguy hại vào một hệ thống hoàn chỉnh, sau đó
phân tích hệ thống thành nhiều phân hệ rồi thiết lập mối quan hệ giữa các
phân hệ vói nhau để giải quyết hệ thống theo mục đích nghiên cứu thông
qua các mối quan hệ đó
III. Hiện trạng chất thải nguy hại
3.1. Khái niệm về chất thải nguy hại
Để tạo cơ sở khoa học cho việc quản lý và xử lý các chất thải nguy hại
thì vấn đề cơ bản là hiểu khái niệm, cách nhận biết các chất thải nguy hại là
điều cần thiết.
Khái niệm về chất thải nguy hại đã đợc nhiều tổ chức Y tế, Hoá học và
Môi trờng trên thế giới đã đa ra. Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện mỗi quốc gia
mà có những khái niệm cụ thể cho mình. Ví dụ
- ở Canada: Chất thải nguy hại là các chất phế thải mà tính chất và số l-
ợng của chúng có thể độc hại đến sức khoẻ con ngời hay môi trờng và cần
đến kỹ thuật thải đặc biệt để loại trừ hay giảm thiểu mối độc hại
- ở Philipin: Các chất thải tự chúng có tính nguy hiểm đến cơ thể con

Do các đặc tính nguy hại này mà việc quản lý và xử lý các chất thải
nguy hại là vấn đề rất cần thiết.
3.3. Hiện trạng chất thải nguy hại
3.3.1. Nguồn chất thải nguy hại
Để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh ra chất thải nguy hại, trớc hết phải tìm
hiểu và đánh giá dựa trên đặc tính của từng ngành sản xuất. Nguồn phát sinh
ra chất thải nguy hại có thể đợc đánh giá thông qua một số nguồn sau:
* Rác thải bệnh viện
Hiện nay, ở Hà Nội 36 bệnh viện (trong đó có 21 bệnh viện trực thuộc
Trung ơng, 9 bênh viện chuyên khoa, và 6 bệnh viện thành phố) [5]. Hầu hết
các bệnh viện đều thải ra môi trờng đất, nớc và không khí một lợng tơng đối
lớn các chất thải nguy hại, nhất là chất thải rắn. Tuy nhiên, theo thống kê
của URENCO thì hiện chỉ có 14 bệnh viện ký hợp đồng thu gom và xử lý.
Việc phân loại các chất thải nguy hiểm chính từ bệnh viện thể hiện ở bảng
1.
Bảng 1. Chất thải nguy hại chính của các bệnh viện [5]
TT Loại Nguồn gốc
1.
Bệnh lý Các mô, các tổ chức, các phần cơ thể, xơng xúc vật
2. Nhiễm
khuẩn
Các môi trờng nuôi cấy và tích trữ tác nhân gây bệnh
thải ra từ các phòng thí nghiệm, các phế thải trong
phòng mổ, các vật mổ xẻ và các phế thải trong phòng
cách ly những căn bệnh dễ lây, các phế thải sinh ra khi
5
điều trị các bệnh nhân nhiễm khuẩn và qua quá trình
phân tích (các dụng cụ phân tích, trang phục ngời phân
tích, ). Các phế thải trong cơ thể ngời bệnh có chứa
nhiều loại dịch bệnh có khả năng lây lan trực tiếp đến

ô nhiễm đáng kể cho môi trờng
- Công nghiệp điện tử: Các chất thải chủ yếu sinh ra trong quá trình mạ,
do các chất bán dẫn và nhiều hợp kim khác
- Công nghiệp sản xuất giày da: Chủ yếu là các hoá chất sử dụng trong
quá trình xử lý da nh Cr
3+
, lu huỳnh,
- Công nghiệp sản xuất sơn: Các chất thải độc hại chủ yếu đợc sinh ra
sau quá trình sản xuất nh bùn thải,
- Công nghiệp luyện kim: Ngành công nghiệp luyện kim trên địa bàn Hà
Nội chủ yếu là gia công nên lợng chất thải rắn đợc thải ra môi trờng hầu hết
có thể tái sử dụng lại đợc. Trong ngành công nghiệp luyện kim, ngành công
nghiệp mạ có khả năng gây ô nhiễm môi trờng nớc tơng đối lớn bởi các hoá
chất và các kim loại nặng, từ đó chúng tác động tới các chất lơ lửng có trong
cống rãnh gây ảnh hởng tới môi trờng và sức khoẻ con ngời.
Đối với rác thải sinh hoạt, nguồn gây ra chất thải nguy hại bao gồm
phần rác thải sinh hoạt nh phân, nớc tiểu, do có chứa các vi sinh vật truyền
6
nhiễm cho ngời và động vật. Đồng thời, đây cũng là môi trờng thích hợp cho
các loài vi khuẩn, ruồi, muỗi sinh sống và phát triển.
3.3.2. Lợng chất thải nguy hại
Nhìn chung số lợng chất thải rắn tạo ra ở Hà Nội theo các công trình
nghiên cứu trớc đây vẫn cha có sự đồng nhất. Theo kết quả điều tra:
- Tổng lợng chất thải rắn công nghiệp trong thành phố Hà Nội đợc tạo ra
khoảng 276.150 tấn/ngày đêm, tơng ứng với 1.474 m
3
/ngày (lợng chất thải
này cha tính đến lợng bùn lắng trong hệ thống thoát nớc của các cơ sở sản
xuất)
- Lợng chất thải do các bệnh viện ở Hà Nội tạo ra từ trớc đến nay vẫn

/ngày [4].
Một điều cần lu tâm là số lợng chất thải rắn nguy hại nêu trên vẫn cha
phải là con số thống kê đầy đủ vì trên thực tế, một số cơ sở cha có đợc các
số liệu do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhiều chất thải nguy hại bị thất
thoát cha kiểm soát đợc. Theo kết quả điều tra tại một số nhà máy trọng
điểm trên địa bàn Hà Nội cho thấy lợng chất thải nguy hại chứa trong bùn
thải có khoảng 4.000 - 6.500 tấn/năm [4]. Con số này sẽ cao hơn rất nhiều
nếu tính tới các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệ nhỏ nh
các phân xởng mạ, các cơ sở dệt nhuộm hoặc các cơ sở gia công phim
ảnh,
IV. hiện trạng Vấn đề quản lý và xử lý chất thải
nguy hại
Nguồn tạo ra các chất thải nguy hại rất đa dạng và khác nhau cả về đặc
điểm và khối lợng. Khối lợng chất thải không ngừng tăng lên theo tốc độ
phát triển kinh tế và mức độ gia tăng dân số. Việc thu gom chất thải hiện
nay vẫn chủ yếu dựa trên hệ thống thu gom quốc doanh. ở Hà Nội,
7
URENCO chịu trách nhiệm quản lý chất thải rắn trên khắp địa bàn thành
phố thông qua các xí nghiệp trực thuộc.
Mặc dù đã đợc thu gom nhng Hà Nội hiện vẫn cha có kho chứa tạm chất
thải rắn nguy hại và bãi chôn lấp an toàn. Các chất thải nguy hại thờng đợc
xử lý chung với các loại rác thải khác. Một số cơ sở sản xuất đã bắt đầu tự
xử lý rác thải nguy hại, nhng nhìn chung công nghệ xử lý vẫn cha đáp ứng
đợc yêu cầu. Ví dụ nh một số bệnh viện tuy đã có lò đốt, nhng không có hệ
thống xử lý bụi và khí thải, tro bụi sau khi đốt không đợc chôn lấp theo
quy định mà bị đổ lung tung, không có sự kiểm soát. Hoặc tại cơ sở sản xuất
ở Sài Đồng, chất thải nguy hại công nghiệp đợc cố định, đóng rắn nhng
không đợc chôn lấp mà đợc sử dụng làm vật liệu xây dựng,
Nói tóm lại, đối với các chất thải rắn nguy hại hiện nay, vấn đề quản lý
và xử lý đang là một vấn đề lớn cần phải quan tâm. Hầu hết các chất thải rắn

thể tự sinh ra hoặc mất đi, mà chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác, từ
8
khu vực có mức độ tác động này sang khu vực có mức độ tác động khác
[2].
Dạng tồn tại của các chất thải giữ vai trò rất quan trọng, đặc biệt là đối
với chất thải nguy hại. Do đó, giải pháp kiểm soát chất ô nhiễm trong môi
trờng đầu tiên là chuyển chúng từ dạng độc hại sang dạng không độc hại
hoặc ít độc hại hơn bằng các tác động hoá, lý hay sinh học.
Đối với các chất thải nói chung và chất thải nguy hại nói riêng, chúng ta
có thể thu gom lại để xử lý theo các phơng pháp khác nhau tuỳ thuộc vào
loại chất thải. Nhng nói chung, các chất thải nguy hại thờng đợc áp dụng các
loại hình xử lý nh chôn lấp hoặc đốt. Biện pháp chôn lấp hoặc đốt này tuy đã
giải quyết đợc vấn đề ô nhiễm trớc mắt bởi các chất thải rắn nhng nó lại sinh
ra một dạng ô nhiễm mới nh việc chôn lấp sẽ gây ô nhiễm đất, ô nhiễm nớc
ngầm trong khu vực, hoặc việc đốt sẽ gây ô nhiễm không khí hay việc đổ
thải xuống các sông hồ, biển sẽ gây ô nhiễm nguồn nớc. Do đó, việc quản lý
và xử lý các chất thải nguy hại không thể giải quyết trớc khi cân nhắc toàn
bộ những hậu quả mà chúng mang lại. Tức là cần phải cân nhắc tới cân bằng
vật chất bao gồm cả việc chôn lấp hay đốt cháy các chất thải đối với từng
ngành sản sinh ra chất thải nguy hại. Điều này có nghĩa là chúng ta phải
xem xém tới nguyên lý giải pháp tổng thể cho một vấn đề môi trờng có
nghĩa là cân nhắc các hậu quả môi trờng, bao gồm cả chất thải sinh ra trong
sản xuất và các ngành công nghiệp phụ trợ bằng cách tính tổng cân bằng vật
chất [2].
Vấn đề môi trờng của chúng ta không phải là loại bỏ các chất ô nhiễm
mà là kiểm soát các chất ô nhiễm. Các công nghệ môi trờng có khả năng
giúp chúng ta kiểm soát và xử lý các chất thải nguy hiểm bằng cách làm
giảm mức ô nhiễm của chúng xuống thấp hơn so với ngỡng nguy hiểm đối
với cơ thể con ngời và sinh vật sống trên Trái Đất bằng cách chuyển từ dạng
tồn tại có nồng độ cao (bằng hoặc vợt ngỡng nguy hiểm) sang dạng dạng

ta phân tích tìm hiểu một cách thấu đáo theo các nguyên lý bảo toàn vật
chất, bảo toàn năng lợng hay các nguyên lý phát triển bền vững cũng nh các
chu trình sinh địa hoá thì vấn đề kiểm soát chất ô nhiễm sẽ thực hiện một
cách phù hợp và có hiệu quả hơn nhiều.
10
Tài liệu tham khảo
1. Lu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh, 2000
Quản lý Môi trờng cho sự phát triển bền vững
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
2. Lu Đức Hải, 2002
Các nguyên lý khoa học Môi trờng
Giáo trình giảng dạy cao học Khoa Môi trờng
3. Lê Văn Khoa, Nguyễn Ngọc Sinh, Nguyễn Tiến Dũng, 2000
Chiến lợc và chính sách môi trờng
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Trịnh Thị Thanh, 2000
Điều tra hiện trạng, dự báo nguồn phát sinh, lợng, tính chất và đề
xuất các biện pháp xử lý chất thải nguy hại Hà Nội.
5. Trịnh Thị Thanh, 1997
Đánh giá hiện trạng về chất thải nguy hại và kiến nghị công nghệ xử
lý của thành phố Hà Nội
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status