Đánh giá tài nguyên khí hậu tỉnh Lào Cai phục vụ phát triển một số cây dược liệu - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHON ĐỀ TÀI

Tài nguyên khí hậu là nguồn tài nguyên thiên nhiên có tầm quan trọng
đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước. Tài nguyên khí
hậu cũng là một trong những thành phần chính của môi trường tự nhiên, có
mối quan hệ tương tác với tài nguyên đất, nước và sinh vật. Nghiên cứu điều
kiện khí hậu và đánh giá mức độ thích nghi đối với cây trồng là một hướng
nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Một mặt, nó bổ sung lí
luận cho công tác đánh giá nói chung và đánh giá điều kiện tự nhiên - tài
nguyên thiên nhiên nói riêng; mặt khác, kết quả của việc đánh giá tài nguyên
khí hậu còn giúp cho những người làm công tác nghiên cứu và quản lí nhận
thức rõ đặc điểm khí hậu của từng khu vực, mức độ thích nghi với từng loại
cây trồng, từ đó hoạch định chiến lược sử dụng và khai thác lãnh thổ một
cách hợp lí mang lại hiệu quả cao nhất.
Lào Cai là tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có tổng diện tích tự
nhiên 6360,76km2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng.
Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ, trong đó có những đỉnh
núi cao đồ sộ nhất ở nước ta. Khí hậu đa dạng có sự phân hoá rõ rệt. Trong
định hướng phát triển kinh tế của tỉnh bên cạnh việc đẩy mạnh công nghiệp,
dịch vụ - du lịch thì nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính, chiếm hơn 70%
cơ cấu lao động, 32,82% cơ cấu kinh tế (năm 2007).
Với đặc thù đa dạng về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên
khí hậu cho phép Lào Cai có thể phát triển đa dạng các loại cây trồng. Trong
đó phát triển những loại cây dược liệu quý hiếm có nguồn gốc cận nhiệt đới
và ôn đới được coi là thế mạnh của tỉnh. Thực tế cho thấy, ở một số vùng bà
con trồng một số cây dược liệu quý như: thảo quả, tam thất, đương quy, đỗ
trọng... cho chất lượng khá tốt và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Hơn nữa đây
là những cây trồng rất có giá trị về mặt y học và đời sống xã hội, lại hết sức
thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, tại Lào Cai diện tích các cây dược
1


2


- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp để đánh giá mức độ
thích nghi của các cây dược liêu với điều kiện khí hậu.
- Đề xuất các giải pháp, định hướng phát triển, mở rộng diện tích các
loại cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
3. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Phạm vi không gian:
Được giới hạn trong toàn bộ lãnh thổ hành chính tỉnh Lào Cai. Diện
tích tự nhiên là 6360,76km2, bao gồm 1 thành phố và 8 huyện. Trong đó có
xét đến phạm vi tiếp giáp: phía Bắc giáp với tỉnh Vân Nam Trung Quốc,
phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh Hà Giang và phía Tây
giáp tỉnh Lai Châu.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
+ Đối với điều kiện khí hậu, có nhiều chỉ tiêu tác động đến cây trồng
như: chế độ nhiệt, chế độ ẩm, chu kì quang, gió, các hiện tượng thời tiết đặc
biệt. Để đánh giá điều kiện thích nghi nhằm mở rộng diện tích một số cây
dược liệu, trong giới hạn nghiên cứu của luận văn tác giả dùng 4 chỉ tiêu cơ
bản là: nhiệt độ trung bình năm, lượng mưa trung bình năm, độ dài mùa lạnh
và độ dài mùa khô. Trong quá trình đánh giá tác giả cũng chú ý đến các chỉ
tiêu khác của khí hậu và độ cao địa hình.
+ Đối với các cây dược liệu, nhằm đi sâu, đánh giá kĩ, tránh dàn trải
tác giả chỉ lựa chọn 2 cây chính là: cây thảo quả và cây tam thất. Đây cũng
là 2 cây chủ đạo trong nhóm cây dược liệu được trồng ở Lào Cai.
4. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHÊN CỨU

Kết quả đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên

C. Đới khí hậu ấm áp, mưa nhiều
Cw. Loại hình khí hậu ấm, mùa đông khô
Cs. Loại hình khí hậu ấm, mùa hè khô
Cf. Loại hình khí hậu ấm, ẩm quanh năm

4


D. Đới khí hậu rét lạnh - khí hậu rừng có tuyết
Dw. Loại hình khí hậu rét lạnh, mùa đông khô
Df. Loại hình khí hậu mùa đông lạnh, ẩm quanh năm
E. Đới khí hậu băng tuyết
Et. Loại hình khí hậu đài nguyên
Ef. Loại hình khí hậu kết băng
(Trong đó: s, w, f, t là chỉ thị mức độ khô và rét lạnh)
Năm 1948, nhà khí hậu học Ivanôp đã dùng hệ số ẩm ướt K =r/E0 (r
là lượng mưa năm, E0 là lượng bốc hơi năm) để phân chia ra 6 loại khí hậu
cơ bản sau:
1. Khu vực rất ẩm ướt (K ≥ 1,5) tương ứng với kiểu thảm thực vật
rừng nhiệt đới và á nhiệt đới xanh quanh năm, rừng ẩm ướt và đài nguyên
ẩm ướt ở ôn đới.
2. Khu vực khá ẩm ướt (1 ≤ K ≤ 1,49) với kiểu thảm thực vật là rừng
rụng lá về mùa khô ở nhiệt đới, rừng lá kim và lá rộng ôn đới.
3. Khu vực ẩm ướt trung bình (0,6 ≤ K ≤ 0,99). Ở nhiệt đới có thảo
nguyên, rừng thưa nhiệt đới; ở á nhiệt đới có rừng lá cứng; ở ôn đới có thảo
nguyên rừng.
4. Khu vực hơi ẩm (0,3 ≤ K ≤ 0,59) với kiểu thảm là thảo nguyên
rừng thưa nhiệt đới khô ráo, rừng mọc ở vùng khô nhiệt đới thảo nguyên và
đất cỏ ở á nhiệt đới.
5. Khu vực thiếu ẩm ướt (0,13 ≤ K ≤ 0,29) vùng bán hoang mạc và

+ Tháng hạn là tháng có lượng mưa nhỏ hơn nhiệt độ trung bình
tháng (r < t).
+ Tháng kiệt là tháng hầu như không có mưa (r ≈ 0).
Chỉ số khô (K) của Gaussen được nhiều nhà thực vật công nhận là tốt.
Năm 1961, Walter và Lieth đã dùng để giải thích, mô tả sự hình thành tự
nhiên của thực vật trên thế giới. Kết quả được thể hiện bằng biểu đồ khí hậu
với hai yếu tố chính

được

thể hiện là nhiệt độ và lượng mưa (Hình 1). Năm

1970, Wittaker cũng đã dùng 2 tham số trên để lập những thư mục về thực
vật tự nhiên trên thế giới.
Như vậy, trong một thời gian khá dài đã có nhiều công trình nghiên
cứu về sinh khí hậu thảm thực vật nổi tiếng trên thế giới. Hầu hết trong tất
cả các công trình nghiên cứu của các tác giả đều lựa chọn phức hệ nhiệt ẩm làm chỉ tiêu phân đới, phân loại, phân kiểu sinh khí hậu. Với chỉ tiêu đó
đã góp phần xác định bộ mặt của thảm thực vật tự nhiên một cách rõ nét
nhất. Đồng thời đây cũng là những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá mức độ thích
nghi sinh thái của khí hậu đối với cây trồng.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và đánh giá tài nguyên thiên nhiên nói
chung, tài nguyên khí hậu nói riêng đã được Nhà nước quan tâm ngay từ khi
miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1954) và đã thu được những kết quả quan
trọng, góp phần vào sự nghiệp khôi phục kinh tế và xây dựng đất nước sau
chiến tranh.
Trước hết, phải kể đến chương trình tiến bộ khoa học kĩ thuật trọng
điểm cấp Nhà nước mang mã số 42A: “Đánh giá tài nguyên và điều kiện
thiên nhiên về khí tượng thuỷ văn phục vụ sản xuất và quốc phòng, trọng
tâm là phục vụ nông nghiệp”. Sản phẩm đầu tiên của chương trình là công
trình “Số liệu khí tượng thuỷ văn Việt Nam”, gồm ba tập, với sự tham gia

Để đánh

giá mức độ thích nghi tài nguyên khí hậu đối với các cây dược

liệu tác giả đã tổng quan

được

các tài liệu liên quan đến các cây dược liệu.

Tiêu biểu trong số đó là: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Đ

8


ỗ Huy Bích (NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2006); Dược liệu Việt Nam (NXB
Y học, 1978); Cây thuốc, vị thuốc và bài thuốc Việt Nam của Tào Duy Cần
(NXB Hà Nội, 2007); Kỹ thuật trồng một số cây dược liệu của Nguyễn Văn
Lan (NXB Nông nghiêp, 2004); Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của
Đỗ

Tất Lợi (NXB Y học, 2003). Các tài liệu này nghiên cứu khá sâu về các

cây dược liệu. Đó là cơ sở đề xác lập các ngưỡng sinh thái thích nghi với điệu
kiện khí hậu trong quá trình đánh giá.
Trên địa bàn tỉnh Lào Cai có rất ít công trình nghiên cứu đánh giá cụ
thể về tài nguyên khí hậu. Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu đánh
giá tài nguyên khí hậu phục vụ phát triển cây dược liệu. Đây là hướng
nghiên cứu của khí hậu ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn cao, tác giả xin được
phép kế thừa và phát huy các công trình nghiên cứu đi trước.

Khí hậu là một thành phần không thể thiếu của một thể tổng hợp địa lí
tự nhiên, nó chịu tác động của nhiều thành phần khác nhau và cũng tác động
trở lại đối với các thành phần đó. Mặt khác, đối với cây trồng nói chung và
đối với cây dược liệu nói riêng thì chúng đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của
rất nhiều nhân tố tự nhiên khác nhau, trong đó đặc biệt chịu sự tác động của
khí hậu. Vì vậy, khi nghiên cứu và đánh giá điều kiện khí hậu ảnh hưởng
đến một số cây dược liệu đề tài rất chú ý đến quan điểm tổng hợp.
5.1.3. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó đảm bảo sự hài hoà giữa
các mục tiêu tăng trưởng kinh tế với các mục tiêu ổn định xã hội và bảo vệ
môi trường. Theo Uỷ ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED, 1987)
thì phát triển bền vững là : “Những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của
mình, sao cho không làm hại đến khả năng các thế hệ tương lai đáp ứng nhu
cầu của họ’’[35].
Vận dụng quan điểm trên, khi xác định đối tượng đánh giá luôn
hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Các cây dược liệu lựa chọn phải
mang lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định, mức độ thích nghi sinh thái cao và
10


có khả năng bảo vệ môi trường. Khi đưa ra những định hướng phát triển cây
trồng cần chú ý tới cảnh quan nhân văn, phong tục, tập quán canh tác lâu
năm của bà con để đảm tính bền vững trong nhận thức. Đồng thời phải có
những phương án đảm bảo tính lâu dài và ổn định.
5.1.4. Quan điểm lãnh thổ
Các yếu tố khí hậu ngoài sự biến đổi theo thời gian còn có sự phân
hoá theo không gian nên khi nghiên cứu chúng phải được gắn liền với một
lãnh thổ cụ thể.
Quan điểm lãnh thổ được vận dụng để phân loại các đơn vị sinh khí
hậu trong quá trình đánh giá. Mỗi một khu vực là những đơn vị sinh khí hậu

Mặc dù đề tài chỉ là bước đầu của công trình đánh giá quy hoạch lãnh
thổ, trong đó đánh giá mức độ thích nghi của một số cây trồng đối với điều
kiện khí hậu, song phương pháp đánh giá thích nghi được áp dụng triệt để
trong quá trình nghiên cứu. Phương pháp đánh giá thích nghi được áp dụng
vào việc so sánh đặc điểm sinh thái cây trồng với các yếu tố của điều kiện tự
nhiên. Các bước của công trình nghiên cứu đánh giá được tiến hành với việc
lựa chọn chỉ tiêu đánh giá, phân cấp các chỉ tiêu và đánh giá tổng hợp. Kết
quả đánh giá là tìm ra mức độ thích nghi sinh thái của một số cây dược liệu,
biểu thị trên bản đồ khoanh vi với mức độ thích nghi khác nhau trên địa bàn
nghiên cứu.
5.2.4. Phương pháp thực địa
Thực địa là phương pháp không thể thiếu được trong khi nghiên cứu
địa lí. Trong quá nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát 3 tuyến thực địa:
- Phố Lu - TP. Lào Cai - Sa Pa - Bát Xát
- Phố Lu - Bảo Yên - Văn Bàn
- Phố Lu - Bắc Hà - Si Ma Cai - Mường Khương
Mỗi tuyến khảo sát, tác giả tập trung tìm hiểu chủ yếu về cơ cấu cây
trồng; những nguyên nhân của việc lựa chọn cơ cấu cây trồng của địa
phương; cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi,
12


giống cây trồng; chính sách phát triển kinh tế của huyện và các xã. Trong
quá trình khảo sát tác giả đã chụp ảnh về các loại cây trồng, các yếu tố tự
nhiên (sông ngòi, địa hình, thảm thực vật tự nhiên) để minh hoạ. Đây là
những tư liệu thực tế quan trọng nhằm minh hoạ, chỉnh lí và bổ sung cho
những nghiên cứu lí thuyết.
5.2.5. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
Cơ sở của phương pháp này là kết hợp làm việc theo nhóm gồm các
nhà nghiên cứu, nhà quản lí và người dân địa phương thực hiện trực tiếp tại

7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, mục lục, bản đồ,
biểu đồ, tranh ảnh, các bảng số liệu, tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm
có 3 chương chính:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đánh giá tài nguyên
khí hậu tỉnh Lào Cai phục vụ phát triển một số cây dược liệu.
- Chương 2: Đặc điểm tài nguyên khí hậu tỉnh Lào Cai.
- Chương 3: Đánh giá tài nguyên khí hậu tỉnh Lào Cai phục vụ phát

triển một số cây dược liệu.

14


CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ
TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU TỈNH LÀO CAI PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CÂY DƯỢC LIỆU
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khí hậu và khí hậu ứng dụng
Khí hậu là nhân tố tự nhiên có vai trò rất quan trọng đối với thế giới sinh
vật, đời sống, sản xuất và các lĩnh vực khác của con người.
Theo W.Koppen: “Khí hậu là trạng thái thời tiết trung bình và quá
trình thời tiết nói chung ở một nơi”. Còn theo nhà khí hậu học I.Hann: “Khí
hậu là toàn bộ các hiện tượng đặc trưng cho trạng thái trung bình của khí
quyển ở một địa điểm nào đó trên Trái Đất”[61].
Trong cuốn “Nguyên lý khí hậu học” L.S.Béc - Gơ định nghĩa khí hậu:


Khí
hậu
nông
nghiệp

Khí
hậu
y
học

Khí
hậu
du
lịch

Khí
hậu
xây
dựng

Khí
hậu
giao
thông

Khí
hậu
quân
sự

hậu, thời tiết lên quá trình hình thành, phát triển, sinh trưởng và tái sinh của
thảm thực vật tự nhiên.
- Sinh khí hậu nông nghiệp: nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu, thời
tiết lên quá trình sinh trưởng, hình thành năng suất, chất lượng, khả năng
sinh sản của cây trồng, vật nuôi.
- Sinh khí hậu con người: nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết
đối với cơ thể con người trong các hoạt động của sản xuất, lao động dân
sinh, du lịch, nghỉ dưỡng, phục hồi sức khoẻ, trị bệnh…
Tuy nhiên, trên quan điểm sinh thái của thảm thực vật, trong sự hình
thành các kiểu thảm thực vật, nhân tố khí hậu giữ vai trò chủ đạo. Trong mỗi
điều kiện khí hậu nhất định có một kiểu thảm thực vật hoặc một nhóm cây
trồng nhất định tồn tại và phát triển. Hơn nữa, trong giới sinh vật, thảm thực
vật chịu tác động của khí hậu một cách thụ động hơn cả. Người ta coi lớp phủ
thực vật như là vật chỉ thị của điều kiện khí hậu. Chính vì vậy, theo nghĩa hẹp
thì sinh khí hậu chính là khí hậu thảm thực vật tự nhiên.
1.1.3. Khái niệm về đánh giá tài nguyên khí hậu
17


Đánh giá được hiểu là việc xác định giá trị, tiềm năng (phong phú không phong phú, thuận lợi - không thuận lợi, thích nghi - không thích nghi,
tốt - xấu, giàu - nghèo,.v.v..) của một đối tượng nào đấy đối với một số yêu
cầu nhất định [41]. Về mặt nội dung, hoạt động đánh giá có thể chia làm hai
nhóm chính: (1) Đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên,
(2) Đánh giá các điều kiện kinh tế - xã hội.
Trong đó, đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên có
thể có nhiều hình thức khác nhau: đánh giá các yếu tố tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên thành phần (tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu,
tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản); hoặc đánh giá tổng hợp môi
trường tự nhiên (đánh giá cảnh quan).
Như vậy, đánh giá tài nguyên khí hậu là một bộ phận của công tác

(3) Lựa chọn chỉ tiêu
(4) Đánh giá thành phần
(5) Đánh giá chung
(6) Đánh giá tổng hợp

Không phù hợp
với thực tiễn

thực tiễn

Phù hợp

(7) Kiểm chứng thực tế

(8) Kiến nghị sử dụng

Hình 3: Sơ đồ quy trình đánh giá tài nguyên khí hậu
(theo Nguyễn Cao Huần)

Với mục tiêu đã được xác định, các phương pháp đánh giá tài nguyên
khí hậu phải tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Phải đảm bảo tính khoa học của việc đánh giá thông qua việc xác
định giá trị và quy luật phân hoá tài nguyên khí hậu.
- Coi các thông tin khí hậu đúc kết được từ số liệu quan trắc từ các
trạm khí tượng là cơ sở chủ yếu của việc đánh giá tài nguyên khí hậu.
- Đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ và nhất quán giữa giá trị, quy luật
phân hoá tài nguyên khí hậu và các yêu cầu của hoạt động sản xuất, đời
sống con người thông qua kết quả của việc đánh giá.

19



Như vậy, giới hạn sinh thái là giới hạn chịu đựng của cơ thể đối với
một nhân tố sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,…). Mức độ tác động có
lợi nhất của nhân tố đó với cơ thể là điểm cực thuận. Càng lệch xa vùng này
thì càng bất lợi cho cơ thể. Mỗi loài có một giới hạn sinh thái và điểm cực
thuận khác nhau. Có loài có giới hạn sinh thái rộng nhưng cũng có loài có
giới hạn sinh thái hẹp (Hình 4).
Các cây dược liệu đa phần là loài có giới hạn sinh thái hẹp, kén chọn
về điều kiện sinh trưởng phát triển. Một số loài lại phụ thuộc vào môi trường
sinh cảnh. Ví dụ, cây Thảo quả (Amomum aromaticum roxb) chỉ phát triển
được ở dưới tán phủ thực vật rừng, ở độ cao 1600 - 2200m, nơi thường xuyên
có mây mù, ẩm ướt, nhiệt độ trung bình năm từ 12,8 - 15,30C; hoặc cây
Hoàng liên chân gà (Coptis chinensis) - một loại cây thuốc quý, chỉ có thể
mọc ở độ cao 2000m, độ ẩm trên 90%, nhiệt độ trung bình năm từ 8 - 12,50C.
1.2.2. Vai trò của các yếu tố khí hậu, khí tượng đối với cây trồng
a) Ánh sáng
Trong đời sống của thực vật ánh sáng đóng vai trò rất quan trọng. Nó
ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của thực vật từ khi nẩy mẩm cho đến khi ra
hoa, kết quả rồi chết.
Ánh sáng là nguồn cung cấp năng lượng để giúp cây tiến hành quang
hợp, thoát hơi nước và vận chuyển nước. Ánh sáng còn cần thiết cho sự hình
thành chất dinh dưỡng giúp cây xanh phát triển. Chất diệp lục của lá cây
dưới tác động của ánh sáng sẽ tổng hợp hơi nước và khí cacbon đioxit hình
thành đường glucôza.
Cường độ ánh sáng mạnh hay yếu, thời gian chiếu sáng dài hay ngắn
cũng có ảnh hưởng lớn tới cây trồng. Khi cường độ ánh sáng mạnh, tốc độ
tích luỹ chất hữu cơ được tăng lên làm cho cây trồng tăng về trọng lượng và
thể tích. Tuy nhiên, cường độ ánh sáng thích nghi chỉ ở mức độ nhất định
nếu cường độ ánh sáng vượt ra ngoài phạm vi nhất định thì diệp lục tố bị

và chất lượng của cây trồng.
Mỗi một loại cây trồng có một yêu cầu nhiệt độ nhất định. Ngay trong

22


một giai đoạn sinh trưởng và phát triển, những nhu cầu về nhiệt độ cũng có
sự thay đổi. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm cũng có tác dụng lớn đối với
cây trồng. Các quá trình đồng hoá trong cây phụ thuộc vào thời gian ban
ngày và thời gian ban đêm. Quá trình này được thúc đẩy hay kìm hãm khi
biên độ nhiệt giữa ngày và đêm lớn hay nhỏ [31].
c) Mưa
Nước là một nhân tố sinh thái rất quan trọng trong đời sống thực vật.
Trong cơ thể của thực vật, nước chiếm từ 50 - 98%. Nước tham gia vào tổng
hợp chất hữu cơ trong cây, duy trì sức căng của tế bào tham gia vào vận
chuyển thức ăn vô cơ từ đất lên cho cây và chuyển các chất hữu cơ nuôi cây,
điều hoà nhiệt độ trong cây.
Trong các nguồn cung cấp nước cho cây thì mưa đóng vai trò quan
trọng nhất. Tuy nhiên, mưa rơi xuống mặt đất, cây chỉ hấp thụ một phần rất
ít, phần còn lại chảy ra ao, hồ, sông, biển, một phần thấm vào đất, một phần
bốc hơi đi. Đối với cây trồng, điều quan trọng không phải chỉ là lượng mưa
mà là khả năng tích luỹ, dự trữ nước trong đất cho cây. Ngoài ra còn phụ
thuộc vào tính chất, cường độ, đặc điểm và sự phân bố lượng mưa theo thời
gian. Lượng mưa nhiều nhưng tập trung theo mùa trong thời gian ngắn có
thể gây úng lụt trầm trọng, lượng mưa nhỏ nhưng phân bố đều trong năm thì
rất thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Mưa rào, mưa giông
cung cấp lượng nước lớn nhưng cường độ mạnh, nước không kịp ngấm, dễ
gây xói mòn đất. Mưa dầm kéo dài được đất hấp thu dần dần nên lại có tác
dụng cung cấp nước đều đặn, thường xuyên cho cây. Tuy nhiên, nếu thời
gian mưa kéo dài, kéo theo nhiệt độ và ánh sáng Mặt Trời kém sẽ kìm hãm

thụ phấn, quả lép…
Các hiện tượng thời tiết đặc biệt như: gió khô nóng, bão, lũ lụt, sương
muối, sương mù, mưa đá, giông… phần lớn có ảnh hưởng xấu đến cây trồng.
Chúng có thể gây tác hại trực tiếp, tàn phá về mặt cơ học cũng như ảnh hưởng
đến điều kiện sinh thái, làm cho cây trồng mất khả năng sinh trưởng, phát triển.
Như vậy, đối với cây trồng các yếu tố thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất
lớn đến đời sống của chúng. Nhiệt độ và lượng mưa là hai nhân tố có ảnh hưởng
24


quan trọng nhất. Qua hai yếu tố này, phần nào thấy được các yếu tố còn lại và
đánh giá được ảnh hướng của điều kiện sinh khí hậu đến từng loại cây trồng.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1. Khái quát các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, có diện tích tự
nhiên 6360,76 km2. Phía Bắc giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía
Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Tây giáp tỉnh
Lai Châu. Lào Cai có một thành phố và 8 huyện là Bát Xát, Bảo Thắng, Sa
Pa, Văn Bàn, Bảo Yên, Mường Khương, Bắc Hà và Si Ma Cai (Bảng 1).
Bảng 1: Các đơn vị hành chính tỉnh Lào Cai năm 2007
STT

Tên đơn vị hành chính

Diện tích

Dân số

Mật độ


680,09

105,03

154

4

Huyện Sa Pa

681,36

44,539

65

5

Huyện Văn Bàn

1422,06

76,33

54

6

Huyện Bảo Yên


234,02

27,72

118

6360,76

586,120

92

Tổng

(Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Lào Cai, 2007)

Điều kiện tự nhiên tỉnh Lào Cai có nhiều nét đặc sắc. Địa hình có sự
phân hoá rõ nét, mang sắc thái của địa hình miền núi, có núi cao trên 3000m,
có đồi thấp và có cả thung lũng. Do địa hình phức tạp, nhất là miền núi cao
nên Lào Cai có khí hậu đa dạng, phân hoá theo mùa và khác biệt giữa các
vùng.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status