nghiên cứu tài nguyên du lịch tỉnh điện biên phục vụ phát triển bền vững - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC ĐẶNG VĂN BẢO

NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH ĐIỆN BIÊN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Đề tài của tôi hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của Thạc sĩ Trần Thị Hằng
- giảng viên khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc. Đồng thời, tôi cũng nhận được
rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, ban Chủ nhiệm khoa Sử - Địa,
Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên, trung tâm xúc tiến đầu tư du lịch,
Thư viện
Trường Đại học Tây Bắc cùng các bạn sinh viên lớp K51 ĐHSP Địa Lý
đã giúp
đỡ tôi trong việc sưu tầm tài liệu. Đề tài hoàn thành chắc chắn sẽ không tránh
khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô cùng các
độc giả.

Sơn La, Tháng 05 năm 2014
Người thực hiện

Đặng Văn Bảo DANH MỤC HÌNH ẢNH
STT
Hình
Tên hình
Trang
1
1.1
Quan niệm về phát triển bền vững
13
2
2.2
Biểu đồ khách du lịch tỉnh từ 2004 – 2013
31

1.2. Tài nguyên du lịch
8
1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
8
1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
9
1.2.3. Vai trò của tài nguyên du lịch
10
1.3. Phát triển du lịch bền vững
12
1.4. Tài nguyên môi trường
13
1.5. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
15
1.6.
Mục tiêu và nguyên tắc sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường 16
1.6.1. Mục tiêu 16
1.6.2. Nguyên tắc 16
CHƢƠNG 2 : NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN DU LỊCH

TỈNH ĐIỆN BIÊN
19
2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên 19
2.1.1. Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ 19
2.1.2. Địa hình, địa mạo, địa chất 20
2.1.3. Tài nguyên khí hậu, thủy văn 21
2.1.4. Tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học 23
2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 24
2.2.1. Lịch sử vùng đất 24
2.2.2. Đa dạng các dân tộc và bản sắc dân tộc 25

tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới tốc độ phát triển, là nguồn động lực để thu hút
khách du lịch. Cùng với xu hướng đó, Việt Nam có tiềm năng du lịch rất phong
phú, đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch phát triển và ngày
càng chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế quốc dân.
Điện Biên là tỉnh miền núi Tây Bắc của Việt Nam được tách ra từ tỉnh Lai
Châu đầu năm 2004 theo Nghị quyết số 22/2003/QH XI ngày 26 tháng 11 năm
2003 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI kỳ họp
thứ 4. Điện Biên là vùng đất biên cương giàu tiềm năng và có phong cảnh thiên
nhiên hùng vĩ của Tổ quốc, nơi sinh sống của 21 dân tộc anh em với sự đa dạng
về bản sắc văn hoá. Nhắc đến Điện Biên trong ký ức và tâm hồn người Việt
Nam luôn nhớ về cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1945 - 1955 mà đỉnh
cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc
chống chống thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một
mốc son chói lọi trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Điện
Biên Phủ đã trở thành một địa danh du lịch lịch sử văn hoá và sinh thái nổi tiếng
của tỉnh Điện Biên đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Bên cạnh quần
thể di tích Chiến thắng ở Điện Biên Phủ thì những di tích lịch sử khác như thành
Bản Phủ, tháp Mường Luân, Sở Chỉ huy Chiến dịch ở Mường Phăng, bia hận
thù Noong Nhai, di tích Vừ A Dính. v.v…các cảnh quan thiên nhiên như hồ Pá
Khoang, rừng nguyên sinh Mường Nhé, Mường Toong, động Pá Thơm, suối
nước nóng UVa, v.v…và những bản sắc văn hoá của các dân tộc tỉnh Điện Biên
cũng là những nguồn tài nguyên quý giá để Điện Biên phát triển du lịch.
Bên cạnh những lợi thế tiềm năng đó, phát triển du lịch của Điện Biên
cũng còn gặp rất nhiều khó khăn: Tiềm năng tự nhiên, tài nguyên du lịch chưa
được đánh giá, tổ chức, khai thác đồng bộ, các loại hình du lịch, sản phẩm du

2
lịch vẫn còn đơn điệu, chưa có tính liên kết, quá trình phát triển còn mang nhiều
sắc thái tự phát, và đặc biệt đâu đó đã bắt đầu có những dấu hiệu “phát triển
nóng”, ảnh hưởng đến tài nguyên môi trường, gây những ảnh hưởng xấu đối với

3.1.Trên thế giới
Từ khi du lịch xuất hiện và khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong
đời sống – kinh tế của mỗi quốc gia, khu vực; du lịch và ngành địa lí du lịch đã
trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới với nhiều
góc độ và mức độ khác nhau.
Một trong những khía cạnh đầu tiên là nghiên cứu các yếu tố tác thành và
các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch. Những công trình nghiên cứu đầu
tiên về du lịch có tầm quan trọng trên thế giới có thể kể đến là những nghiên cứu
đầu tiên về các loại hình du lịch, khảo sát về vai trò lãnh thổ, lịch sử, những
nhân tố ảnh hưởng chính đến hoạt động du lịch … của Poser (1939), Christaleer
(1955)… được tiến hành ở Đức năm 1930. Tiếp theo đó là các công trình đánh
giá các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ giải trí của Mukhina (1973); nghiên cứu
sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch Khadaxkia (1972) và Sepfer (1973).
Trong những năm gần đây, khi lợi ích của ngành kinh tế du lịch đem lại
càng rõ rệt và những tác động của ngành này đối với những vấn đề có tính toàn
cầu thì việc nghiên cứu du lịch gắn với việc phát triển vùng lại càng trở nên cần
thiết. Ở Pháp, Jean Pierre Jean- Lozoto (1990) nghiên cứu các tụ điểm du lịch và
các dòng du lịch, sau đó phân tích các kiểu dạng không gian du lịch. Các nhà địa
lí Anh là H.Robinson (1976), Hoa Kì như Bôhart (1971) gắn nghiên cứu lãnh
thổ du lịch với những dự án du lịch giới hạn trong lãnh thổ một miền hay một
vùng cụ thể.
Nhìn chung, trên thế giới những năm gần đây có rất nhiều công trình
nghiên cứu về du lịch và tổ chức lãnh thổ du lịch. Các nghiên cứu này có ý
nghĩa rất lớn đối với việc tổ chức lãnh thổ du lịch của các quốc gia trên thế giới.
3.2. Ở Việt Nam
Hiện nay, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đã và đang mang lại
nhiều lợi ích cho đất nước thì việc nghiên cứu địa lí du lịch nói chung và vấn đề
đánh giá tiềm năng du lịch nói riêng ngày càng được chú trọng. Về phương diện
địa lí du lịch có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả như: Lê Thông,


phân hệ tài nguyên du lịch là phân hệ quan trọng bao gồm các yếu tố tự nhiên,

5
nhân văn và các mối quan hệ qua lại mật thiết giữa chúng. Mặt khác, cần đặt hệ
thống trong các cấp phân vị cao hơn để thấy được vị trí của hệ thống cũng như
các mối liên hệ ra ngoài.
 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Vận dụng quan điểm này là hết sức cần thiết trong việc khai thác tài nguyên
du lịch phục vụ mục đích phát triển du lịch. Cần có sự kế thừa chọn lọc và phát
huy những điểm, tuyến, loại hình du lịch đã khai thác có hiệu quả, đồng thời tìm
ra những mặt yếu kém và khắc phục nhược điểm ở những điểm có tiềm năng
khai thác chưa hiệu quả.
 Quan điểm phát triển bền vững
Tài nguyên du lịch là yếu tố vô cùng quan trọng để phát triển du lịch, tuy
nhiên tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên không phải là
mãi mãi, vô hạn. Quan điểm du lịch ít ảnh hưởng tới môi trường không còn
đúng nữa, đã có nhiều minh chứng về sự cạn kiệt tài nguyên và những nguy hại
tới môi trường xuất phát từ du lịch bất hợp lí. Do vậy, cần có những chiến lược
phát triển du lịch mà trong đó bảo vệ môi trường được chú trọng, hướng đến sự
phát triển du lịch bền vững.
4.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập, phân tích, xử lí số liệu
Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu. Việc thu thập tài liệu sẽ
cung cấp thông tin, số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Những số liệu về hoạt động du lịch lại rất phong phú và luôn biến động
theo thời gian. Vì thế, đòi hỏi người thực hiện phải thu thập đầy đủ, sau đó tiến
hành phân tích, so sánh, đối chiếu được bản đồ, biểu đồ và đưa ra những kết
luận chân thực chính xác.

Đây sẽ là cơ sở dữ liệu phong phú và quan trọng cho việc thực hiện các
7
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN DU
LỊCH PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1. Du lịch và các định nghĩa về du lịch
Ngày nay du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống
văn hóa – xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ,
trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Du lịch góp
phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm…
Quan niệm về du lịch luôn là một vấn đề được tranh luận trong suốt một thời
gian dài. Từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch International
Union Of Official Travel (IOUTO) tại Hà Lan năm 1925. Theo hiệp hội IOUTO
thì khái niệm du lịch được hiểu một cách đầy đủ như sau: “Du lịch là một dạng
hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại
tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát
triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức về văn hóa kèm theo
việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa”.
Theo tổ chức du lịch thế giới, một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc: “Du
lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục
đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ
ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác
nữa, trong thời gian dài liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi

lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực,
trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ”.
Như vậy có thể chia tài nguyên du lịch thành hai loại:
1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên là tổng thể các điều kiện về địa hình, khí hậu,
thực vật, động vật, nguồn nước của tự nhiên tại các điểm chốt mà những điều
kiện đó khác biệt với các vùng khác.
- Địa hình là yếu tố cực kì quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến sức hấp dẫn
khách du lịch. Địa hình cũng là yếu tố quyết định tới loại hình du lịch điểm đến.

9
- Khí hậu là thành phần quan trọng của điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới
hoạt động du lịch. Các yếu tố về khí hậu như ánh sáng, gió, không khí, lượng
mưa, áp suất khí quyển và các hiện tượng thời tiết đặc trưng khác. Nhìn chung
những nơi có khí hậu mát mẻ, ôn hòa, trong lành thường được khách du lịch ưa
thích. Cũng chính vì lẽ đó mà yếu tố khí hậu quyết định tính chất mùa vụ trong
kinh doanh du lịch.
- Thực vật, động vật là những yếu tố thỏa mãn nhu cầu khám phá, tìm hiểu
tự nhiên của con người. Sự đa dạng của hệ sinh thái động thực vật cũng là yếu tố
ảnh hưởng rất lớn tới sức hấp dẫn khách du lịch của điểm đến.
- Ngoài ra tài nguyên nước cũng ảnh hưởng rất lớn tới các loại hình kinh
doanh du lịch, với tài nguyên nước thì có thể kinh doanh các loại hình du lịch
như: Du lịch thể thao, giải trí, chữa bệnh, câu cá… Đặc biệt với các nguồn nước
khoáng ngầm có tác dụng chữa bệnh thì cần phải được khai thác thật tốt để thỏa
mãn nhu cầu nghỉ dưỡng và chữa bệnh của khách du lịch hiện nay.
1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Theo luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định tại điều 13 chương II:
“Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình
lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác

hấp dẫn khách du lịch ngày càng tăng. Ở đâu có số lượng và mức độ tập trung
các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn lớn thì ở đó có đầy đủ các điều kiện
tổ chức các loại hình du lịch như: Du lịch lễ hội, tâm linh, leo núi, làng nghề, du
lịch văn hoá, lịch sử. Tài nguyên du lịch mang tích khách quan và có vai trò rất
lớn để phát triển du lịch của một quốc gia nào đó.
Việc tổ chức lãnh thổ du lịch là một trong những vấn đề được quan tâm
hàng đầu trong việc nghiên cứu du lịch, bởi vì không thể tổ chức và quản lí hiệu
quả hoạt động này nếu không xem xét khía cạnh lãnh thổ, đến việc hình thành,
chuyên môn hóa các vùng du lịch dựa trên tài nguyên du lịch. Hệ thống lãnh
thổ du lịch có nhiều cấp phân vị khác nhau. Nhưng dù ở cấp phân vị nào thì
tài nguyên du lịch đều đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ du
lịch, cũng là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm

11
tạo ra sự hấp dẫn du lịch, tạo điều kiện để có thể khai thác hiệu quả nhất tiềm
năng của nó.
Tài nguyên du lịch còn ảnh hưởng đến quy mô, thứ bậc của khách sạn
và quyết định tính mùa vụ đi du lịch của khách du lịch cơ sở vật chất- kĩ thuật và
tính mùa vụ nói chung đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo ra và thực
hiện sản phẩm du lịch, cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch
nhằm thoả mãn nhu cầu của khách. Cơ sở vật chất kĩ thuật và tài nguyên du lịch
có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tài nguyên du lịch ảnh hưởng tới công suất, thể
loại, thứ hạng của hầu hết các thành phần cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch. Nhìn
dưới góc độ xã hội, hoạt động du lịch mang tính nhịp điệu khá rõ nét. Tại một
điểm du lịch cụ thể, có thể quan sát thấy cường độ của hoạt động này không
đồng đều theo thời gian. Có những lúc hầu như không có khách, ngược lại có
những giai đoạn nhất định dòng du khách đổ về quá sức chịu tải của khu vực.
Mức độ khai thác tài nguyên du lịch dựa vào: Khả năng nghiên cứu phát hiện và
đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch vốn còn tiềm ẩn. Yêu cầu phát triển các
sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu khách du lịch, các nhu cầu của khách

nguyên cho việc phát triển các hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững
sẽ có kế hoạch quản lí các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế,
xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì trì sự toàn vẹn văn hóa, đa
dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc
sống của con người”.
Theo Hội đồng khoa học, Tổng cục du lịch, 2005, 12 mục tiêu trong chương trình
du lịch bền vững bao gồm (không xếp theo thứ tự ưu tiên): 1. Hiệu quả kinh tế, 2.
Sự phồn thịnh cho địa phương, 3. Chất lượng vệc làm, 4. Công bằng xã hội, 5. Sự
thỏa mãn của khách du lịch, 6. Khả năng kiểm soát của địa phương, 7. An sinh
cộng đồng, 8. Đa dạng văn hóa, 9. Thống nhất về tự nhiên, 10. Đa dạng sinh học,
11. Hiệu quả của các nguồn lực, 12. Môi trường trong lành.
13
Hệ kinh tế
Hệ xã hội

Hệ tự nhiên
các hoạt động có liên quan đến việc hình thành, bảo dưỡng các công trình du
lịch cần thiết để duy trì các hoạt động giải trí cho du khách. Tác động về môi
trường của hoạt động du lịch đối với tài nguyên thiên nhiên được thể hiện một
cách rõ nét nhất qua các bộ phận như tài nguyên nước, tài nguyên không khí, tài
nguyên đất, sinh học.
+ Tác động đến tài nguyên nước: Tác động trước mắt thể hiện ngay trong
giai đoạn xây dựng các công trình phục vụ du lịch như việc thải bừa bãi các vật
liệu xây dựng, nạo vét và đặc biệt là những nơi chặt phá rừng làm cho chất
lượng nước bị suy giảm đi rất nhiều. Các hoạt động trong quá trình xây dựng sẽ
làm ô nhiễm nguồn nước do rác thải, xăng dầu Về lâu dài sẽ tích tụ quá trình ô
nhiễm làm cho nguồn nước không được đảm bảo.
+ Tài nguyên không khí: Bụi, khí và các chất gây ô nhiễm trong không
khí xuất hiện do các hoạt động giao thông, sản xuất và sử dụng năng lượng.
Tăng cường sử dụng giao thông cơ giới phục vụ khách và các hoạt động du lịch
là nguyên nhân đáng kể gây nên tình trạng bụi bặm và ô nhiễm không khí tại
một vùng nào đó.
+ Tiếp theo là tác động tới tài nguyên đất : Khi một số khu vực có giá trị
như hồ nước, các khu rừng xanh được xây dựng thành các khu du lịch, điều này
tất yếu dẫn tới việc xâm lấn diện tích trước đây trồng trọt và chăn nuôi. Đây là
bước chuyển đổi dạng sử dụng đất với hiệu quả kinh tế cao nhưng lại làm giảm
đi quỹ đất nông nghiệp, mất đi cảnh quan tự nhiên và gây ra tình trạng suy giảm
đa dạng sinh học.
Hoạt động của khách du lịch có tác động lớn đến các hệ sinh thái, các hoạt
động du lịch dưới nước như nhặt sò, ốc, khai thác san hô làm hủy hoại môi
trường nước, các khu rừng nguyên sinh dễ bị tổn thương khi có nhiều khách
du lịch.
Những tác động không thuận lợi trên sẽ là nguyên nhân gây ra xung đột
du lịch và kết quả là quá trình phát triển du lịch không bền vững và sẽ không

15


16
1.6.
Mục tiêu và nguyên tắc sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng

1.6.1. Mục tiêu
- Mục tiêu trước mắt : Hoạch định một cách tổng quát và đầy đủ chương
trình quản lí tổng hợp tài nguyên môi trường tỉnh Điện Biên, là cơ sở để tỉnh
triển khai các chương trình cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề môi trường góp
phần phát triển bền vững.
- Mục tiêu lâu dài : Giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi
trường do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Đẩy mạnh công tác chủ động
phòng ngừa và xử lí ô nhiễm, góp phần cải thiện môi trường công cộng, khu dân
cư, đảm bảo sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Đồng thời
bảo vệ và sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh
học vừa đáp ứng các mục tiêu kinh tế - xã hội vừa đảm bảo phát triển nhanh và
bền vững.
1.6.2. Nguyên tắc
Thứ nhất : phát triển du lịch luôn phải đi đôi với công tác bảo tồn, tôn tạo
các giá trị tài nguyên.
Phát triển du lịch phải đi đôi với công tác bảo tồn là một yêu cầu bắt buộc
trên cơ sở khai thác các tuyến, điểm tham quan, tổ chức du lịch phải hướng dẫn
nâng cao ý thức cho mỗi du khách về bảo vệ các hệ sinh thái và tài nguyên quý
hiếm. Theo quan điểm của UBND tỉnh Điện Biên và sở Du lịch Điện Biên là
phát triển du lịch phải hướng tới phát triển bền vững và trở thành nhân tố tích
cực đối với mỗi người dân ở các điểm du lịch nói riêng và của toàn xã hội nói
chung. Phát triển du lịch phải tuân thủ theo nguyên tắc “sức chứa” du lịch. Tức
là khai thác tài nguyên hợp lí, có tác động tích cực đến môi trường sinh thái,
nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch, tránh gây ra ô nhiễm môi trường cục bộ,
làm cho tài nguyên bị suy thoái.

Điều quan trọng ở đây là phải thực hiện tốt các quan điểm “du lịch là kinh
tế tổng hợp”. Theo đó coi các ngành kinh tế khác là nhân tố cho sự phát triển
của ngành kinh tế mang tính tổng hợp này. Giao thông và phương tiện vận
chuyển tạo điều kiện cho việc vận chuyển khách từ nơi ở của họ đến nơi đáp
ứng thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng và giải trí. Hơn nữa đây là dịch vụ

18
chính trong hoạt động kinh doanh du lịch, sẽ là chưa đủ để thu hút khách du lịch
nếu điểm du lịch đó giao thông không thuận lợi, phương tiện vận chuyển tạo
cảm giác không an toàn cho hành khách trong quá trình tham gia.
Hoạt động kinh doanh du lịch không chỉ để thỏa mãn lợi ích trước mắt mà
phải coi trọng sự phát triển đồng đều, lâu dài và bền vững, đảm bảo yêu cầu tái
sản xuất mở rộng nền kinh tế, huy động các thành phần khác cùng tham gia.
Biên Phủ có thể thông thương với các nước bạn qua các cửa khẩu Ma Lu Thàng
(Lai Châu) 195 km, đến cửa khẩu Tây Trang dài 117 km và về tới Hà Nội là 474
km. Với vị trí tiếp giáp với hai nước bạn Lào và Trung Quốc vị trí lãnh thổ Điện
Biên ngày nay đã trở thành một dạng tài nguyên vị thế quan trọng. Theo Trần
Đức Thạnh “Tài nguyên vị thế là những giá trị và lợi ích có được từ vị trí địa lý
và các thuộc tính về cấu trúc, hình thể sơn văn và cảnh quan, sinh thái của một
không gian, có thể sử dụng cho các mục đích phát triển KT-XH, đảm bảo ANQP
và chủ quyền quốc gia”.
Với vị thế đặc biệt đó có thể thấy tài nguyên vị thế của Điện Biên chính là
một trong những cơ sở ban đầu cần thiết cho phát triển du lịch, hợp tác du lịch
liên kết vùng miền, nhằm khai thác tốt hơn những tài nguyên du lịch khác của
địa phương.

Trích đoạn Tiêu chí đánh giá Đánh giá chung Giải pháp quy hoạch Giải pháp quản lí tài nguyên Giám sát, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường du lịch của du khách và
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status