Tìm hiểu về việc áp dụng kinh tế học trong y tế - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Cung với sự thay đổi kinh tế của toàn xã hội, ngành Y tế cũng đã có những
thay đổi lớn lao, được biểu hiện bằng 3 chính sách: (1) Thu một phần viện phí;
(2) Thực hiện các mô hình bảo hiểm y tế; (3) Cho phép hành nghề y được tư
nhân. Những chính sách này liên quan chặt chẽ đến nội dung của kinh tế học
trong y tế. Chính vì thế việc trang bị những kiến thức về kinh tế y tế trở nên cần
thiết, không chỉ đối với các nhà hoạch định chính sách, những cán bộ quản lý
mà cho cả những sinh viên như chúng em.
Với nhiệm vụ làm bài tiểu luận môn học “Kinh tế vi mô” nhận thức được ý
nghĩa và tàm quan trọng đó là tạo cơ hội cho chúng em bước đầu làm quen với
việc nghiên cứu khoa học, tự mình đọc các tài liệu, nghiên cứu xử lý, sắp xếp
những ý tưởng để chứng minh những vấn đề được đặt ra. Và với đề tài nhóm 04
chúng em lựa chọn là “ Tìm hiểu về việc áp dụng Kinh tế học trong Y tế” làm
đề tài nghiên cứu.
2.Mục đích nghiên cứu
Với đề tài đã lựa chọn, nhóm chúng em đặt ra những mục đích nghiên cứu
như sau:
- Trình bày được khái niệm về kinh tế, kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô, thị
trường, cung và cầu.
- Mô tả mối lien quan giữa kinh tế và y tế, chức năng của kinh tế trong y tế.
- Phân tích cung cầu trong chăm sóc sức khỏe và đặc tính của thị trường trong
chăm sóc sức khỏe.
- Từ những kiến thức trên cơ sở lý thuyết được thầy cô giảng dạy và những
kiến thức học hỏi áp dụng trên thực tế và đưa ra những mặt tồn tại trong nghành
y tế, từ đó đưa ra các giải pháp.
NỘI DUNG
I.KINH TẾ HỌC VÀ VIỆC ÁP DỤNG KINH TẾ HỌC TRONG Y TẾ
1. Khái niệm kinh tế học
Hàng ngày chúng ta đều phải đưa ra các quyết định kinh tế. Là người tiêu
dùng chúng ta muốn đạt được sự thoả mãn cao hơn khi chi tiêu mỗi đồng tiền,

đề kinh tế cụ thể các bộ phận của nền kinh tế.
Phạm vi nghiên cứu của kinh tế vi mô là các vấn đề chi tiêu cá nhân, kinh tế
hộ gia đình, các vấn đề cụ thể của doanh nghiệp Ví dụ: Tại sao các gia đình
lại thích dùng gas làm chất đốt hơn là dùng than, tại sao người dân lại thích đi
ôtô cá nhân hơn là đi xe máy
Kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô là hai bộ phận có mối quan hệ mật thiết và bổ
sung cho nhau, là hai bộ phận của kinh tế học. Kinh tế vi mô phụ thuộc vào sự
phát triển của kinh tế vĩ mô, kinh tế vĩ mô tạo môi trường để kinh tế vi mô phát
triển.
3. Thị trường
3.1. Khái niệm
Thị trường là tổng hợp các quan hệ kinh tế hình thành trong hoạt động mua và
bán. Theo nghĩa hẹp nhất, thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán hàng
hoá.
Thị trường là một quá trình, trong đó người mua và người bán một thứ hàng
hoá, dịch vụ nào đó, tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và khối lượng
hàng hoá, dịch vụ.
Điều chung nhất đối với các thành viên tham gia vào thị trường là tìm cách
thực thi việc lựa chọn kinh tế tối ưu của mình.
Người sản xuất (hàng hoá-dịch vụ) Bán Tối đa lợi nhuận
Người tiêu dùng (cá nhân, hộ gia đình, cơ quan) Mua Tối đa lợi ích
3. 2. Cơ chế thị trường
Giá cả thị trường được định ra giữa người mua và người bán là do qui định
của luật cung - cầu.
Cơ chế thị trường thực hiện ba chức năng:
- Trao đổi thông tin về ý thức của người tiêu dùng, về sự khan hiếm, về hiệu
quảvà chi phí cơ hội của sản xuất.
- Khuyến khích người sản xuất sản xuất ra những sản phẩm có giá trị nhất cho
xã hội, và sản xuất chúng theo cách hiệu quả nhất.
- Thực hiện sự phân bổ đầu tiên về nguồn lực và thu nhập, giá cả sẽ quyết

yếu tố quan trọng quyết định đến cầu nhưng nó không phải là duy nhất.
4.2. Các yếu tố quyết định đến cầu
- Thu nhập.
- Qui mô của thị trường (số lượng người mua) : Số lượng người mua tăng
gấp 2 lần thì cầu về hàng hoá cũng tăng khoảng 2 lần.
- Giá cả và tính sẵn có của hàng hoá khác:
+ Hàng hóa không liên quan (hàng hoá độc lập): Sự thay đổi giá của mặt hang
này không làm ảnh hưởng đến cầu của hàng hoá kia. Ví dụ: Quần áo và than tổ
ong là hai loại hàng hóa độc lập.
+ Hàng hoá thay thế được cho nhau: Nếu giá của mặt hàng này tăng thì cầu
của hàng hoá thay thế sẽ tăng (quan hệ thuận chiều). Ví dụ thị trường chất đốt:
Giá gas tăng dẫn đến cầu của than tổ ong tăng.
+ Hàng hoá bổ sung cho nhau: Nếu giá mặt hàng này tăng thì cầu của mặt
hàng kia giảm (quan hệ nghịch chiều).
- Thị hiếu (mốt, quảng cáo).
- Kỳ vọng về giá cả, thu nhập, thị hiếu, giá cả của các hàng hoá khác
5. Cung
5. 1. Các khái niệm
- Lượng cung: Là số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người bán có khả năng và
sẵn sàng bán ở một mức giá cụ thể trong một thời gian nhất định, với điều kiện
các yếu tốkhác là như nhau như: Công nghệ, giá cả đầu vào, chính sách của Nhà
nước không bị thay đổi.
- Cung: Là lượng hàng hoá và dịch vụ mà người bán có khả năng bán và sẵn
sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
- Cung khác lượng cung: Cung không phải là số lượng cụ thể mà là sự mô tả
toàn diện mối quan hệ giữa giá cả và lượng cung hàng hoá. Cung là một hàm số
thể hiện hành vi của người bán ở các mức giá khác nhau.
- Hai yếu tố không thể thiếu được của cung là: Sự sẵn sàng và khả năng bán.
Cung thị trường = tổng cung cá nhân.
- Biểu cung: Thể hiện mối quan hệ giữa lượng cung của một hàng hoá và giá

lực lượng lao động kể cả số lượng, chất lượng và làm tái sản xuất sức lao động.
6.2.2. Một số đặc điểm của hệ thống y tế mang ý nghĩa kinh tế
Thông thường giá cả rẻ, thu nhập cao thì sức mua sẽ lớn. Trong y tế điều này
không luôn đúng. Y tế có 3 trường hợp:
- Nhu cầu chạy chữa cho các bệnh tật không nguy hiểm, không đe doạ sự
sống sẽ bị tác động mạnh mẽ bởi thu nhập của người bệnh và giá cả dịch vụ.
Thu nhập cao sẽ chi phí nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe.
- Trong trường hợp đe doạ cuộc sống thì sẽ không tuân theo qui luật thong
thường trên. Đòi hỏi về dịch vụ điều trị trong các trường hợp này thường không
bị ảnh hưởng bởi thu nhập của người bệnh và giá cả dịch vụ. Ví dụ: Trường hợp
bệnh nhân chấn thương sọ não bắt buộc đến bệnh viện mà không tính đến thu
nhập hoặc hiện tại anh ta có bao nhiêu tiền để trả cho các dịch vụ y tế sẽ sử dụng
để điều trị chấn thương sọ não.
- Nhu cầu về các dịch vụ phòng bệnh xuất hiện không bị ảnh hưởng bởi thu
nhập và giá cả dịch vụ.
Người tiêu dùng các dịch vụ y tế không xác định được chủng loại, số lượng
và chất lượng những cái mà anh ta mua. Người thầy thuốc đưa ra quyết định
còn người bệnh trả tiền, tuy vậy người bệnh không có khả năng xét đoán về mặt
kỹ thuật và cũng không ở vị trí để đánh giá dịch vụ mà anh ta nhận được.
Sự cạnh tranh trong bệnh viện không phải do hạ giá thành dịch vụ mà là chất
lượng dịch vụ và độ tin cậy. Bởi vì sự cạnh tranh giữa các bệnh viện không dựa
trên nền tảng chi phí mà trên dịch vụ và hiệu quả y học. Người thầy thuốc không
thể quyết định gửi bệnh nhân đến nơi có chi phí thấp mà thường dựa trên khả
năng chẩn đoán và điều trị của cơ sở đó. Bệnh nhân cũng không yêu cầu thầy
thuốc gửi họ tới cơ sở y tế rẻ tiền mà thường yêu cầu gửi tới nơi nào có dịch vụ
tốt và tiện nghi thoải mái.
Mục đích tiếp thị để tăng yêu cầu dịch vụ chỉ áp dụng cho các chương trình
phòng bệnh và tăng cường sức khoẻ. Với bệnh viện thì mục đích tốt hơn là đảm
bảo dân khoẻ mạnh để họ không cần vào bệnh viện.
Không phải tất cả các trung tâm chi phí trong một bệnh viện đều có lãi. Một

hình dịch vụ y tế.
- Thiết lập mục tiêu chăm sóc sức khoẻ: Tư vấn để lựa chọn các vấn đề chiến
lược các mục tiêu tổng thể, mục tiêu chuyên biệt cho toàn ngành y tế hoặc cho
các chương trình, hoạt động y tế dựa trên cơ sở phân tích vấn đề sức khoẻ và
nguồn lực dành cho y tế.
- Phân tích việc sử dụng các nguồn lực: Tư vấn việc phân bổ nguồn lực cho
các chương trình, hoạt động y tế nhằm mang lại hiệu quả cao trong chăm sóc
sức khoẻ một cách tối ưu cho các mục tiêu kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực
và địa phương.
- Lựa chọn các vấn đề ưu tiên: Nguồn lực luôn có hạn vì vậy cần phải nghiên
cứu để xác định vấn đề ưu tiên phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội trong
từng giai đoạn nhất định.
- Phân tích và đánh giá hiệu quả: Các chính sách, các quyết định cần phải
được phân tích đánh giá một cách khách quan nhằm đạt được mục đích và
lường trước những điều bất lợi có thể xảy ra, cũng như các giải pháp tác động
tiếp theo.
- Nghiên cứu mô hình dịch vụ y tế. Nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực và
hiệu quả kinh tế xã hội.
- Nghiên cứu khoa học quản lý trong ngành y tế. Quản lý ngành, quản lý dịch
vụ y tế, quản lý bệnh viện, quản lý dược
8. Cung, cầu trong chăm sóc sức khoẻ
8. 1. Đặc điểm cung cầu trong chăm sóc sức khoẻ
Tình huống: Chị Mường là cán bộ của Uỷ ban nhân dân xã, sống ở xã vùng
cao.
Người dân trong làng có thói quen cúng khi ốm đau vì theo họ là do ma làm
người ốm.
Một số người dân cũng đến nhà ông lang Tèo rất nổi tiếng chữa được nhiều
bệnh bằng uống thuốc từ các loại lá cây. Đôi khi chị cũng thấy người dân đến
trạm y tế xã để chữa bệnh. Cách nhà chị Mường khoảng 10 km trên phố huyện
có bà bác sỹ già chữa bệnh tại nhà, bà còn có cả máy siêu âm để khám bệnh, bà

- Người tiêu dùng khó dự đoán nhu cầu của họ đối với y tế. Nhu cầu tương lai
về y tế, chi phí cho việc ốm đau thường không chắc chắn và thường tốn kém;
dẫn tới việc hình thành các quĩ bảo hiểm của khu vực tư nhân hay công cộng để
chia sẻ rủi ro và giảm bớt sự bất ổn.
- Rất ít các dịch vụ có thể thay thế được dịch vụ y tế khi người ta bị ốm đau.
Tuy vậy, trường hợp thuốc phòng, điều trị bệnh cũng có khá nhiều sự thay thế
và giá cả của chúng đóng vai trò khá quan trọng.
- Người bệnh tham gia trực tiếp vào “sản xuất, tiêu thụ” dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ. Quyết định tiêu thụ hay không tiêu thụ một dịch vụ y tế có thể dẫn đến
những hậu quả không hồi phục được (có thể dẫn đến tử vong hoặc tàn phế vĩnh
viễn).
- Thị trường chăm sóc sức khoẻ không hướng tới cạnh tranh tự do, khống chế
người cung cấp tham gia vào thị trường chăm sóc sức khoẻ. Cần duy trì các
chuẩn mực hành nghề và giảm rủi ro do năng lực nghề nghiệp, điều này có
nhược điểm làm tăng chi phí do làm giảm cung cấp. Khi tham gia vào thị trường
cần có giấy phép hành nghề, chuyên nghiệp hoá, tăng số người đào tạo có chất
lượng, giảm tính không chắc chắn do năng lực nghề nghiệp, chính là để chống
lại cạnh tranh trong thị trường.
8.2. Thành phần cung cấp dịch vụ y tế và hiệu quả của từng dịch vụ
Trong giai đoạn hiện này, ảnh hưởng của cơ chế thị trường trong đời sống
kinh tế đối với sự công bằng trong ngành y tế (sự cách biệt giữa người giàu và
người nghèo, sự cách biệt giữa người miền núi và miền xuôi, tiếp cận với dịch
vụ và điều trị, tiếp cận với dịch vụ y tế Nhà nước và dịch vụ y tế tư nhân) đã đặt
ngành y tế trước sự lựa chọn cấp bách:
- Hoặc là hướng nền y tế về phía thị trường (tư nhân).
- Hoặc là hướng nền y tế vào vị trí trung gian, Nhà nước và tư nhân đóng vai
trò như nhau.
- Hoặc là hướng nền y tế quay lại thời kỳ bao cấp, nghĩa là Nhà nước đảm bảo
gần như toàn bộ mọi chi phí y tế.
- Hoặc là hướng nền y tế về phía mà ở đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, tư

của dân với hệ thống y tế là tiêu chí đánh giá công bằng trong chăm sóc sức
khoẻ. Người dân (không phân biệt giàu nghèo, địa lý, dân tộc, giới ) càng dễ
tiếp cận với hệ thống y tế bao nhiêu thì hệ thống y tế thể hiện tính công bằng
càng lớn bấy nhiêu. Ngược lại người dân càng hạn chế tiếp cận với dịch vụ y tế
thì tính không công bằng càng lớn.
- Tiêu chí "sàn": Tức là quy định về dịch vụ thiết yếu và công bằng được
đánh giá ở chỗ không một người dân nào được đáp ứng thấp hơn dịch vụ thiết
yếu đó.
Dưới góc độ cung - cầu và sự điều tiết cung - cầu chúng ta hiểu công bằng
trong chăm sóc sức khoẻ không phải là cào bằng và bình quân. Khác với các loại
dịch vụ khác, các chính sách và hoạt động về sức khoẻ trước hết trước hết phải
đáp ứng theo yêu cầu chăm sóc sức khoẻ của từng loại đối tượng, bên cạnh đó
có loại hình phục vụ sức khoẻ theo yêu cầu (tức là theo khả năng chi trả). Phải
lấy việc phục vụ nhu cầu làm ưu tiên hàng đầu chứ không thể lấy việc thực hiện
yêu cầu làm ưu tiên hàng đầu.
Nói một cách khác không thể thương mại hoá dịch vụ y tế.
II. NHỮNG MẶT HẠN CHẾ TỒN TẠI TRONG Y TẾ , GIẢI PHÁP
KHẮC PHỤC
1. Những mặt hạn chế tồn tại trong y tế
1.1. Nguồn lực tài chính hạn chế
1.1.1. Tỷ trọng chi công cho y tế còn thấp
Trong những năm qua, mặc dù ngân sách Nhà nước chi cho y tế đã tăng
nhưng tỷ trọng còn thấp. Đến năm 2009 tỷ trọng chi cho y tế chiếm 10,3% tổng
chi ngân sách Nhà nước, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư của
ngành y tế. Trong những năm tới tỷ trọng này nếu có tăng thêm nữa cũng vẫn
không thể đáp ứng được nhu cầu đầu tư, hơn nữa tỷ trọng này không thể cứ tăng
thêm được mãi vì nhu cầu của các ngành khác trong xã hội cũng rất cao. Điều
này cho thấy nếu tài chính y tế chỉ “trông đợi” vào NSNN thì chắc chắn sẽ
không theo kịp sự phát triển và nhu cầu của xã hội, bên cạnh đó cũng cho thấy
tính cấp bách cần đổi mới toàn diện cơ chế tài chính y tế, có như vậy nền tài

trợ kinh phí trực tiếp cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương ở một số địa phương
mặc dù đã mua được thẻ BHYT nhưng người dân chưa thực sự được hưởng các
DVYT có chất lượng.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Luật BHYT, NSNN cũng được sử dụng để hỗ
trợ cho đối tượng cận nghèo tối thiểu 50% mức phí tham gia BHYT. Đến nay,
đối tượng cận nghèo tham gia BHYT mới chỉ đạt khoảng 10%. Bên cạnh đó, các
nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc khác như học sinh sinh viên, trẻ em
dưới 6 tuổi, người cao tuổi… cũng chưa đạt tỷ lệ 100% có thẻ BHYT do nhiều
nguyên nhân, trong đó có cả những nguyên nhân thuộc về cơ chế, chính sách, sự
phối hợp thực hiện giữa các ban, ngành chức năng, nhận thức pháp luật của một
bộ phận nhân dân… Khoản NSNN dành để mua thẻ BHYT cho các đối tượng
này cũng không được sử dụng để mua thẻ. Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có
giải pháp phù hợp để sử dụng tốt nguồn lực ngân sách dành cho hỗ trợ cho
người cận nghèo và một số đối tượng khác mua thẻ BHYT.
1.1.3. Tài chính cho y tế dự phòng chứa đựng nhiều bất hợp lý và vướng
mắc
Việc phân bổ tài chính cho y tế dự phòng hiện nay đang có nhiều vướng mắc.
Thứ nhất, việc tính toán tách bạch rành mạch các khoản chi cho YTDP rất khó
khăn do YTDP bao gồm nhiều hoạt động, nguồn chi và mục chi khác nhau. Hiện
nay, kinh phí chi cho YTDP thông qua nhiều dòng kinh phí như hỗ trợ trực tiếp
cho cơ sở y tế hoặc hỗ trợ thông qua chương trình mục tiêu y tế quốc gia, dự
án… Chính vì vậy, để xác định được kinh phí được cấp cho YTDP đã đủ hay
chưa theo tinh thần của Nghị quyết số 18 Quốc Hội khóa XII còn khá phức tạp.
Việc giao quyền tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP cho các đơn vị dự
phòng có nhiều vấn đề bất hợp lý và chưa thực sự mang lại hiệu quả. Các đơn vị
thuộc khối YTDP có những nét đặc thù riêng như các hoạt động mang tính chất
phục vụ cộng đồng và phòng chống bệnh dịch là chủ yếu; nguồn thu trực tiếp từ
người dân do DVYT dự phòng mang lại tương đối hạn hẹp. Chính vì vậy, khi áp
dụng Nghị định 43 vào các đơn vị khối YTDP sẽ dẫn đến nghịch lý là “đơn vị
nào hoạt động càng tích cực thì khoản kinh phí tiết kiệm được sẽ càng ít”. Hầu

bệnh viện tuyến huyện hạn chế cũng chưa thực sự khuyến khích người dân sử
dụng dịch vụ bệnh viện ở tuyến dưới. Thực trạng này đòi hỏi nhu cầu đổi mới và
cần có các cơ chế phân bổ tài chính hợp lý hơn cho các bệnh viện, làm thế nào
để việc phân bổ kinh phí dựa trên hoạt động thực chất của bệnh viện, khuyến
khích người dân sử dụng các DVYT tuyến dưới và tránh hiện tượng “bao cấp
ngược” cho người giàu.
1.2. Sử dụng tài chính chưa hiệu quả
Bên cạnh các khó khăn như nguồn lực tài chính hạn chế, phân bổ còn nhiều
bất cập thì tính hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực tài chính đang có nhiều
vấn đề tồn tại.
1.2.1. Giá và sử dụng dịch vụ y tế khó kiểm soát
Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 95-CP về việc thu một phần viện phí
năm 1994 cho đến nay vẫn không có thay đổi chính thức nào về mặt văn bản.
Sau 16 năm, giá viện phí trên lý thuyết vẫn áp dụng khung giá từ năm 1994 đã
bộc lộ quá nhiều bất hợp lý so với mặt bằng giá cả chung của xã hội. Chính vì
giá viện phí không bù đắp đủ chi phí cho các DVYT nên để tồn tại được trong
nền kinh tế thị trường, các bệnh viện và CSYT đã tự áp dụng các quy định và
hình thức khác nhau nhằm tăng thêm nguồn thu, bù đắp vào khoản thiếu hụt.
Điều này dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực khác như giá một số dịch vụ bệnh viện
gia tăng khó kiểm soát, trong đó có vấn đề lạm dụng thuốc và xét nghiệm (theo
báo cáo y tế thế giới năm 2010 lãng phí 40%). Mặc dù hiện nay không có công
cụ và biện pháp hữu hiệu nào để đánh giá được việc lạm dụng thuốc và dịch vụ
cận lâm sàng, nhưng theo kết quả một số nghiên cứu thì hiện tượng này đang tồn
tại ở nhiều CSYT Nhà nước và đặc biệt là CSYT tư nhân. Một nghiên cứu đánh
giá việc thực hiện tự chủ bệnh viện theo Nghị định 43 cho biết có nguy cơ lạm
dụng, tăng chỉ định sử dụng các XN và TTB kỹ thuật cao tại một số bệnh viện
các tuyến; tỷ lệ sử dụng MRI và CT trên lượt bệnh nhân tăng qua các năm, 20%
bác sỹ được điều tra cho biết có nguy cơ lạm dụng xét nghiệm. Bệnh viện tuyến
TW có chi phí điều trị ngoại trú của bệnh nhân BHYT tăng từ 1,2-2,6 lần năm
2008 so với năm 2005; chi phí điều trị nội trú tăng 1,1-2,8 lần.

Bên cạnh những mặt tích cực thì chủ trương của Chính phủ giao quyền tự chủ
cho các bệnh viện và cơ sở y tế đã dẫn đến một số tác động tiêu cực không
mong muốn. DVYT là một loại hàng hóa đặc biệt không tuân theo quy luật kinh
tế thị trường nhưng các bệnh viện được giao tự chủ và vận hành theo cơ chế thị
trường, chính vì vậy điều này đã bộc lộ những mâu thuẫn từ mặt lý luận đến bất
cập trong triển khai tự chủ bệnh viện. Các bệnh viện được giao tự chủ nhưng
không tính đủ chi phí trong cơ cấu giá dịch vụ làm cho các bệnh viện thiếu
nguồn lực, từ đó dẫn đến các bệnh viện đều có chủ trương tận thu. Theo một
nghiên cứu về việc triển khai NĐ 43, tất cả các bệnh viện đều chủ động mở rộng
các loại hình dịch vụ KCB góp phần làm tăng số lượt bệnh nhân đến KCB tại
bệnh viện. Điều này dẫn đến tình trạng bệnh viện tuyến trên làm cả các DVYT
tuyến dưới, từ đó góp phần làm tăng thêm quá tải bệnh viện, giảm chất lượng
điều trị… Theo nghiên cứu này thì công suất sử dụng giường bệnh tăng rõ rệt
lên 25% tại các BV tự chủ toàn phần (so sánh năm 2008 và 2005).
Việc thực hiện tự chủ bệnh viện cũng làm tăng nguy cơ lạm dụng, tăng chỉ
định sử dụng các xét nghiệm và TTB kỹ thuật cao và tăng chí phí điều trị. Mặt
khác, khả năng thực hiện tự chủ của bệnh viện tuyến huyện rất hạn chế, đặc biệt
tại các vùng kinh tế chưa phát triển do các CSYT ít có khả năng tăng thu từ
người dân. Như vậy, việc thực hiện tự chủ đã làm cho các vấn đề bất cập hiện có
tại tuyến huyện càng trở nên khó khăn hơn. Điều này cũng cho thấy không thể
áp dụng một mô hình tự chủ tài chính chung cho các bệnh viện và CSYT mà cần
có những cơ chế tài chính mềm dẻo và phù hợp hơn với từng nhóm bệnh viện.
Như vậy, nhu cầu cần đổi mới toàn diện cơ chế tài chính y tế là vấn đề rất cấp
thiết đối với ngành y tế.
2. Các giải pháp
2.1. Tăng chi công cho y tế thông qua tăng chi NSNN cho y tế và tăng độ
bao phủ BHYT.
Đến hết năm 2009 tỷ lệ chi công cho y tế đã đạt 45% tổng chi y tế. Phấn đấu
tới năm 2012 tỷ lệ này đạt sấp sỉ 50% và tới năm 2015 đạt 55%. Để đạt được chỉ
số chi công cho y tế ở mức sấp sỉ 50% Việt Nam phải nỗ lực rất nhiều, đặc biệt

được tính toán phù hợp với khả năng đóng góp của nhân dân và thực hiện chính
sách an sinh xã hội, công bằng trong chăm sóc sức khoẻ.
2.4. Đổi mới cơ chế tài chính y tế phải tác động theo hướng có lợi cho
người dân, người bệnh và tác động theo hướng tích cực tới đội ngũ cán bộ y
tế.
Vậy bằng cách nào đổi mới cơ chế tài chính y tế tác động tới đội ngũ thầy
thuốc, làm cho họ làm việc hiệu quả hơn. Nhìn chung đội ngũ thầy thuốc có
mong muốn và yêu cầu rất chính đáng là làm việc trong môi trường có đủ trang
thiết bị y tế để phát huy tối đa năng lực chuyên môn và tăng thu nhập. Về cơ sở
vật chất, Chính phủ đã có các đề án đầu tư theo QĐ47-TTg, QĐ930-TTg và
QĐ950-TTg để đầu tư cho các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện và các trạm
y tế xã. Do vậy điều kiện làm việc của cán bộ y tế đã và đang được cải thiện. Về
thu nhập, Chính phủ cũng đã từng bước có các quyết định tăng mức phụ cấp
thu hút, phụ cấp ưu đãi ngành .v.v. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Trong đề án
đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính y tế, Chính phủ cũng đã đồng ý cho
phép kết cấu vào giá dịch vụ KCB một tỷ lệ thoả đáng để tạo nguồn thu nhằm
tăng thu nhập cho cán bộ y tế nói chung và khuyến khích các thầy thuốc thực
hiện các kỹ thuật chuyên sâu và như các thầy thuốc công tác tại tuyến huyện,
vùng sâu .v.v.
2.5. Tăng cường công tác quản lý nhà nước
Đổi mới luôn có 2 mặt, mặt tích cực và những tác động không mong muốn.
Đổi mới cơ chế tài chính y tế diễn ra trong ngành y tế, một ngành cung ứng dịch
vụ cho xã hội với tư cách một hàng hoá đặc biệt đòi hỏi vai trò của quản lý nhà
nước cao hơn của Chính phủ, các Bộ, cũng như lãnh đạo chính quyền địa
phương.
Ở cấp vĩ mô việc ban hành các cơ chế chính sách với các giải pháp phải đồng
bộ. Tức là một bên phải tạo cơ chế thông thoáng để các bệnh viện vận hành và
chất lượng ngày càng cao trong mối quan hệ tương tác với thị trường. Một bên
khác Chính phủ phải dùng NSNN hỗ trợ để người dân có khả năng tiếp cận được
với các dịch vụ khám chữa bệnh thông qua quỹ BHYT và quỹ hỗ trợ khám chữa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status