tóm tắt luận án tỉnh bắc kạn trong căn cứ địa việt bắc từ năm 1942 đến năm 1954 - Pdf 22

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ÂU THỊ HỒNG THẮM
TỈNH BẮC KẠN TRONG CĂN CỨ ĐỊA VIỆT BẮC
TỪ NĂM 1942 ĐẾN NĂM 1954
Chuyên ngành: Lịch sử
Mã số: 62.22.54.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
LỊCH SỬ VIỆT NAM CẬN HIỆN ĐẠI
HÀ NỘI, 2013
Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội -
Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Mão
2. PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Chi

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Đình Lê
Đại học Quốc gia Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hà
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Phản biện 3: PGS.TS. Đào Tố Uyên
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện tại Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Vào hồi:…….giờ …… phút, ngày … tháng …… năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Việt Bắc giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Từ xa xưa, Việt Bắc

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Bắc Kạn vừa làm nhiệm vụ của hậu phương, vừa làm nhiệm vụ của tiền
tuyến và giành được nhiều chiến công vang dội, bảo vệ vững chắc Căn cứ địa Việt Bắc, góp sức cùng nhân dân cả nước
kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng quê hương.
Xuất phát từ những điều trình bày trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tỉnh Bắc Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc từ năm
1942 đến năm 1954” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
2. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu, là tỉnh Bắc Kạn, trong đó chú trọng đến các cơ sở cách mạng trên các phương diện chính
trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, xây dựng lực lượng vũ trang trong mối liên hệ với Căn cứ địa Việt Bắc thời kỳ (1942-1954)
2.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ quá trình hình thành và phát triển của các cơ sở cách mạng nói riêng, phong trào quần chúng nói chung ở
Bắc Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1945.
- Làm rõ sự ra đời, phát triển của CCKC (căn cứ kháng chiến) và phong trào đấu tranh ở Bắc Kạn trong Căn cứ địa
Việt Bắc từ năm 1946 đến năm 1954.
- Làm rõ vị trí, vai trò và đóng góp của Bắc Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian, luận án nghiên cứu trên phạm vi tỉnh Bắc Kạn. Tuy nhiên, do yêu cầu của đề tài, như đã đề cập,
là đặt Bắc Kạn trong mối quan hệ qua lại với khu vực Căn cứ địa Việt Bắc, cụ thể, là các tỉnh trực tiếp liên quan, như:
Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên. Vì vậy, không gian nghiên cứu, ở chừng mực nào đó, sẽ
được mở rộng sang các tỉnh ngoài Bắc Kạn.
- Về thời gian, luận án giới hạn từ năm 1942 - mốc bắt đầu hình thành cơ sở cách mạng đầu tiên ở tỉnh Bắc Kạn
đến năm 1954, khi miền Bắc được giải phóng, kết thúc sự hoạt động của Căn cứ địa Việt Bắc.
3. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1. Nguồn tài liệu
Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Những tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.V.Lênin về chiến tranh nhân dân; tài liệu văn kiện của
Đảng và Nhà nước, những bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các nhà hoạt động chính trị và quân sự như
Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng Những nguồn tài liệu này giúp chúng tôi có cơ sở lý luận để hoàn
thành công trình nghiên cứu.
- Các công trình nghiên cứu lịch sử xã hội nhân văn liên quan đến cuộc Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống

kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Về mặt thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của luận án có thể sẽ là những gợi mở góp phần vào việc bảo vệ và
xây dựng quê hương trong bối cảnh luôn phải đối phó với kẻ thù bên ngoài; kết luận từ thực tiễn nghiên cứu tỉnh Bắc
Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954, cũng như việc bổ sung, tập hợp tài liệu mới vào nguồn tài
liệu lịch sử địa phương, góp phần tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho các tầng
lớp nhân dân Bắc Kạn. Kết quả nghiên cứu của luận án còn góp phần vào việc nghiên cứu biên soạn các bài giảng lịch sử
địa phương ở tỉnh Bắc Kạn.
5. Bố cục của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án.
Chương 2: Tỉnh Bắc Kạn trong Căn cứ địa cách mạng Việt Bắc từ năm 1942 đến cuối năm 1946
Chương 3: Tỉnh Bắc Kạn trong Căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc giai đoạn từ cuối năm 1946 đến năm1954
Chương 4: Vị trí và vai trò của tỉnh Bắc Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu về tỉnh Bắc Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954
1.1.1. Các công trình đề cập đến chủ trương, đường lối của Đảng về Căn cứ địa
- Công trình: “Bàn về chiến tranh nhân dân” (1966) của các tác giả: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ
Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Văn Tiến Dũng, Song Hào đưa ra những lý luận về căn cứ địa, về chiến lược, sách
lược để xây dựng Căn cứ địa Việt Bắc.
- Cuốn sách: “Từ nhân dân mà ra” (1969) của Võ Nguyên Giáp trình bày chủ tương của Trung ương Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc lựa chọn Việt Bắc để xây dựng căn cứ địa cách mạng.
- Công trình: “Những sự kiện lịch sử Đảng (1930 – 1945)” (1976) do Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương
biên soạn. Cuốn sách đã tập hợp những nội dung về chủ trương, đường lối của Đảng và của Hồ Chí Minh trong chỉ đạo
xây dựng căn địa cách mạng,
1.1.2. Những công trình nghiên cứu chung, có nội dung liên quan đến các vấn đề của Luận án
- Cuốn sách: “Những chặng đường lịch sử” (1977) của Võ Nguyên Giáp trình bày quan điểm, chủ trương xây
dựng Căn cứ địa Việt Bắc, xây dựng lực lượng cách mạng của Hồ Chí Minh.
- Năm 1990, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản cuốn: “Việt Bắc 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-

tiếp của lực lượng vũ trang Bắc Kạn.
- Công trình: “Bắc Kạn - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) (2001), do Bộ Chỉ huy quân
sự tỉnh Bắc Kạn nghiên cứu và biên soạn. Nội dung cuốn sách trình bày toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
của quân và dân Bắc Kạn từ 1945 – 1954.
- TS. Nguyễn Xuân Minh với đề tài: “Tìm hiểu An toàn khu Trung ương trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp (1945-1954)” (Đề tài nghiên cứu cấp bộ. Mã số B91-26-09), đã tập trung làm rõ vị trí – địa phận của An toàn
khu Trung ương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
- Lương Thị Hằng: “Công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở tỉnh Bắc Kạn
(1941 - 1945)” (2009), luận văn thạc sĩ. Luận văn đã khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội và truyền thống đấu tranh
chống ngoại xâm của nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn,
1.2 Một số nhận xét về tình hình nghiên cứu tỉnh Bắc Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm
1954
Các công trình trên đã phán ánh khá đầy đủ, toàn diện về Căn cứ địa Việt Bắc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc, giành chính quyền cách mạng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954). Tuy nhiên, chưa có
công trình nào nghiên cứu tỉnh Bắc Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc một cách toàn diện và có hệ thống, nghĩa là chưa đặt
tỉnh Bắc Kạn với tư cách là một căn cứ cách mạng, căn cứ kháng chiến trong mối tác động qua lại với Căn cứ địa Việt
Bắc, cũng như vai trò của Bắc Kạn trong mối quan hệ đó. Với luận án này, chúng tôi sẽ tiếp tục quá trình tìm hiểu,
nghiên cứu sâu hơn về tỉnh Bắc Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954.
Chương 2
TỈNH BẮC KẠN TRONG CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG VIỆT BẮC
TỪ NĂM 1942 ĐẾN CUỐI NĂM 1946
2.1. Vị trí địa lý tự nhiên, điều kiện kinh tế, văn hoá – xã hội và truyền thống đấu tranh của các dân tộc Bắc
Kạn
2.1.1. Vị trí địa lý tự nhiên
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi thuộc khu vực phía Bắc Tổ quốc, vừa có vị trí trung tâm - một vị trí chiến lược trong
Căn cứ địa Việt Bắc, vừa có những đặc điểm tự nhiên thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ cách mạng, góp phần quan
trọng vào việc phát triển Căn cứ địa Việt Bắc.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
- Về kinh tế, Bắc Kạn có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc xây dựng nền kinh tế kháng chiến tự cấp, tự túc.
- Về xã hội, Bắc Kạn là một trong những tỉnh miền núi, đất rộng người thưa.

sang các xã miền đông của huyện Ba Bể và chân núi Phia Bioóc
2.2.3 Sự mở rộng và phát triển của các cơ sở cách mạng từ năm 1943 đến tháng 3 năm 1945
* Cơ sở cách mạng Ngân Sơn: Đầu tháng 9-1943, các xã Thượng Ân, Cốc Đán, Tô Khê, đã thành lập Ban chấp
hành Việt Minh xã. Phong trào cách mạng ở Ngân Sơn phát triển mạnh đã đưa tới sự ra đời của Chi bộ Chí Kiên (tháng
9-1943). Đây là chi bộ đầu tiên ở Ngân Sơn, đồng thời là chi bộ đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn. Tháng 10-1943, Ban Chấp
hành Việt Minh tổng Chí Kiên được thành lập
* Cơ sở cách mạng Chợ Rã (Tức Ba Bể).
- Ảnh hưởng từ con đường Nam tiến: Tháng 3 năm 1943, một mũi Nam tiến do đồng chí Nông Văn Quang phụ
trách từ Ngân Sơn xuống xây dựng cơ sở Việt Minh ở xã Phúc Lộc, Lủng Cháng (Hà Hiệu), Chu Hương, Mỹ Phương
- Ảnh hưởng từ con đường Tây tiến: Mùa hè năm 1943, Tây tiến (từ Nguyên Bình - Cao Bằng đánh thông qua
vùng cao Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang lên biên giới Việt - Trung) đã đến phía bắc Ba Bể. Từ trung tâm xã Cao
Minh, phong trào phát triển ra hầu khắp các xã phía bắc huyện Chợ Rã
* Cơ sở cách mạng Chợ Đồn.
- Ảnh hưởng từ con đường Nam tiến: cán bộ Nam tiến đã xây dựng thành công nhiều cơ sở cách mạng ở Quang
Bạch, Bản Thi, Ngọc Phái, Nghĩa Tá Như vậy, “Con đường quần chúng” từ Nguyên Bình (Cao Bằng) xuống Ngân Sơn
sang Chợ Rã xuống Chợ Đồn; con đường từ Ngân Sơn xuống Bạch Thông vào Chợ Đồn đã được khai thông. Những cơ sở
của mặt trận Việt Minh, cùng với các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu phát triển nhanh chóng.
- Ảnh hưởng từ con đường Bắc tiến: tháng 8 - 1943, tổ Cứu quốc quân xây dựng được cơ sở cách mạng ở các xã
Nghĩa Tá, Đại Sảo, Bình Trung. Đến đầu tháng 9 - 1943, đồng bào ở tổng Nghĩa Tá và Đông Viên đều gia nhập Hội Việt
Minh.
Do những hoạt động tích cực của các mũi xung phong Nam tiến và Bắc tiến, tháng 10 -1943, hai đội quân tiến và Bắc
tiến gặp nhau ở xã Nghĩa Tá (Chợ Đồn).
* Cơ sở cách mạng Bạch Thông: Mùa hè năm 1943, lực lượng Nam tiến đã xây dựng được cơ sở ở các xã Quân
Bình, Lục Bình
Nằm trong hệ thống của Căn cứ địa Việt Bắc, tỉnh Bắc Kạn, xét về vị trí địa lý tự nhiên, điều kiên kinh tế - xã hội
và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm, có đủ điều kiện để hình thành các căn cứ cách mạng trên địa bàn tỉnh. Chính
những tiền đề này cùng với ảnh hưởng từ phong trào cách mạng của Cao Bằng và Thái Nguyên đã tạo thuận lợi cho việc
hình thành cơ sở cách mạng ở Chợ Rã, Ngân Sơn năm 1942, rồi sau đó mở rộng và phát triển sang các khu vực khác,
như Chợ Đồn, Bạch Thông. Như vậy, các cơ sở cách mạng hầu như bao trùm toàn bộ khu vực tỉnh Bắc Kạn.
2.2.4. Cơ sở cách mạng Bắc Kạn với các cơ sở khác trong Căn cứ địa Việt Bắc

- Tại Cao Bằng
- Tại Lạng Sơn
- Tại Hà Giang
Vừa mới ra đời, chính quyền cách mạng còn non trẻ đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, như: nạn lũ lụt và hạn
hán, nạn đói, nạn dốt, nạn ngoại xâm.
Trong bối cảnh chung của tình hình đất nước, tỉnh Bắc Kạn cũng gặp không ít khó khăn, thử thách.
Như vậy, cùng với các tỉnh trong Căn cứ địa Việt Bắc, tỉnh Bắc Kạn đã giành thắng lợi trong Tổng khởi nghĩa
tháng Tám 1945. Thắng lợi của quân và dân Bắc Kạn, là sự thể hiện thắng lợi của một khâu quan trọng trong hệ thống
Căn cứ địa Việt Bắc, và sẽ góp phần không nhỏ vào việc củng cố khu căn cứ kháng chiến Việt Bắc trong những năm tiếp
theo.
Tiểu kết
Nằm trong hệ thống của Căn cứ địa Việt Bắc, tỉnh Bắc Kạn, xét về vị trí địa lý tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội
và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm, có đủ điều kiện để hình thành các căn cứ cách mạng trên địa bàn tỉnh. Chính
những tiền đề này, cùng với ảnh hưởng từ phong trào cách mạng của Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên, đã tạo thuận
lợi cho việc hình thành cơ sở cách mạng ở Ba Bể, Ngân Sơn năm 1942, rồi sau đó mở rộng và phát triển sang các khu
vực khác, như Chợ Đồn, Bạch Thông. Như vậy, các cơ sở cách mạng đã lan rộng hầu như toàn bộ Bắc Kạn, chỉ trừ châu
Na Rì. Cho đến trước khi diễn ra Cách mạng tháng Tám 1945, những cơ sở trên đây trở thành những cơ sở vững mạnh
trong hệ thống Căn cứ địa Việt Bắc.
Kể từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9 - 3 - 1945), cùng với các cơ sở cách mạng trong Căn cứ địa Việt Bắc, các
cơ sở cách mạng ở Bắc Kạn đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền từ tay thực dân Pháp và thu được thắng lợi lớn.
Chỉ từ tháng 3 đến tháng 5 - 1945, chính quyền tay sai cấp huyện, cấp xã của Pháp ở Bắc Kạn nói riêng, Căn cứ địa Việt
Bắc nói chung, thuộc về lực lượng cách mạng.
Lo ngại trước tình thế cách mạng đang dâng cao, phát xít Nhật mở nhiều cuộc càn quét vào các châu đã được giải
phóng trong Căn cứ địa Việt Bắc, nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, thành lập bộ máy chính quyền tay sai của chúng,
nhưng không đem lại kết quả. Trong bối cảnh chung của khởi nghĩa giành chính quyền từng phần, chiến thắng của quân
và dân Bắc Kạn không những tạo ra một địa bàn cơ sở cách mạng rộng lớn ngay trên quê hương, mà còn góp phần quan
trọng vào thắng lợi chung của Căn cứ địa Việt Bắc với sự ra đời Khu giải phóng, thắng lợi của Tổng khởi nghĩa trong
Cách mạng tháng Tám 1945 và công cuộc gìn giữ chính quyền sau đó.
Chương 3
TỈNH BẮC KẠN TRONG CĂN CỨ ĐỊA KHÁNG CHIẾN VIỆT BẮC

Tháng 02-1948, Bắc Kạn tổ chức Hội nghị dân quân toàn tỉnh lần thứ nhất tại Thượng Minh - Chợ Rã. Hội nghị
quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương mở rộng (15/01/1948) và công điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Các trận đánh của quân và dân Bắc Kạn trên đường số 3 đã gây cho quân Pháp nhiều tổn thất. Sáng sớm ngày 9-8-
1949, quân pháp chia thành từng toán rút khỏi thị xã Bắc Kạn.
Như vậy, sự phối hợp tác chiến của các tỉnh bạn đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của quân và dân Bắc Kạn.
Và việc Pháp phải rút khỏi Bắc Kạn - nơi mà chúng coi là “Con dao găm kề gáy đối phương” là một thắng lợi lớn của
quân dân Bắc Kạn nói riêng và cả nước nói chung, đặc biệt đối với sự an toàn của Căn cứ địa Việt Bắc. Sự kiện này có ý
nghĩa rất lớn trong việc từng bước làm thất bại âm mưu của Pháp, ngăn chặn những hành động chống phá của bè lũ tay
sai phản động, bảo vệ an toàn Căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững thành quả Cách mạng tháng Tám.
3.3. Phát triển hậu phương kháng chiến (1950-1954)
3.3.1. Củng cố hệ thống chính trị, tăng cường đoàn kết dân tộc
Ngay sau khi Bắc Kạn được giải phóng hoàn toàn (tháng 8-1949), công việc đầu tiên của Đảng bộ tỉnh, là nhanh
chóng ổn định tình hình, củng cố, kiện toàn bộ máy lãnh đạo của Đảng và Chính quyền các cấp.
Tháng 10 - 1949, nhân dân Bắc Kạn đã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện
quyền làm chủ, xây dựng chính quyền cách mạng.
3.3.2. Phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
* Kinh tế
- Phát động phong trào “Tích cực tăng gia sản xuất cứu đói”, “Toàn dân canh tác”, tích cực khai hoang phục hóa;
đẩy mạnh sản xuất tiết kiệm; trồng ngô, khoai, sắn; đưa giống lúa Nam Ninh ngắn ngày, năng suất cao vào gieo trồng…
Tính đến năm 1950, toàn tỉnh đã cấy được 15.970 mẫu lúa. Đến năm 1954, phong trào cấy giống lúa Nam Ninh cũng lên
mạnh. Trong số 103 xã, có 85 xã cấy giống lúa Nam Ninh, diện tích lên tới 6.731 mẫu, thu được 701 tấn 808 Kg thóc.
- Về chăn nuôi lấy sức kéo trong giai đoạn này, tỉnh Bắc Kạn đạt được một số kết quả.
- Khai thác lâm thổ sản cũng được chú ý.
- Tiểu thủ công nghiệp cũng được khôi phục và phát triển.
- Mạng lưới thương nghiệp quốc doanh từng bước phát triển.
Những thành tựu mà nhân dân Bắc Kạn đạt được trên mặt trận kinh tế đã thực sự làm cho tỉnh trở thành một tỉnh
căn cứ hậu phương kháng chiến có tiềm lực vật chất, đóng góp ngày càng nhiều cho tiền tuyến.
* Xã hội
- Sự phát triển của ngành giáo dục đã thực sự góp phần nâng cao dân trí cho thanh, thiếu niên tỉnh Bắc Kạn.
- Về văn hóa - xã hội, hoạt động thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh.

Bắc Kạn không chỉ có vị trí trung tâm - một vị trí chiến lược trong Căn cứ địa Việt Bắc, mà còn có những đặc
điểm tự nhiên thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ cách mạng, góp phần quan trọng vào việc phát triển Căn cứ địa Việt
Bắc.
Đồng thời, Bắc Kạn là cầu nối quan trọng giữa các căn cứ địa cách mạng Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà
Giang và Thái Nguyên, nơi gặp gỡ của những đoàn quân Nam tiến, Tây tiến và Bắc tiến, tạo thành khu Căn cứ địa Việt Bắc
rộng lớn.
4.1.2. Bắc Kạn và Căn cứ địa Việt Bắc với sự ra đời Khu giải phóng và thắng lợi của Cách mạng tháng Tám
1945
Châu Chợ Đồn (Bắc Kạn) khi đó, là địa bàn quan trọng của phân khu B kết nối Cao Bằng với Thái Nguyên, Tuyên
Quang, tạo thành thế liên hoàn vững chắc. Đó chính là tiền đề quan trọng đưa tới sự ra đời của Khu giải phóng.
Thắng lợi của cách mạng Bắc Kạn trong cao trào chống Nhật, cứu nước và Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đã tạo nên
thế và lực hết sức quan trọng, góp phần xứng đáng của mình vào Tổng khởi nghĩa tháng Tám trong cả nước.
4.2. Bắc Kạn – Một trong những trung tâm quan trọng của căn cứ kháng chiến Việt Bắc
4.2.1. Bắc Kạn - Một trong những địa bàn được chọn làm nơi xây dựng ATK Trung ương
Về địa lý, ATK Trung ương bao trùm 3 ATK của Thái Nguyên, Tuyên Quang và Bắc Kạn. Khu vực các xã phía
nam và tây nam của huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn) được Trung ương Đảng và Chính phủ chọn làm ATK.
Không những thế, quân và dân Bắc Kạn, nhất là quân và dân huyện Chợ Đồn, nơi có ATK Trung ương đóng, còn
đáp ứng nhiệm vụ phục vụ ATK.
Trong 8 năm tiến hành cuộc kháng chiến (1947-1954), Bắc Kạn luôn luôn sát cánh cùng các tỉnh trong Căn cứ địa
Việt Bắc, đặc biệt với Tuyên Quang và Thái Nguyên tại ATK Trung ương và có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
4.2.2. Bắc Kạn - Nơi bắt đầu thực hiện chế độ dân chủ mới khá sớm trong Căn cứ địa Việt Bắc
Ngày 09 tháng 8 năm 1949, tỉnh Bắc Kạn được giải phóng, trở thành tỉnh đầu tiên được giải phóng trong kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cũng là nơi thực hiện chế độ dân chủ khá sớm trên các lĩnh vực chính trị, quân sự,
kinh tế, văn hóa - giáo dục trong Căn cứ địa Việt Bắc. Việc xây dựng chế độ dân chủ ở Bắc Kạn đã góp phần vào sự lớn
mạnh của khu Căn cứ địa Việt Bắc.
Có thể nói, vấn đề thực hiện chế độ dân chủ mới đã được tiến hành hầu khắp trong Việt Bắc.
4.3. Bắc Kạn làm trọn nghĩa vụ hậu phương kháng chiến của một căn cứ cách mạng trong Căn cứ địa Việt
Bắc
Là địa phương đầu tiên trong cả nước được giải phóng trong kháng chiến chống thực dân Pháp (9/8/1949), Bắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status