LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập cũng nhƣ thực hiện đề tài này, em đã đƣợc
gia đình, bạn bè tận tình giúp đỡ. Bên cạnh đó nhà trƣờng đã tạo điều kiện cũng
nhƣ quý thầy cô đã tận tình dạy bảo, hƣớng dẫn.
Em xin trân thành gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu trƣờng
Đại học Tây Bắc, ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa
cùng các phòng ban chức năng, thƣ viện nhà trƣờng đã giúp đỡ em trong quá
trình nghiên cứu.
Và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, Th.S Nguyễn Văn Minh đã tận tình
giúp đỡ trong việc chọn đề tài cũng nhƣ tìm tài liệu phục vụ cho việc hoàn thành
khóa luận.
Trong quá trình thực hiện đề tài bản thân em đã hết sức cố gắng, nỗ lực để
đạt đƣợc kết quả cao nhất. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, kính mong sự đóng
góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để khóa luận thêm đầy đủ và hoàn chỉnh
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! Ngƣời thực hiện
Lƣu Văn Sinh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HĐTNKT : Hệ địa tự nhiên kĩ thuật
TP : Thành phố
Tx : Thị xã
3
Hình 3.3
Đê biển xã Quảng Cƣ bị phá hủy sau bão
28
4
Hình 3.4
Các tác nhân xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông
32
5
Hình 3.5
Hội chữ thập đỏ kiểm tra rừng ngập mặn huyện
Nga Sơn
42
6
Hình 3.6
Đoạn đê biển mới đƣợc xây dựng tại huyện
Tĩnh Gia
43 BẢNG BIỂU
STT
Số bảng
Tên Bảng
Trang
1
̉
LY
́
LUÂ
̣
N VA
̀
THƢ
̣
C TIÊ
̃
N 7
1.1. Cơ sở lí luận 7
1.1.1. Quan niệm về bờ biển, cửa sông 7
1.1.2. Đặc điểm của đới ven biển, cửa sông 8
1.1.2.1. Tính chất 8
1.1.2.2. Sự tƣơng tác trong địa hệ 9
1.2. Cơ sở thực tiễn 9
1.2.1. Xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông trên thế giới 9
1.2.2. Xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông ở Việt Nam 10
1.2.3. Xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông ở Bắc Trung Bộ 11
CHƢƠNG II: HOÀN CẢNH VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ
HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN XÓI LỞ - BỒI TỤ BỜ BIỂN, CỬA SÔNG TỈNH
THANH HÓA 13
2.1. Hoàn cảnh tự nhiên 13
2.1.1. Vị trí địa lí 13
2.1.2. Địa hình, địa chất 15
2.1.3. Khí hậu 17
2.1.4. Thủy văn 17
3.3. Giải pháp phòng tránh hiện tƣợng xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông 41
3.3.1. Giải pháp công trình 41
3.3.2. Giải pháp phi công trình 43
KẾT LUẬN 46 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thiên nhiên đã dành cho nƣớc ta một ƣu đãi rất lớn về biển, với đƣờng bờ
biển dài hơn 3260 km và gần 4000 hòn đảo lớn nhỏ đã đƣa nƣớc ta trở thành
nƣớc có tiềm năng về kinh tế biển. Vùng ven biển nƣớc ta có nhiều cửa sông đổ
ra biển, trung bình cứ 20 km lại có một cửa sông mang theo một nguồn dinh
dƣỡng khổng lồ từ trong lục địa nên nguồn lợi thủy hải sản phú và đa dạng với
nhiều loài quý hiếm có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó do địa hình bị chia cắt
mạnh với những dãy núi chạy sát ra tận biển đã tạo cho bờ biển nƣớc ta có nhiều
danh lam thắng cảnh đẹp với những bãi cát dài, phong cảnh sơn thủy hữu tình là
điều kiện lí tƣởng cho du lịch dƣỡng nghỉ mát. Tuy nhiên bên cạnh những tiềm
năng to lớn mà thiên nhiên ban tặng đó, hàng năm vùng ven biển nƣớc ta luôn
phải hứng chịu nhiều thiên tai nhƣ bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa, triều cƣờng,
nƣớc dâng gây xói lở bờ, bồi lấp cửa sông, phá hủy nhiều công trình dân sinh,
khai thác sử dụng rừng, khoáng sản, đặc điểm thủy văn biển của tỉnh Thanh Hóa
và tác động của chúng đến quá trình xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông.
Nghiên cứu hiện trạng xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông tỉnh Thanh Hóa từ
đó đề xuất các giải pháp quản lí và bảo vệ đới ven biển, phòng tránh giảm thiểu
các tai biến xói lở - bồi tụ khu vực này.
5. Giới hạn của đề tài
Nội dung: Đề tài nghiên cứu hiện trạng xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông
tỉnh Thanh Hóa.
Không gian: Chủ yếu nghiên cứu trong phạm vi các huyện: Nga Sơn, Hậu
Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xƣơng, Tĩnh Gia và Tx Sầm Sơn, đặc biệt là các đoạn
bờ biển, cửa sông bị xói lở - bồi tụ diễn ra mạnh mẽ tại khu vực ven biển tỉnh
Thanh Hóa.
Thời gian: Đề tài còn nhiều hạn chế nhất định, nên chỉ đề cập tới các quá
trình địa chất hiện nay tác động đến bờ biển, cửa sông tỉnh Thanh Hóa.
6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
6.1. Trên Thế Giới 3
Các công trình nghiên cứu về xói lở và bồi tụ bờ biển, cửa sông đã đƣợc
xuất bản trên các tạp chí định kì nhƣ: Jourual of coastal research (CERF - Mỹ),
Natural disaster (Nhật), Proceeding của các hội thảo (University of Tokio press),
Coastal Enginearing (Mỹ), Bordomer (Pháp). Trong nhiều chƣơng trình dự án
quốc tế, vấn đề xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông đƣợc coi là trọng tâm của
chƣơng trình Land Ocean Interactions in the coastal zone (LOCZ), chƣơng trình
LOCZ - nghiên cứu tƣơng tác giữa đại dƣơng và lục địa ở dải ven biển, chƣơng
trình đối sánh đại chất quốc tế (IGCP), ở khu vực (WESTPAC), chƣơng trình
APN hiện nay các nƣớc Đông Nam Á đang phối hợp xây dựng mạng lƣới
quan trắc và từng bƣớc triển khai dự án EA LOICZ trong đó quá trình xói lở -
bồi tụ bờ biển là một trong những nội dung luôn đƣợc ƣu tiên.
biển và các cửa sông ven biển Việt Nam" của các tác giả Trịnh Thế Hiếu, Lê
Phƣớc Trình, Tô Quang Thịnh (2005), "Nghiên cứu sự hình thành và biến đổi
quá trình bồi tụ - xói lở ở đới ven biển Thái Bình - Nam Định" (2007) của tác
giả Đỗ Thị Minh Đức hay "Đánh giá hiện trạng bồi - xói và đề xuất sử dụng khu
vực Tây Nam bán đảo Đồ Sơn" (2008) của Đinh Văn Huy. Ngoài ra còn có một
số công trình sử dụng công nghệ viễn thám nghiên cứu tai biến xói lở - bồi tụ
nhƣ một số nghiên cứu của Phạm Văn Cự (1996), Phạm Quang Sơn (1997,
2004)
Các chƣơng trình, đề tài, đề án nghiên cứu này đã thu đƣợc nhiều kết quả
có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn góp phần không nhỏ vào việc giảm thiểu
tai biến xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông. Song do hạn chế về mục tiêu, nội dung
và kinh phí cũng nhƣ thiết bị nghiên cứu nên sự gắn kết giữa các vùng còn hạn
chế, nhiều vấn đề về quy luật về diễn biến bờ biển, cửa sông, cơ chế xói lở bồi tụ
vẫn chƣa đƣợc giải quyết thỏa đáng, nhiều giải pháp công trình đƣợc đƣa ra còn
mang nặng tính cục bộ, địa phƣơng đặc biệt đối với các đoạn bờ biển, cửa
sông tỉnh Thanh Hóa - một trong những nơi phải hứng chịu nhiều thiên tai nhất
của khu vực Bắc Trung Bộ.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Là phƣơng pháp đƣợc sử dụng ở những bƣớc đầu tiên của quá trình nghiên
cứu khoa học, đây còn là bƣớc đƣợc đánh giá nhằm mục đích khái quát chung
về quá trình nghiên cứu, nguồn tài liệu thu thập dƣợc sẽ là cơ sở giúp cho ngƣời 5
thực hiện xác định đƣợc những định hƣớng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và
các phƣơng pháp nghiên cứu cho phù hợp.
7.2. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Trong quá trình nghiên cứu địa lí tự nhiên không thể thiếu nguồn tài liệu là
bản đồ và biểu đồ. Các loại bản đồ, biểu đồ có liên quan nhƣ: Bản đồ địa lí tự
không đầy đủ nhƣ mong muốn. phƣơng pháp phân tích hệ thống thƣờng rất phù
hợp để nghiên cứu quá trình xói lở - bồi tụ.
8. Đóng góp của đề tài
Thanh Hóa đƣợc đánh giá là một trong những tỉnh xảy ra hiện tƣợng xói
lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông mạnh mẽ nhất cả nƣớc. Do đó, việc nghiên cứu các
biến động của đới ven biển, bờ biển, cửa sông có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Từ kết quả nghiên cứu chúng ta có thể xác định đƣợc các tiềm năng, thế mạnh
và nguy cơ tiềm ẩn của các biến động địa chất, địa mạo. Đây là mối quan tâm
hàng đầu của khu vực nhằm quản lý hiệu quả hơn các vùng bờ biển, cửa sông và
hƣớng tới phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi trƣờng.
Ngoài ra đề tài còn là tài liệu tham khảo cho sinh viên nói chung và sinh
viên ngành địa lý nói riêng, để sau này vận dụng vào công tác giảng dạy ở phần
địa lý tự nhiên Việt Nam và địa lý khu vực Bắc Trung Bộ.
9. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài còn có phần nội dung gồm 3 chƣơng:
Chƣơng I: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chƣơng II: Hoàn cảnh về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động đến xói
lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông tỉnh Thanh Hóa
Chƣơng III: Hiện trạng xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông tỉnh Thanh Hóa
7
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I: CƠ SƠ
̉
Một hệ thống gồm các đối tƣợng nhân tạo và các hợp phần thuộc địa quyển hợp
thành một thể thống nhất gọi là địa hệ tự nhiên kĩ thuật (ĐHTNKT). Các tƣơng
tác trong ĐHTNKT làm cho thành phần, trạng thái và tính chất của môi trƣờng
tự nhiên bị biến đổi do hoạt động của con ngƣời.
Cũng nhƣ các quá trình khác trong tự nhiên, quá trình xói lở - bồi tụ bờ
biển, cửa sông là kết quả tƣơng tác bên trong của hệ thống, là kết quả vận động
của ĐHTNKT. Cấu trúc hệ địa này bao gồm các hợp phần tự nhiên là các quyển
của Trái Đất nhƣ: cấu trúc địa chất, tân kiến tạo, chế độ thủy, hải văn và hợp 8
phần kĩ thật chủ yếu là các hoạt động của con ngƣời. Không gian đới ven biển
chính là đới tƣơng tác các hợp phần trong địa hệ. Những tƣơng tác trực tiếp
quyết định sự phát sinh, phát triển của quá trình là tƣơng tác giữa thủy quyển và
thạch quyển. Biểu hiện cụ thể của sự tƣơng tác thủy - thạch đó là tác động sóng,
gió thủy triều, nƣớc dâng do bão đến đất đá, địa hình thềm bờ. Ranh giới này
xảy ra sự tƣơng tác đƣợc xác lập thông qua độ sâu tƣơng tác đối với hoạt động
của sóng, gió, nƣớc dâng do bão, thủy triều.
Trong nghiên cứu xói lở - bồi tụ, độ sâu về phía biển thƣờng đƣợc xác định
dựa trên tác động động học của sóng tới đáy biển còn về phía lục địa, thƣờng
đƣợc lấy tại vùng sóng lên cao cực đại hàng năm. Tuy nhiên phạm vi xảy ra sự
tƣơng tác và sự phân bố của các yếu tố cấu thành hợp phần tƣơng tác thƣờng
không trùng nhau, đặc biệt đối với một khu vực nhạy cảm, dễ biến động nhƣ đới
ven biển, cửa sông. Không gian phân bố các yếu tố cấu thành hợp phần tƣơng
tác thƣờng rộng hơn gấp nhiều lần so với đới tƣơng tác giữa chúng. Rất nhiều
tác động chỉ xảy ra ở đới ven biển nhƣng đó là kết quả tƣơng tác của nhiều yếu
tố khác nhau trên toàn bộ lƣu vực sông nhƣ: địa hình - địa mạo, dòng chảy sông
ngòi, dòng bùn cát, lớp phủ thực vật và các hoạt động kinh tế của con ngƣời
nhƣ: khai thác rừng, canh tác trên đất dốc, xây dựng các công trình điều tiết trên
thƣợng nguồn Do đó phạm vi nghiên cứu của một số yếu tố tự nhiên, kĩ thuật
và tích tụ trầm tích để tạo ra một vùng đất mới là hiện tƣợng tự nhiên trong quá
trình tiến hóa vùng bờ biển, cửa sông. Nó xảy ra sau những thay đổi về mực
nƣớc biển tƣơng đối, khí hậu và các nhân tố khác trên những quy mô về không
gian và thời gian khác nhau, từ các sự kiện theo thời gian địa chất đến các hiện
tƣợng cực đoan trong khoảng thời gian ngắn. Nó cũng có thể tăng lên bởi các
hoạt động của con ngƣời hoặc là ngay tại bờ, hoặc trên các lƣu vực sông, đặc
biệt trên các lƣu vực sông lớn, vốn có nguồn cung cấp một lƣợng trầm tích to
lớn cho bờ biển nhƣ sông Amazon, sông Nil, sông Hoàng Hà, sông Trƣờng
Giang, sông Mê Kông, sông Hồng ở Việt Nam
Từ thời xa xƣa, trƣớc những biến động của tai biến xói lở và bồi tụ bờ
biển, cửa sông con ngƣời đã biết tổ chức ngăn dòng để xây dựng các công trình
ở vùng triều để phục vụ nông nghiệp, thoát lũ, hạn chế úng ngập nhƣ ngƣời Hy
Lạp xây dựng công trình bảo vệ thành Babilon cổ kính, ngƣời Hà Lan xây dựng 10
nhiều đập bờ bảo vệ làng mạc, thành phố để tránh ngập lụt từ phía biển, mà sau
này trong tên nhiều thành phố lớn có thêm từ "Dams" (đập) nhƣ Amsterdam,
Rotterdam đặc biệt là vào năm 1932 Hà Lan bắt đầu thực hiện dự án zuiderzee
ở phía Bắc với 32 km để cắt biển và ngăn dòng, chia thành 5 vùng nhỏ để cải tạo
đất nông nghiệp và một hồ chứa để phục vụ du lịch, từ đó các quốc gia khác nhƣ
Nga, Pháp, Mĩ lần lƣợt thực hiện các biện pháp để tăng cƣờng công tác phòng
chống xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông.
Thế kỉ XXI đƣợc coi là thế kỉ của biển và đại dƣơng đồng thời trƣớc thảm
kịch biến đổi khí hậu, nƣớc biển dâng nhiều vùng bờ biển, cửa sông sẽ bị biến
đổi theo chiều hƣớng tiêu cực và nó sẽ trở thành một trong những thiên tai gây
thiệt hại lớn nhất cho cuộc sống của con ngƣời.
1.2.2. Xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông ở Việt Nam
Việt Nam đang đứng trƣớc nguy cơ phải đối diện với hiện tƣợng bờ biển
đang bị xói lở với cƣờng độ mạnh, mực nƣớc biển ngày càng dâng cao hơn.
- Vùng VIII: Mũi Cà Mau đến Hà Tiên (Kiên Giang)
Theo mức độ nguy hiểm về cƣờng độ nhƣ tốc độ xói lở chia ra:
- Bờ xói lở yếu: <4 m/năm
- Bờ xói lở trung bình: 5 - 10 m/năm
- Bờ xói lở mạnh: 10 - 30 m/năm
- Bờ xói lở rất mạnh: >30 m/năm
Các bờ xói lở yếu là vùng bờ I, V, VIII, các bờ xói lở trung bình và mạnh là
vùng III, IV và VI, còn bờ xói lở mạnh và rất mạnh là vùng bờ II và VII.
Bên cạnh quá trình xói lở thƣờng diễn ra vào mùa mƣa thì quá trình bồi tụ
cũng diễn ra khá phổ biến tại các cửa sông, ven biển vào mùa khô. Xói lở - bồi
tụ bờ biển, cửa sông đang thực sự gây nguy hại đến cơ sở hạ tầng, nhiều làng
xóm, ruộng vƣờn, đất canh tác đã bị sóng biển phá hủy.
1.2.3. Xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông ở Bắc Trung Bộ
Vùng ven biển Bắc Trung Bộ bị biến động mạnh mẽ trong những năm gần
đây do hiện tƣợng xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông. Các tai biến xói lở mạnh và
bồi lấp đã trở thành tai biến thiên nhiên có ảnh hƣởng lớn đến đời sống sản xuất
của dân cƣ ở các địa phƣơng ven biển và nó không chỉ xảy ra trong những năm 12
có thời tiết không thuận lợi mà còn xảy ra cả những năm thời tiết tƣơng đối bình
thƣờng.
Hiện tƣợng xói lở- bồi tụ bờ biển diễn ra ngày càng gia tăng, theo viện
nghiên cứu quản lí biển và hải đảo từ những năm 1991 trở lại đây khu vực Nghi
Lộc, Nghi Xuân, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Cửa Càn, Cửa Lò (Nghệ An), Hoằng
Hóa, Hậu Lộc, Sầm Sơn (Thanh Hóa), Phú Lộc, Phú Vang (Huế) bị xói xở
nghiêm trọng.
Còn cửa sông ở khu vực Bắc Trung Bộ đƣợc thành tạo trong bão hoặc lũ
và dịch chuyển theo hƣớng vận chuyển của dòng bùn cát ven bờ. Do đặc điểm
thành tạo nên các cửa sông Bắc Trung Bộ đa phần nhỏ hẹp nên thƣờng xuyên bị
Đông Bắc huyện Quan Hóa (giáp tỉnh Hòa Bình) nằm ở vĩ tuyến 20°40'B. Điểm
cực nam là xã Hải Hà gần bờ biển Tĩnh Gia (giáp Nghệ An) nằm ở vĩ tuyến
19°18'B. Điểm cực Tây là núi Pha Long, xã Quang Chiểu huyện Mƣờng Lát
(giáp Lào) nằm trên kinh tuyến 104°22'Đ. Điểm cực Đông ở xã Nga Điềm huyện
Nga Sơn (giáp Ninh Bình) trên kinh tuyến 106°06'Đ.
Lãnh thổ về phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình,
với đƣờng danh giới dài 175 km. Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Nghệ An, với
đƣờng gianh giới dài 160 km. Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nƣớc Cộng hoà
Dân chủ Nhân dân Lào) với đƣờng biên giới dài 192 km và phía Đông là vịnh
Bắc Bộ với chiều dài bờ biển 102 km.
Thanh Hóa là tỉnh có diện tích lớn của vùng Bắc Trung Bộ và của nƣớc ta,
diện tích tự nhiên là 11.116,34 km
2
chiếm 3,37% diện tích cả nƣớc, đứng thứ 5
trong tổng số 63 tỉnh thành phố của cả nƣớc và đứng thứ 2 trong số các tỉnh ở
khu vực Bắc Trung Bộ Bộ. Thời lập nƣớc đây là một bộ phận của nƣớc Văn
Lang, mang tên Cửu Chân. Tiếp đó qua nhiều thời đại Thanh Hóa lần lƣợt mang
tên Ái Châu, rồi Trại, Phủ, Trấn, Lộ Thanh Hóa.
Thanh Hóa cũng là tỉnh có nhiều đơn vị hành chính nhất cả nƣớc chỉ đứng
sau TP Hà Nội, hiện nay tỉnh có 1 thành phố, 2 thị xã, 24 huyện với 584 xã, 20
phƣờng, 30 thị trấn.
Thành phố Thanh Hóa là trung tâm kinh tế, hành chính, văn hóa của tỉnh. 2
thị xã Bỉm Sơn nằm ở phía Bắc của tỉnh và Sầm Sơn nằm ở phía Đông của tỉnh
ngày càng đóng vai trò quan trọng. 14 15
16
(đá hoa) chúng nằm xen kẽ với nhau, có khi lại lồng vào nhau và điều đó làm
cho cảnh quan thay đổi không ngừng.
Địa hình núi có độ cao trung bình 600 - 700 m so với mực nƣớc biển, độ
dốc trên 25°, ở đây có các đỉnh núi cao nhƣ Tà Leo (1291 m) nằm phía tả ngạn
sông Chu. Dạng địa hình núi và trung du tập trung ở 11 huyện miền núi.
Địa hình trung du có độ cao trung bình 150 - 200 m so với mực nƣớc biển,
độ dốc từ 12° - 20° chủ yếu là các đồi thấp, sƣờn thoải.
Đồng bằng có diện tích 162,34 ha, đƣợc hình thành và phát triển do sự bồi
tụ của các hệ thống sông nhƣ sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Hoạt. Phân
bố chủ yếu ở các huyện Thọ Xuân, Đông Sơn, Vĩnh Lộc, Triệu Sơn, Nông
Cống, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Quảng Xƣơng và một phần của Tĩnh Gia, Nga Sơn,
Tp Thanh Hóa, thị xã Bỉm Sơn.
Đồng bằng Thanh Hóa đƣợc cấu tạo bởi đất phù sa hiện đại, trải ra trên mặt
rộng, hơi nghiêng về phía biển, về phía Đông Nam. Rìa phía Bắc và Tây Bắc là
dải đất cao đƣợc cấu tạo bởi phù sa cũ của sông Mã, sông Chu cao từ 1 - 15 m.
Trên bề mặt đồng bằng có một số đồi núi có độ cao trung bình từ 200 - 300 m,
đƣợc cấu tạo bởi nhiều loại đá khác nhau, từ đá phun trào cho đến đá vôi, đá
phiến. Dạng địa hình đồng bằng này có ý nghĩa rất lớn về du lịch và là điều kiện
để hình thành các vung chuyên canh cây công nghiệp.
Dạng địa hình ven biển có diện tích 110.655 ha phân bố chủ yếu ở Sầm
Sơn và các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xƣơng, Tĩnh Gia.
Trên địa hình này có vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa Sông Mã, sông Yên
vùng đất cát ven biển nằm phía trong các bãi cát, có độ cao trung bình từ 3 - 6
m. Ở phía nam Tĩnh Gia chúng có dạng sống trâu do các dãy đồi kéo dài ra biển.
Bờ biển Thanh Hóa là bờ biển phẳng có thềm lục địa tƣơng đối nông và
rộng. Ở Bắc Nga Sơn phù sa sông Đáy làm cho đất liền tiến ra biển với tốc độ
lớn. Nhƣng từ Nga Sơn trở vào các bãi cồn cát nhô ra biển lại với nhau tạo thành
các bãi biển phẳng và dài cửa Lạch Trƣờng, Sầm Sơn, Khoa Giáp.
khe suối chằng chịt thuộc 4 hệ thống sông chính: sông Mã, sông Bạng, sông
Yên, sông Hoạt. Tổng chiều dài các hệ thống sông là 881 km, tổng diện tích lƣu
vực: 39.756 km
2
tổng lƣợng nƣớc trung bình hàng năm: 19.520 tỉ m
3
. Với trữ 18
lƣợng nƣớc mặt này nếu đƣợc điều tiết tốt thì có thể phục vụ đầy đủ nhu cầu
phát triển sản xuất và đời sống. Sông suối Thanh Hóa chảy qua nhiều vùng địa
hình phức tạp, tạo ra tiềm năng thủy điện khá lớn. Riêng sông Mã có trữ lƣợng
điện năng đạt 12 tỉ kwh.
Sông Mã bắt đầu từ vùng núi cao Điện Biên chảy qua Sầm Nƣa (Lào) rồi
vào địa phận Thanh Hóa ở Mƣờng Lát. Từ nguồn đến Cẩm Thủy, sông chảy ào
ạt, khi thì qua những ghềnh đá lởm chởm, khi thì uốn khúc rộng ra để lộ những
bãi cát trắng dài. Sau khi tiếp nhận sông Chu, sông chia thành 3 nhánh (sông Đò
Lèn, sông Lạch Trƣờng, sông Mã) và đổ ra biển Đông. Sông Mã có chiều dài
242 km với diện tích lƣu vực 900 km
2
.
Sông Chu thuộc hệ thống sông Mã, có chiều dài 135 km. Trên sông chu có
đập Bái Thƣợng 170 m, tƣới cho vài chục vạn ha đất nông nghiệp của vùng.
Sông Hoạt chảy qua địa phận bắc Hà Trung và Nga Sơn, với chiều dài 55
km và lƣu vực rộng 250 km
2
, đổ ra biển qua cửa Đáy.
Sông Bạng chảy qua huyện Nhƣ Xuân, Tĩnh Gia rồi đổ ra cửa Bạng. Sông
này dài 34,5 km, lƣu vực rộng 236 km
cơ sở để nuôi trồng thủy sản nƣớc lợ. Diện tích nƣớc mặn khoảng 10.000 ha có
thể nuôi cá song, cá cam, ngọc trai, tôm hùm, phân bố chủ yếu ở đảo Hòn Mê,
Biện Sơn.
2.1.5. Đất đai
Thanh Hóa có 10 nhóm đất với 28 loại khác nhau, trong đó có các nhóm
đất có diện tích tƣơng đối lớn là đất đỏ vàng, đất phù sa bồi tụ, đất mặn, đất cát
Nhóm đất đỏ vàng có 647,7 nghìn ha, chiếm 58% diện tích tự nhiên toàn
tỉnh, phân bố chủ yếu ở các huyện trung du, miền núi. Nhóm đất này thích hợp
cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, đồng cỏ chăn nuôi và
cho lâm nghiệp.
Nhóm đất phù sa bồi tụ có 144,3 nghìn ha, chiếm 13% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở các huyện đồng bằng ven biển, nằm trong khu vực
nghiên cứu. Nhóm đất này thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và cây công
nghiệp ngắn ngày.
Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá có 18,3 nghìn ha, chiếm 1,6% diện tích tự
nhiên, phân bố chủ yếu ở khu vực trung du và các dãy núi độc lập ở đồng bằng
của Nông Cống, Yên Định, Thiệu Hóa, Hà Trung, Hậu Lộc, Tĩnh Gia, Đông
Sơn
Nhóm đất bạc màu có 14,7 nghìn ha, chiếm 1,3% diện tích tự nhiên có thể
cải tạo để đƣa vào sản sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.
Nhóm đất mặn có 16,3 nghìn ha, chiếm 1,5% diện tích tự nhiên của toàn
tỉnh chủ yếu dùng để trồng rừng ngập mặn và trồng cói.
Nhóm đất cát có 17,7 nghìn ha, chiếm 1,6% diện tích tự nhiên, phân bố chủ
yếu ở các huyện ven biển, nằm hoàn toàn trong khu vực nghiên cứu.