LỜI CÁM ƠN
Qua 6 tháng tiến hành làm luận văn với sự giúp đỡ tận tình của các thầy
cô Khoa sau Đại học, khoa Công trình, của các bạn bè đồng nghiệp nhất với
sự nỗ lực của bản thân, và sự tạo điều kiện của cơ quan nơi công tác. Luận
văn thạc sĩ “ Nghiên cứu nguyên nhân gây mất ổn định và đề xuất giải pháp
bảo vệ bờ sông Đuống tỉnh Bắc Ninh”, đã hoàn thành.
Tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc đối với các thầy cô, Khoa sau
Đại học, khoa công trình trường Đại Học Thuỷ lợi, Bộ môn Vật liệu xây dựng
đã giảng dạy, giúp đỡ rất nhiệt tình tang suốt quá trình học tập và thực hiện
luận văn này. Đồng thời tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt
tình của TS. Vũ Quốc Vương, PGS.TS Trịnh Minh Thụ.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Công ty CP TVXD NN & PTNT Bắc
Ninh, Chi cục QLĐĐ PCLB tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác
giả trong quá trình học tập, và thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của phòng đào tạo, thư viện trường
Đại học Thuỷ lợi Hà Nội, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả để có thể hoàn
thành khoá học cũng như luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện
về thời gian, chuyên môn giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn.
Bắc Ninh, ngày 22/09/2011
Nguyễn Tiến Thương
Luận văn thạc sĩ - 1- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
MỤC LỤC
4TMỤC LỤC4T 1
4TDANH MỤC CÁC HÌNH VẼ4T 3
4TDANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU4T 4
4T3.4.1.4T 4THiện tượng thẩm lậu xẩy ra khu vực Dự án4T 75
4T3.4.2.4T 4THiện tượng mạch đùn mạch sủi4T 75
4T3.5.4T 4TĐánh giá tác động địa chất nền đến công trình bảo vệ bờ:4T 77
4T3.6.4T 4TĐề xuất các giải pháp bảo vệ bờ trên đoạn sông Đuống tỉnh Bắc Ninh:4T 77
4T3.6.1.4T 4TCác dạng công trình bảo vệ bờ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, hệ thống sông Đuống
được xây dựng như sau
4T 79
4T3.6.2.4T 4TPhân tích đánh giá ưu điểm và nhược điểm của các dạng công trình bảo vệ bờ
trên tuyến sông
4T 80
4T3.6.3.4T 4TNghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo vệ bờ4T 80
4T3.7.4T 4TỨng dụng kết quả nghiên cứu để đề xuất thiết kế kè Chi Đống từ K31+840 đến
K32+650 thuộc đê tả Đuống huyện Tiên Du:4T 82
4T3.7.1.4T 4TKhu vực xây dựng công trình4T 82
4T3.7.2.4T 4TĐiều kiện địa chất4T 82
Luận văn thạc sĩ - 2- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
4T3.7.3.4T 4TQuy mô xây dựng công trình4T 85
4T3.7.4.4T 4TCác thông số kỹ thuật chính4T 85
4T3.7.5.4T 4TCác giải pháp kết cấu công trình4T 85
4T3.7.6.4T 4TTính toán kết cấu kè bảo vệ bờ4T 91
4T3.7.7.4T 4TTính toán đường kính vật liệu lát mái bờ sông4T 95
4T
3.7.1.1. Chân kè :
4T 95
4T
3.7.7.2. Thân kè :
4T 96
4T3.7.8.4T 4TTính toán kinh phí đầu tư4T 97
Luận văn thạc sĩ - 3- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
STT
Tên
Nội dung
Trang
1
Hình 1
Bản đồ đê điều tỉnh Bắc Ninh
6
2
Hình 1.1
Cấu kiện Tetrapod
14
3
Hình1.2
Cấu kiện Akmon
15
4
Hình 1.3
vết nứt rộng 15 đến 20 cm, nằm ngay sát chân đê đe
doạ trực tiếp đến an toàn của đê
46
12
Hình 2.4
Đoạn từ K32+490 đến K32+650 đê Tả Đuống mái kè
bị xói lở mạnh, tạo hàm ếch, nhiều chỗ xói lở vào mái
kè từ 2-3m, mái thẳng đứng (Kè Chi Đống)
46
13
Hình 2.5
Cung trượt từ K32+092 đến K32+145 đê Tả Đuống
dài 53 m đang sạt lở cách chân đê 14m (Kè Chi Đống)
47
14
Hình 2.6
Cung trượt từ K32+092 đến K32+145 đê Tả Đuống
dài 53 m đang có xu hướng phát triển mạnh (Kè Chi
Đống)
47
15
Hình 2.7
Đoạn từ K38+200-:-K38+250 đê tả Đuống, chân kè bị
sụt sạt từ 1 -:-2.5m rộng 3m, dài từ 20 đến 50 m
48
16
Hình 2.8
Các cung trượt suất hiện trên toàn tuyến đoạn
K42+750-:-K46+100 đê Tả Đuống
48
58
Luận văn thạc sĩ - 4- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
23
Hình 3.2
Sơ đồ tổng hợp các nguyên nhân gây xói lở mái bờ
sông
59
24
Hình 3.3
Cơ chế tác động của dòng chủ lưu vào bờ sông cong
63
25
Hình 3.4
Sơ đồ xác định biểu đồ áp lực sóng lên mái nghiêng
66
26
Hình 3.5
Đồ thị quan hệ giữa áp lực sóng và hệ số mái dốc
67
27
H ình 3.6
Cơ chế mất ổn định đê sông (nguồn: Pilarczyk)
70
28
Hình 3.7
Sơ đồ cây giải pháp giảm nhẹ thiệt hại do xói lở bờ do
tác giả đề xuất
78
lưới thép kết hợp lăng thể đá hộc
93
36
Hình 3.12d
Tính toán với mặt cắt kè lát mái hộ chân lăng thể đá
hộc
94
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
Tên
Nội dung
Trang
1
Bảng 1-1
Hệ số phá hoại Kp của 3 loại
15
2
Bảng 1-2
Hệ số phá hoại Kp
16
3
Bảng 1-3
Kích thước của loại cấu kiện Flex-slab
18
4
Bảng 1-4
Kích thước của Reno Mattress thông dụng
20
5
(mm)
39
13
Bảng 2-9
Số ngày mưa, lượng mưa trung bình nhiều năm
40
14
Bảng 2-10
Các trạm đo thuỷ văn
40
15
Bảng 2-11
TQ Thay đổi trên mặt cắt ngang đoạn sông Đuống
54
Luận văn thạc sĩ - 5- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
thuộc Hà nội
16
Bảng 2-12
TQ Thay đổi đường lạch sâu trên đoạn sông
54
17
Bảng 2-13
Kết quả tính lượng xói trên đoạn sông
55
18
Bảng 3-1
Kết quả tính toán vận tốc khởi động bùn cát lòng dẫn
sông Đuống
Bảng phân tích ổn định của một số loại kết cấu bảo vệ
mái
73
26
Bảng 3-9
Bảng trị số các đặc trưng cơ lý tại mặt cắt K32+052 đê
tả Đuống
83
27
Bảng 3-10
Bảng trị số các đặc trưng cơ lý tại mặt cắt K32+452 đê
tả Đuống
84
28
Bảng 3-11
Bảng trị số các đặc trưng cơ lý đá thả rời
92
29
Bảng 3-12
Bảng kết quả tính toán ổn định kè
94
30
Bảng 3-13
Bảng so sánh kinh phí của từng phương án kết cấu
97
Luận văn thạc sĩ - 6- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
MỞ ĐẦU
3
P/năm, lượng phù sa là 2,8kg/mP
3
P, sông
Đuống có nguồn lợi rất lớn, đối với tỉnh Bắc Ninh cụ thể;
- Cung cấp nước sinh hoạt, công, nông nghiệp.
- Tuyến thoát lũ, tiêu úng.
- Tuyến giao thông vận tải thuỷ chủ yếu.
- Nguồn cung cấp vật liệu xây dựng.
- Nguồn cung cấp phù sa cải tạo đất.
- Nguồn cung cấp thuỷ sản, tuyến du lịch sinh thái.
- Cải thiện, điều hoà môi trường, sinh thái.
- Quốc phòng và an ninh quốc gia.
- Dọc theo sông, còn có các công trình kiến trúc văn hoá, các công trình
giao thông, cầu, phà, bến cảng và các công trình thuỷ lợi quan trọng.
Tất cả các nguồn lợi ích trên cho chúng ta thấy vai trò rất quan trọng của
sông Đuống đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Ninh, và các
tỉnh thành có dòng sông chảy qua.
Song song, cùng tồn tại với lợi ích mà dòng sông mang lại là những tai hoạ
của thiên tai mà nó mang đến cụ thể:
- Lịch sử cho thấy hệ thống đê sông Đuống rất yếu tại khu vực Hà Nội trong
vòng 70 năm đã có 12 lần vỡ đê như :
+ Ngày 01/8/ 1905 vỡ đê Kim Sơn
Luận văn thạc sĩ - 8- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
+ Ngày 12/7/1915 vỡ đê Đông Trù, Gia Quất, Gia Thượng, đê Yên Viên,
Gia Bình.
+ Ngày 7/8/1918 vỡ đê Tình Quang.
+ Ngày 23/8/1918 vỡ đê Đổng Viên.
Mục đích đề tài
Đánh giá nguyên nhân mất ổn định và đề xuất giải pháp bảo vệ bờ sông
Đuống tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: ổn định kè lát mái hộ chân và tác dụng kỹ thuật
của các giải pháp.
- Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài
tập trung nghiên cứu ổn định của các giải pháp kè lát mái hộ chân cho
tuyến kè Chi Đống thuộc đê Tả Đuống tỉnh Bắc Ninh.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước về công trình bảo vệ bờ để chọn
hướng nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu.
Để đạt được mục đích đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp điều tra khảo sát: Thu thập điều tra các tài liệu liên quan
đến hiện tượng xói lở mái bờ sông, lòng dẫn. Điều tra thực trạng xói lở,
tình hình diễn biến lòng dẫn, dân sinh, kinh tế, địa chất, khí tượng thuỷ
văn trong khu vực nghiên cứu. Phân tích tổng hợp các tài liệu đo đạc
khảo sát.
- Phương pháp hình thái: Trên cơ sở phân tích tài liệu thực đo kết hợp với
phân tích ảnh viễn thám bằng các công cụ kỹ thuật tin học: Mapinfo để
nghiên cứu diễn biến lòng dẫn trong từng giai đoạn.
- Phương pháp mô hình toán, ứng dụng mô hình toán SLOPE/W, vào
để
tính toán ổn định công trình.
Luận văn thạc sĩ - 10- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
1.1.1. Tình hình ứng dụng công trình bảo vệ bờ sông trên thế giới
Thiên tai, lũ lụt luôn là kẻ thù của loài người từ trước đến nay. Trong quá
trình sinh tồn, con người luôn tìm cách phòng chống, và chế ngự các thảm hoạ từ
thiên nhiên. Nguồn gốc của sự sống đều bắt đầu từ nguồn nước, các khu dân cư
luôn luôn tồn tại ngay cạnh nơi có nguồn nước nhất là ven các sông, suối. Song
song với những lợi ích do dòng sông, suối mang lại, bên cạnh đó con người còn
chịu tác động rất lớn đe doạ trực tiếp gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản do diễn
biến dòng chảy và từ đó con người luôn luôn tìm cách chế ngự nó để tồn tại.
Chính vì vậy, trên thế giới lịch sử nghiên cứu và ứng dụng xây dựng các
công trình bảo vệ bờ sông có từ rất lâu xuất phát điểm từ những vật liệu thô sơ sẵn
có (cọc gỗ, tre, đá hộc, đá dăm), đến vật liệu mới (thảm bê tông FS, bản cọc bê tông
cốt thép dự ứng lực ).
Cụ thể, ở Trung Quốc vào thời nhà Thanh và nhà Minh đã xây dựng hệ thống
đê kè bảo vệ bờ sông Tiền Đường bằng các tảng đá lớn và cọc gỗ cho đến nay công
trình vẫn tồn tại và ổn định.
Những nghiên cứu liên quan đến vấn đề xói lở bờ sông, lòng dẫn, bồi lắng
lòng dẫn bao gồm: xác định nguyên nhân, quy luật diễn biến lòng dẫn, nghiên cứu
các giải pháp phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do xói lở bờ, bồi lắng lòng dẫn đều
thuộc các lĩnh vực khoa học động lực lòng sông, chuyển động bùn cát và chỉnh trị
sông.
Trên thế giới khoa học về động lực dòng sông, bắt đầu được phát triển mạnh
trong nửa thế kỷ XIX ở các nước Âu Mỹ. Những nghiên cứu của các nhà khoa học
Pháp như Du Boys về chuyển động bùn cát, Barré de Saint- Venant về dòng không
Luận văn thạc sĩ - 12- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
ổn định, L.Fargue về hình thái sông uốn khúc vẫn giữ nguyên giá trị sử dụng đến
nay.
Từ những năm đầu của thế kỷ XX đến nay, ở các nước phát triển như Mỹ,
Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Nhật, Canađa, Nga, Trung Quốc việc nghiên cứu thuỷ lực
rõ trong việc lựa chọn vật liệu và hình thức kết cấu công trình bảo vệ bờ.
Việc bảo vệ bờ sông tại các khu vực thành thị và các thành phố, các đê chính
bảo vệ cho vùng kinh tế quan trọng đã bảo vệ ở mức cứng hoá các bờ sông bằng đá
hoa cương, bê tông, gạch đá xây, thảm bê tông FS, bản cọc bê tông cốt thép dự ứng
lực
Các khu vực nông thôn, xa khu dân cư, các đê có cấp độ thấp thì mức độ bảo
vệ thấp hơn, việc bảo vệ theo nguyên tắc giữ vững ổn định của toàn tuyến sông.
Xây dựng các công trình chỉnh trị, đê, kè để bảo vệ là chính, chấp nhận có sự hư
hỏng, sửa chữa để giữ vững ổn định của lòng dẫn, sử dụng các phương pháp nuôi
lòng dẫn, như khơi thông bùn cát đáy sông, đổ cát, đá và hỗn hợp cát đá xuống đáy
sông ở những vị trí thích hợp để chống sạt lở bờ sông.
Ngoài ra, hiện nay xu thế sử dụng những vật liệu rẻ tiền dễ kiếm, nhất là kè
sinh thái đang là xu thế được lựa chọn.
1.1.2. Phân loại công trình bảo vệ bờ
Phân loại công trình bảo vệ bờ có thể phân thành nhiều loại theo vật liệu xây
dựng, thời gian, tuổi thọ, quan hệ mực nước, mục đích, hình thức và tính năng của
công trình, theo hình thức kết cấu
Theo hình thức, công trình bảo vệ bờ sông bao gồm hệ thống đê sông, kè
bảo vệ mái dốc, hệ thống mỏ hàn, kè hoàn lưu, các hệ thống lái dòng M.V.Pôtapốp.
Hệ thống kè bảo vệ mái dốc theo hình thức kết cấu chia ra:
- Kè có kết cấu linh hoạt: là loại kè có kết cấu đơn giản được cấu tạo bằng
đá tự nhiên rất nhám, có góc cạnh không đồng đều được đổ hoặc xếp, lát khít vào
nhau. Tiến bộ hơn là kè được cấu tạo bởi các cấu kiện là các tấm bê tông đúc sẵn có
dạng khối lục lăng, khối chữ nhật, khối lập phương, khối lăng trụ xếp liền nhau (
loại này được liên kết giữa các khối bởi lực ma sát giữa các mặt tiếp xúc), để duy trì
ổn định khi chịu tác dụng của sóng thì trọng lượng bản thân của từng viên đá hoặc
cấu kiện phải đủ lớn.
Luận văn thạc sĩ - 14- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
P
3
P, theo bảng 1-1. Cấu kiện này thường được áp dụng cho bảo vệ bờ
biển.
Bảng 1-1 : Hệ số phá hoại Kp của 3 loại
Sự phá hoại
tính theo %
Hệ số phá hoại Kp
Đá
Tetrapod và Quatripot
Tribar
1- :-5
4
8,3
10,4
5- :-10
4,9
10,8
14,2
10- :-15
6,6
13,4
19,4
15- :-20
8,0
15,9
26,2
20- :-30
10,0
19,2
8,0
12,0
3
0,14
0,17
- Kè có kết cấu liền khối : là loại kè có trọng lượng lớn đảm bảo an toàn,
chống được sự tác động của sóng, giảm được chiều dày của khối.
Loại này chia ra :
+ Tấm bê tông đổ tại chỗ : Kè được cấu tạo bởi các tấm bê tông cốt thép đổ
tại chỗ, chia thành các tấm có các kích cỡ khác nhau : ( 2x2)m, (3x3)m,
(4x4)m, (5x5)m, (10x10)m, (15x15)m hoặc (20x20)m. Loại này được sử
dụng rộng rãi trên thế giới, nhưng có nhược điểm nếu xây dựng trên nền đất
yếu dễ bị gẫy sập từng mảng, rất khó trong cải tạo
+ Kè đá xây liền khối : là các khối được xây bởi đá hộc vữa xi măng cát
mác 100-:-150 # dày 30 đến 35 cm có kích thước 92x2)m, giữa các khối lớn
có khớp nối ( Bao tải nhựa đường, hoặc giấy dầu tẩm nhựa đường) và có bố
trí các lỗ thoát nước mái.
+ Kè xây bằng cấu kiện bê tông đúc sẵn: Các cấu kiện bê tông đúc sẵn có
dạng hộp vuông hoặc hộp chữ nhật kích cỡ (1x0,4x0,25) m xây bằng vữa xi
măng cát, sau đó trát mặt ngoài một lớp vữa xi măng cát vàng dày 2-:-3cm
tạo thành bản lớn kích thước (4x2)m hoặc (2x6)m.
Luận văn thạc sĩ - 17- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
- Kè kết cấu liên kết linh hoạt tạo thành băng và mảng : Như đã nêu ở trên
loại kè kết cấu tơi rời thì yêu cầu đặt ra là trọng lượng viên đá phải đủ lớn mới đảm
bảo chống được tác động của sóng và dòng chảy. Trong thực tế, không phải vật liệu
nào cũng đảm bảo kích thước như trên, vì vậy để giảm trọng lượng của cấu kiện mà
vẫn chống được sóng và tác động của dòng chảy cần liên kết các cấu kiện có trọng
lượng và kích thước nhỏ lại với nhau thành từng băng dài ghép liền kề nhau thành
bảo vệ bờ, đê sông, đê biển, khu du lịch, hải cảng ở nhiều nước trên thế giới, đây là
một loại kết cấu được xem như một trong những công nghệ mới.
Các loại Flex-slab thường dùng có kích thước như bảng sau:
Bảng 1-3 : Kích thước của loại cấu kiện Flex-slab
Loại cấu kiện
Kích thước (cm)
Trọng lượng (kg)
Loại bê tông
FS.30
50x50x16
60
30MPa
FS.60R
60x60x16
65
30MPa
FS.100
100x100x16
450
30MPa
Việc sử dụng các loại cấu kiện liên kết linh hoạt thành mảng là một
trong bước tiến lớn trong công nghệ hoá, cơ giới hoá trong xây dựng công trình bảo
vệ bờ và mái đê biển.
Loại kết cấu này có ưu điểm là thích hợp với loại nền tương đối ổn định,
không có hiện tượng lún cục bộ lớn với điều kiện lớp lọc phải đảm bảo, và các mối
liên kết bền vững. Đây là loại liên kết được sử dụng nhiều trên thế giới.
Nhược điểm và hạn chế của loại kết cấu này là các mối liên kết thường bị
gẫy khi được lát trên loại nền mềm yếu.
- Dạng kè thảm đá lưới thép:
Dây
(mm)
Bề dày
(m)
Loại lưới
(m)
Dây
(mm)
Bề dày
(m)
Trong
Ngoài
6x8
7,0
7,2
0,17
0,23
0,30
6x8
7,0
7,2
3,0
3,2
0,17
0,23
0,30
• Diện tích che kín nền (0,9x0,5)= 0,45m
P
2
P(75%)
• Diện tich khe hở 100%-75%=25%.
Luận văn thạc sĩ - 21- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
+ Ưu điểm: Kết cấu dạng nàycó trọng lượng lớn không bị dòng chảy cuốn
trôi, đặc biệt nếu sử dụng để đè lên đá thả giữ cho mái ổn định.
+ Nhược điểm:
• Trọng lượng của khối nặng sẽ dẫn đến hiện tượng nền lún cục bộ tạo ra
mặt thảm không phẳng mà gồ ghề gấp khúc.
• Bảo vệ nền mái đất qua lớp vải lọc sẽ không đảm bảo ổn định lâu dài vì
khe hở quá lớn 25%.
• Dễ bị dồn đống gấp khúc do kết cấu móc nối mềm, lỏng khó thi công.
• Các liên kết móc thép dễ bị ăn mòn,rỉ, đứt tuổi thọ không cao từ đó làm
mất tác dụng liên kết của các tấm bê tông, thảm sẽ bị tách rời thành các cấu kiện
độc lập gây phá hoại công trình.
+ Thảm bê tông xâu bằng dây cáp:
Thảm được cấu tạo dùng dây cáp xâu các viên bê tông đúc sẵn liên kết
lại với nhau sau đó dùng cẩu nâng đặt phủ vào vị trí bề mặt cần bảo vệ.
Thảm BETOMAT KA-VB gồm các khối bê tông liên kết với nhau tạo
thành khối lớn bằng dây cáp. Loại thảm này có thể hình thành kích thước tuỳ ý đặt
trên lớp vải lọc tổng hợp.
Cấu tạo thường dùng
• Khối bê tông đơn có kích thước (0,4x0,32x0,09)m
• Trọng lượng 1m
P
2
+ Ưu điểm:
• Thích hợp với nền mềm yếu do phân bố lực đều, có khả năng tự điều
chỉnh mái dần tới phẳng.
• Trải liên tục từ dưới lên trên.
• Che kín nền, có khả năng tự dàn trải, trong quá trình bơm xi măng - cát
có áp suất lớn vào túi.
+ Nhược điểm:
• Công nghệ thi công phức tạp, giá thành đắt,tốn vật tư
• Tuổi thọ công trình không cao (Thảm bị mục nát sau thời gian và bị tan
ra)
- Gia cố mái bằng trồng cỏ, cây (tràm, đước, tre)
Hệ thống kè bảo vệ mái dốc theo hình thức vật liệu chia ra:
Luận văn thạc sĩ - 23- Chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ
Học viên: Nguyễn Tiến Thương Lớp: 17C2
- Kè cứng (Đá xếp, đá thả, đá xây, rọ đá, rồng đá, bê tông)
áp dụng bảo vệ cho các công trình quan trọng, quy hoạch các cảnh quan đô
thị phát triển du lịch dịch vụ và các công trình có mặt bằng nhỏ hẹp, việc vận
chuyển và thu mua vật liệu thuận lợi.
- Kè mềm (Cụm cây, cỏ Vectiver): thường áp dụng bảo vệ cho các công
trình thấp hơn và trên quy mô rộng, tiết kiệm kinh phí, cải tạo môi trường (Kè sinh
thái)
Ngoài ra, trong kè chia ra kết cấu chân kè
- Chân kè nông (Kết cấu kiểu bệ nổi, Kết cấu kiểu bệ chìm, kết cấu kiểu mố
đỡ)
- Chân kè sâu (Chân khay bằng cọc gỗ, cọc bê tông cốt thép, cừ bê tông cốt
thép dự ứng lực, chân khay bằng ống buy)
- Chân kè kiểu kết hợp: Trong trường hợp cụ thể để phù hợp với từng vị trí
xây dựng có thể kết hợp chân kè bệ chìm và cọc gỗ, chân kè bệ nổi và cọc bê tông
cốt thép.
H×nh 1.5: Kè lát mái
+ Đập mỏ hàn: là loại công trình có hướng theo hướng ngang với dòng chảy,
gốc nối vào bờ, đâu vươn ra sông. Mỏ hàn có tác dụng đẩy dòng chủ lưu của dòng