MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Năng suất, sản lượng cây trồng có vai trò quan trọng làm cơ sở tính
toán một số chỉ tiêu như: tổng sản lượng lương thực, sản lượng cây công
nghiệp, sản lượng lương thực bình quân nhân khẩu của cả nước và từng địa
phương để cân đối tiêu dùng, xuất khẩu, nhập khẩu, dự trữ lương thực,... từng
địa phương và cả nước
Năng suất cây trồng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: chất lượng đất; khí
hậu; giống; chăm sóc; sâu bệnh v.v. Trong đó các yếu tố khí hậu giữ một vai
trò không nhỏ, nhưng định lượng sự ảnh hưởng của nó tới năng suất là một
vấn đề khó .
Cho đến nay đã có nhiều phương pháp đánh giá và dự báo năng suất
cây trồng khác nhau như ứng dụng mô hình thống kê thời tiết cây trồng trong
dự báo năng suất cây trồng [9. tr 119 – 125], dự báo năng suất cây trồng dựa
vào mô hình thống kê, phương pháp dự báo năng suất cây trồng dựa vào hiện
tượng vật hậu [6. tr 209 - 211]
Tuy nhiên các mô hình này còn có những hạn chế: Mô hình thống kê
thời tiết cây trồng trong dự báo năng suất cây trồng cho kết quả khá chính
xác, tuy nhiên, vẫn có những trường hợp sai số tương đối lớn do có những
yếu tố và nguyên nhân khác mà mô hình chưa tính đến, đó có thể là các yếu
tố ngẫu nhiên, hoặc do số liệu thu thập không đủ, hoặc do tình hình diễn
biến bất thường của sâu bệnh, sự thay đổi của thành phần đất; Dự báo năng
suất cây trồng dựa vào mô hình thống kê cần có thông tin dự báo chính xác
về lượng mưa của các tháng trong năm, tuy nhiên dự báo thời tiết dài hạn thì
lượng mưa là loại dự báo khó và kém chính xác nhất và thường mang tính
chất địa phương; Dự báo dựa vào các quan sát vật hậu cây trồng thì gặp
nhiều khó khăn vì giống cây thường thay đổi hàng năm, năng suất của chúng
cũng khác nhau.
1
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc đánh giá điều kiện khí hậu nông
nghiệp ảnh hưởng tới năng suất cây trồng và yêu cầu thực tiễn của việc đánh
giá ở tỉnh Đắk Nông.
- Áp dụng mô hình tính toán để đánh giá năng suất cây trồng trong điều
kiện khí hậu nông nghiệp tỉnh Đắk Nông.
- Đưa ra đề xuất và kiến nghị
2.3. Giới hạn nghiên cứu
- Về phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong tỉnh
Đắk Nông (bao gồm 7 huyện và 1 thị xã): 7 huyện: Cư Jút, Krông Nô, Đăk
Song, Đăk Mil, Đăk Glong, Đăk R'Lấp, Tuy Đức; 1 thị xã: Gia Nghĩa
3
4
- Về nội dung nghiên cứu:
+ Đánh giá điều kiện khí hậu – thời tiết, tập trung vào điều kiện mưa
ẩm ảnh hưởng tới năng suất cây trồng bằng mô hình. Cây trồng được lựa chọn
trong mô hình đánh giá năng suất là cây trồng tiêu chuẩn.
3. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
3.1. Quan điểm nghiên cứu
3.1.1. Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống yêu cầu khi nghiên cứu phải xem xét đối tượng
một cách toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động
và phát triển, trong những hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất và các quy luật
vận động Khí hậu là một hợp phần của hệ thống tự nhiên, có mối quan hệ với
sự tồn tại và phát triển của sinh vật. Mỗi cá thể (sinh vật) có mối quan hệ chặt
chẽ với các nhân tố môi trường xung quanh. Do đó, khi nghiên cứu và đánh
giá năng suất cây trồng ngoài yếu tố khí hậu còn cần phải xem xét một cách
toàn diện sự tác động của các nhân tố khác đến cây trồng bởi lẽ sự tác động
đó đều có một giới hạn nhất định mà nếu vượt qua giới hạn này thì cây trồng
sẽ thay đổi, đột biến và sẽ ảnh hưởng đến năng suất. Hơn nữa bản thân mỗi
loại cây trồng có những đặc điểm sinh lý và quá trình phát triển riêng, mỗi
loại cây, mỗi giai đoạn phát triển chịu sự ảnh hưởng và có nhu cầu về môi
trường sống khác nhau, vấn đề này ảnh hưởng rất nhiều tới năng suất và sản
lượng. Điều này đặc biệt quan trọng và là các dữ liệu đầu vào cho mô hình
đánh giá năng suất.
3.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển đảm bảo sự hài hòa giữa mục tiêu tăng
trưởng kinh tế với mục tiêu giữ gìn ổn định về văn hóa – xã hội và bảo vệ môi
trường. Bởi vậy kết quả của nghiên cứu phải phục vụ cho mục tiêu này.
3.1.5. Quan điểm thực tiễn
Thực tiễn là một trong những cơ sở để nghiên cứu đặt ra vấn đề và định
hướng khả năng áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Quan điểm thực
6
tiễn xuyên suốt từ lúc lựa chọn đề tài, đối tượng nghiên cứu, quá trình đánh
giá và đề xuất giải pháp đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của địa phương.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp xử lý số liệu
Thu thập và xử lý số liệu là giai đoạn đầu của quá trình đánh giá. Trên
cơ sở mục đích và nhiệm vụ của đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập các số
liệu, tài liệu tại khu vực nghiên cứu là tỉnh Đắk Nông, các số liệu về đặc điểm
tự nhiên và tài nguyên của tỉnh, từ đó chọn lọc các yếu tố cần thiết để đánh
là rất khó khăn, sẽ dễ dàng hơn nếu tính độ bốc-thoái hơi nước từ một bề mặt
tham chiếu (bề mặt tham chiếu là một bề mặt trồng cỏ, bề mặt này bao gồm
toàn bộ đặc điểm của đất, điều kiện tưới nước tốt và điều kiện nông nghiệp tối
ưu). Độ bốc-thoát hơi nước tính từ bề mặt này được gọi là độ bốc thoái hơi
nước tham chiếu và được ký hiệu là ETo.
Khái niệm độ bốc thoái hơi nước tham chiếu được giới thiệu cho
nghiên cứu về nhu cầu thoái hơi nước của khí quyển độc lập của các kiểu cây
trồng nông nghiệp, sự phát triển của cây và điều kiện chăm sóc. Vì ETo được
tính trong một môi trường tham chiếu, nơi mà sự quản lý và điều kiện môi
trường là tối ưu, do vậy chỉ có một nhân tố ảnh hưởng đến ETo là các thông
số khí tượng, có thể nói rằng ETo là một thông số khí tượng và có thể được
tính toán từ các dữ liệu thời tiết. ETo biểu diễn năng lượng bốc hơi của khí
quyển tại một vị trí và thời gian trong năm đã được lựa chọn và không cân
nhắc đến các tính chất của cây trồng và nhân tố của đất.
Một lượng lớn các phương trình thực nghiệm và bán thực nghiệm đã
được phát triển để ước tính độ bốc hơi tham chiếu từ dữ liệu khí tượng. Ngoài
ra nhà khoa học còn phân tích cách phương pháp tính khác nhau cho những
khu vực khác nhau để đưa ra phương tình chính xác nhất. Là một kết quả
trong chương trình tư vấn, phương pháp FAO Penman-Monteith đã được
khuyến cáo như một phương pháp tiêu chuẩn cho định nghĩa và tính toán độ
bốc hơi tham chiếu. Phương pháp này được lựa chọn vì nó là gần giống với bề
mặt tự nhiên và kết hợp rõ ràng hai thông số sinh lý học và khí động lực.
8
Công thức tính độ bốc-thoát hơi tham chiếu ETo theo phương pháp
FAO Penman-Monteith:
ETo =
es-ea mức độ thiếu hụt áp suất hơi nước bão hòa [kPa]
Δslope vapour pressure curve [kPa 0C-1]
γ thông số psychrometric [kPa 0C-1]
Một trong những mô hình ưu việt đã được FAO công nhân để tính độ
bốc-thoát hơi nước tham chiếu là phần mềm ETo calculator,
Mô hình ETo Calculator
Giao diện chính của mô hình gồm ba phần (hình 2):
a- Data base management: tại đây người dùng có thể lựa chọn một têp
dữ liệu hoặc tạo ra một tệp tin mới.
b- Selected climatic station: trong phần này tên của tập tin và tên tương
ứng của trạm khí tượng được hiển thị. Chúng ta có thể cập nhập tính chất của
các trạm, mở rộng hoặc thu ngắn phạm vi của dữ liệu, thay đổi ngưỡng của
giới hạn dữ liệu và kiểm tra dữ liệu khí tượng đã có.
c- ETo calculaton: tại đây các thông số khí tượng sử dụng để tính ETo
có thể được cập nhật, chọn lựa và thay đổi phù hợp với các dữ liệu tương ứng,
và kết quả thu được có thể được xuất ra.
9
Hình 2: Giao diên chính của mô hình ETo caculator
Dữ liệu đầu vào để tính toán cho mô hình là các dữ liệu khí tượng ngày,
10 ngày hoặc tháng, bao gồm: dữ liệu nhiết độ; dữ liệu độ ẩm không khí; dữ
liệu tốc độ gió; dữ liệu bức xạ nhiệt. Tất cả các dữ liệu khí tượng được lưu trữ
trên một tệp tin đầu vào và được lựa chọn đơn vị thích hợp trong quá trình
tính toán.
Trong trường hợp dữ liệu đổ ẩm, tốc độ gió hoặc bức xạ nhiệt là không
có thì chương trình sẽ sử dụng những thông tin đã được lựa chọn trong hộp
k = 1, ..., n
Trong đó: - Xi là số liệu từ chuỗi dư liệu X1, X2... Xn
- Giá trị ban đầu Sk = 0 và giá trị cuối cùng Sk = n là bằng không
Hình 3 là một ví dụ phân tích tần suất về tổng lượng mưa hàng năm của
Tananarive. Có thế thấy rằng khi đồ thị Sk’s thay đổi trong giá trị trung bình
là dẽ dàng nhận ra tính đồng nhất của dữ liệu. Với một dữ liệu X i trên mức
bình thường Sk = i tăng, trong khi dữ liệu dưới mức bình thường Sk =i giảm.
Đối với một chuỗi dữ liệu đồng nhất có thể mong đợi rằng Sk’s dao động
xung quanh giá trị 0. Từ trước đến nay không có một mô hình hệ thống trong
độ lệch của Xi’s từ các giá trị trung bình của chúng
11
Hình 3. Độ lệch tích lũy từ giá trị trung bình của tổng lượng mưa hàng
năm (1960-1994) của Tananarive (Madagascar). Khi đồ thị độ lệch tích
lũy đi qua một trong những đường nằm ngang tương ứng với các xác
suất 90%, 95% and 99% thì chuỗi dữ liệu là không đồng nhất
Để kiểm tra tính đồng nhất của chuỗi dữ liệu, độ lệch tích lũy thường
được thay đổi lại tỷ lệ. Điều này thu được bằng cách chia các giá trị Sk’s theo
giá trị độ lệch tiêu chuẩn (s). Bằng cách đánh giá Q (giá trị tối đa) hoặc rãnh
(R) của độ lệch tích lũy từ giá trị trung bình đã thay đổi tỷ lệ, tính đồng nhất
của dữ liệu của một chuỗi dữ liệu có thể được kiểm tra:
S
S = max k
s
(3)
dữ liệu được lựa chọn, một phân tích trên các dữ liệu có thể được thực hiện
bằng lựa chọn “Homogeneity test” hoặc “Frequency analysis”
Hình 4: Giao diện chính mô hình Rainbow
Tính toán cân bằng nước cho vấn đề khô hạn bằng mô hình Budget
Mô hình Budget
13
Budget là một phần mềm được xây dựng để đánh giá và dự báo năng
suất cây trồng trên cơ sở phương pháp của Jenssen. [31. Pp. 1-22.] Budget là
một phần mềm bao gồm một tập hợp các chương trình con được xây dựng để
mô phỏng các quá trình hấp thụ nước bởi rẽ cây và sự vận chuyển nước trong
các lớp đất. Bằng các phép đo những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cây
trồng Budget có thể ước tính được sự suy thoái năng suất trong giai đoạn cây
trồng cần thiết nước nhất [32. pp. 2.]
Bằng việc tính toán nước và hàm lượng muối trong đất bị ảnh hưởng
bởi đầu vào và thu hồi nước và muối trong thời gian mô phỏng, chương trình
phù hợp cho việc:
- Đánh giá mức độ cần nước của cây trồng dưới điều kiện mưa.
- Ước tính phản ứng của năng suất cây trồng với nước.
- Thiết kế lịch trình thủy lợi.
- Nghiên cứu quá trình tích lũy mối trong vùng rễ dưới điều kiện tưới
tiêu không thích hợp.
- Đánh giá các chiến lược thủy lợi.
- Mô hình mô phỏng sự thay đổi lượng nước trong đất và sự tích tụ
muối trong lớp đất trong quá trình mô phỏng, chương trình cũng có giá trị như
một công cụ giảng dạy.
Giao diện chỉnh của mô hình bao gồm 3 phần (hình 4):
- Dữ liệu khí tượng (dữ liệu ngày, 10 ngày hoặc tháng): độ bốc thoát
hơi nước tham chiếu (ETo) và lượng mưa.
- Thông số cây trồng: thông số miêu tả sự phát triển cây trồng và sự
hấp thụ nước của dễ, bằng các chọn lựa các lớp thích hợp (kiểu cây trồng;độ
sâu của dễ; mức độ nhạy cảm với nước; mức độ che phủ của tán cây; xac định
tổng chiều dài của giai đoạn sinh trưởng. Budget đua ra một bộ thông số hoàn
chỉnh, những thông số này có thể điều chỉnh được tùy theo loại cây trồng).
- Thông số đất: đất có thể bao gồm một vài lớp đất khác nhau, mỗi lớp
được chọn lựa một thông số phù hợp. Budget chứa đựng một bộ thông số mặc
định cái có thể được điều chỉnh cho các lớp đất khác nhau.
- Dữ liệu thủy lợi: chất lượng nước (độ mặn), khoảng thời gian tưới
tiêu và mức độ sử dụng nước hoặc tiêu chuẩn để đưa ra một lịch trình thủy
lợp phù hợp.
- Điều kiện ban đầu của nước và muối có trong lớp đất.
4. Khung nghiên cứu
Hình 6. Các bước nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đánh giá năng suất cây trồng trong điều kiện khí hậu nông
nghiệp tỉnh Đắk Nông được thực hiên qua 3 giai đoạn: Thu thập tài liệu, tư
liệu; Xử lý tư liệu, xác định cơ sở lý luận, phương pháp tiến hành đánh giá;
Giai đoạn đề xuất các kiến nghị cho việc phát triển cây nông nghiệp của tỉnh
Đắk Nông.
Mỗi giai đoạn khác nhau có các nhiệm vụ tương ứng cần thực hiện
- Giai đoạn thu thập tài liệu, tư liệu: bao gồm tài liệu về lý luận đánh
giá năng suất cây trồng trong các điều kiện khác nhau của tự nhiên đặc biệt là
điều kiện khí hậu, các công trình nghiên cứu liên quan và tư liệu điều tra cơ
bản về tự nhiên và kinh tế xã hội địa phương.
- Giai đoạn xử lý tư liệu: Giải quyết nội dung sau:
16
trung bình của các hiện tượng khí tượng có thể ảnh hưởng đến thực vật, động
vật và các loại hình thổ nhưỡng, nên khí hậu là trạng thái trung bình của hiện
tượng khí tượng”. [15. tr 6.].
Còn B.P.Alixop đưa ra định nghĩa được đông đảo các nhà khoa học
thừa nhận hơn cả. Theo ông thì; “khí hậu của một nơi nào đó là chế độ thời
tiết đặc trưng nhiều năm, được tạo nên bởi bức xạ Mặt Trời, đặc tính của bề
mặt đệm và hoàn lưu khí quyển”. [15. tr 5.]
Khí hậu ứng dụng là một ngành khoa học nghiên cứu khí hậu trong mối
quan hệ với từng đối tượng cụ thể, vừa có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực
tiễn. Một mặt, nó tạo những bước tiến lớn cho sự phát triển của các ngành như
khí hậu học, khí tượng… mặt khác, kết quả của các công trình nghiên cứu
trong lĩnh vực khí hậu ứng dụng sẽ giúp đưa ra những giải pháp đúng đắn, hợp
lý, trên cơ sở đó thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế, nhất là các ngành
phụ thuộc nhiều vào thời tiết, nhằm đem lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
18
Liên quan đến các yêu cầu của thực tiễn phát triển sản xuất và kinh tế,
trong mối quan hệ giữa khí hậu – con người – môi trường, khí hậu ứng dụng
có thể được phân chia theo các hướng cơ bản sau: Khí hậu nông nghiệp, khí
hậu y học, khí hậu du lịch, khí hậu xây dựng, khí hậu giao thông hàng không,
khí hậu quân sự, khí hậu một số lĩnh vực khác.
Y học
Nông
nghiệp
Lĩnh
vực
Yêu cầu của sản xuất đã bắt buộc con người phải tìm hiểu và tổng kết
những quy luật thời tiết và khí hậu để vận dụng vào nông nghiệp. Dựa trên
những quy luật đó người ta đã sơ bộ phân chia các vùng trồng trọt, quy định
các thời vụ thích hợp, đề ra các biện phát kỹ thuật nhằm đạt hiệu quả cao
nhất. Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, việc tổng kết những kinh nghiệm
lâu đời trong quá trình sản xuất, những thành quả nghiên cứu và khảo sát trên
những lĩnh vực khác nhau đã cho phép người ta xây dựng một khoa học mới
mẻ về khí hậu nông nghiệp, đây là khoa học mới mẻ so với lịch sử nông
nghiệp của con người và nó đang ngày càng hoàn chỉnh và tiến bộ. Những
kiến thức phong phú về khí hậu nông nghiệp đã được áp dụng thành công vào
mục đích phân vùng sản xuất, cải tiến kỹ thuật nông nghiệp và đã góp phần
quan trọng vào việc tăng năng suất mùa màng ở nhiều nước trên thế giới…
1.1.2. Khí hậu ứng dụng trong nông nghiệp
Nội dung chủ yếu của khoa học khí hậu nông nghiệp là nghiên cứu mối
quan hệ nhiều mặt giữa thời tiết-khí hậu với sản xuất, đồng thời nêu ra
phương hướng vận dụng mối quan hệ đó nhằm năng cao hiệu quả của sản
xuất nông nghiệp. Một cách tổng quát nhất, có thể xét tới các khía cạnh sau
[18. tr.7]:
1. Ảnh hưởng của khí hậu – thời tiết đối với cây trồng.
2. Ảnh hưởng của khí hậu – thời tiết đối với đất đai.
3. Mối quan hệ giữa khí hậu và sinh vật, bao gồm súc vật chăn nuôi,
sâu bệnh, côn trùng.
4. Ý nghĩa của khí hậu trong các biện pháp kỹ thuật như thời vụ, kỹ
thuật canh tác, tưới bón…
5. Những yếu tố của khí hậu nông nghiệp. Cách đánh giá những đặc
điểm khí hậu nông nghiệp ở từng vùng.
20
21
năng lượng mặt trời được sử dụng để tạo thành thân lá: lúc này các lá non đã
bắt đầu tham gia trực tiếp vào việc hấp thu ánh sáng mặt trời.
Khi cây lớn lên, một phần chất nuôi dưỡng cho cây được khai thác từ
không khí, bằng cách hấp thu khí cacbonic ở khí quyển. Sở dĩ cây có thể đồng
hóa được khí này, nghĩa là biến nó thành các chất hữu cơ tích lũy trong cây, là
nhờ có ánh sáng. Khoa học đã chứng minh rằng 95% khối lượng của cây được
tạo thành từ khí cacbonic lấy ở không khí và nước. Ta cũng biết, chất khô
trong cây chứa gần một nửa là cocbon, do đó mà chất lượng mùa màng phụ
thuộc rất nhiều vào điều kiện ánh sáng.
Tuy nhiên, sự đồng hóa khí cacbonic không phải chỉ diễn ra một chiều.
Ban đêm, trong quá trình hô hấp, cây tỏa ra khí cacbonic và mất đi một phần
chất hữu cơ tích lũy được trong ban ngày. Đêm càng dài và ngày càng nóng
thì hiện tượng diễn ra càng mạnh.
Do vậy khả năng tích lũy chất hữu cơ trong thực vật phụ thuộc nhiều
vào cường độ chiếu sáng và độ dài ban ngày. Nếu ánh sáng quá yếu, tốc độ
tích lũy giảm đi, nhưng nếu cường độ ánh sáng quá mạnh, cũng không có lợi
cho việc tích lũy chất hữu cơ trong cây.
Đặc tích của cây thích nghi với các điều kiện ngày dài ngắn khác nhau
gọi là tính chu kỳ ánh sáng của thực vật. Người ta phân biệt làm ba loại cây,
mỗi loại cây đòi hỏi những điều kiện ánh sáng riêng:
• Những cây ngày dài, thích nghi với điều kiện chiếu sáng dài trong
ngày (trên 12 giờ). Thuộc loại cây này có những cây ngũ cốc, củ cải, lanh, và
nhiều cây xứ lạnh khác. Những cây này chỉ kết quả khi có điều kiện chiếu
sáng nhiều trong ngày mùa hạ ôn đới và thời gian ra hoa bị chậm lại khi đưa
về phía nam, có ngày ngắn hơn.
• Những cây ngày ngắn, tức cũng là những cây đêm dài, đòi hỏi điều
Tóm lại, thời gian và cường độ chiếu sáng có ý nghĩa quyết định đối
với chất lượng mùa màng. Cây ăn quả được chiếu sáng tốt, sẽ cho quả ngon,
ngọt. Khoai trồng ở nơi dọi nắng, củ chứa nhiều tinh bột hơn khoai trồng ở
nơi cớm nắng. Cỏ mọc ở nơi sườn đón nắng nhận được nhiều ánh nắng hơn
23
mọc tốt và chứa nhiều dinh dưỡng hơn so với cỏ mọc ở sườn phía bắc hay
trong rừng.
1.1.2.2. Nhiệt độ
Yếu tố thứ hai, có ý nghĩa không kém phần quan trọng đối với đời sống
của cây là nhiệt độ.
Nhiệt độ đất có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của bộ rễ. Mỗi thời
kỳ phát dục của cây đòi hỏi một chế độ nhiệt nhất định. Nếu nhiệt độ đất quá
cao hay quá thấp một giới hạn nào đó, rễ cây ngừng phát triển và không cung
cấp được chất nuôi dưỡng cho cây, cây sẽ bị chết.
Những giới hạn nhiệt độ này khác nhau đối với từng loại cây. Ngay đối
với một loại cây trồng, những nhiệt độ đó cũng thay đổi theo giai đoạn sinh
trưởng. Những quá trình sinh lý chủ yếu của cây như quang hợp, hô hấp, sinh
trưởng… diễn ra chủ yếu ở nhiệt độ đất từ 0 đến 30 – 35 0C và tốc độ của quá
trình không đồng nhất trong khoảng nhiệt độ đó. Quá trình sinh lý được tăng
cường thêm khi nhiệt độ tăng, sau đó lại suy yếu đi và tới 40 – 45 0C thì
ngừng hẳn. Nhiệt độ đất trên 500C thường đã có hại rõ rệt đối với cây.
Khả năng chịu đựng nhiệt độ thấp cũng không giống nhau đối với từng
loại cây. Các cây nhiệt đới có thể ngừng sinh trưởng ở điều kiện nhiệt độ đất
3 – 50C thậm chí cao hơn nữa. Lúc này sự vận chuyển chất nuôi dưỡng từ rễ
lên thân lá bị đình trệ. Các cây xứ lạnh có thể chịu đựng được nhiệt độ thấp
hơn, tới -200C, -300C hay dưới hơn nữa.
Nhiệt độ đất còn ảnh hưởng quan trọng tới trạng thái cây. Khả năng nảy
mà vượt qua đó, nhiệt độ sẽ bắt đầu ảnh hưởng xấu đến cây trồng.
Ví dụ, lúa có thể nảy mầm trong điều kiện nhiệt độ cao hơn 12 0C. Song
quá trình nảy mầm tiến triển tốt nhất là khi nhiệt độ vào khoảng 28 – 32 0C và
tới trên 350C thì quá trình nảy mầm kém đi.
Lúa cũng bắt đầu trỗ hoa khi nhiệt độ cao hơn 18 – 20 0C, và nhiệt độ
thích hợp nhất là 25 – 320C. Nhiệt độ trên 330C có hại rõ rệt cho lúa trỗ.
25