Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng và phân bón đến sinh trưởng của một số cây đô thị ở giai đoạn vườn ươm - Pdf 22

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành khóa học 2007 – 2011 và nâng cao kết quả cho sinh viên
tốt nghiệp ra trường, gắn liền kiến thức lý luận với thực tiễn sản xuất. Được
sự đồng ý của bộ môn Lâm sinh - khoa Lâm học - Trường đại học Lâm
Nghiệp và thầy giáo TS. Đỗ Anh Tuân tôi đã thực hiện đề tài tốt nghiệp:
“ Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng và phân bón đến sinh
trưởng của một số cây đô thị ở giai đoạn vườn ươm”.
Trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp tôi đã được sự giúp đỡ tận
tình của thầy giáo TS. Đỗ Anh Tuân và các thầy cô giáo trong bộ môn Lâm
sinh cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần giống Lâm nghiệp
vùng Bắc Bộ.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Đỗ
Anh Tuân, các thầy cô giáo trong bộ môn Lâm sinh cùng toàn thể cán bộ
công nhân viên Công ty cổ phần giống Lâm nghiệp vùng Bắc Bộ.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian ngắn và năng lực bản
thân còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận
được sự góp ý của các thầy, cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Mai, ngày 18 tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Phùng Thị Chung
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Tên bảng Trang
4.1
Kết quả chiều cao trung bình của cây Sấu dưới các
cấp che bóng
29
4.2
Kết quả đường kính gốc trung bình của cây Sấu dưới
các cấp che bóng
31

P
10
K
3
47
4.8
Kết quả đường kính trung bình của Lát hoa dưới các
công thức tưới thúc N
5
P
10
K
3
49
4.9
Tỷ lệ cây sống, cây chết của Sấu dưới các cấp che
bóng giai đoạn 6 tháng tuổi
53
4.10
Tỷ lệ cây sống, cây chết của Lát hoa dưới các cấp
che bóng giai đoạn 6 tháng tuổi
54
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình Tên hình Trang
2
4.1
Biểu đồ sinh trưởng chiều cao của cây Sấu dưới
các cấp che bóng
34
4.2

Biểu đồ chiều cao trung bình của Lát hoa dưới các
công thức tưới thúc N
5
P
10
K
3
52
4.8
Biểu đồ đường kính trung bình của Lát hoa dưới
các công thức tưới thúc N
5
P
10
K
3
52
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
CT: Công thức
CTTN: Công thức thí nghiệm
3
CTĐC: Công thức đối chứng
TB: Trung bình
Hvn: Chiều cao vút ngọn (cm)
Doo: Đường kính gốc (mm)
∑ : Tổng
PE: Polyetylen
STT: Số thứ tự
Ha: hecta
ĐẶT VẤN ĐỀ

nhiên hơn nữa, tỷ lệ này đặc biệt thấp tại các vùng trung du miền núi phía Bắc
và Tây Nguyên. Tại Biên Hòa (Đồng Nai) – thành phố công nghiệp lâu đời và
lớn nhất Đông Nam bộ, tỷ lệ cây xanh đạt chưa đầy 1m
2
/ người [15].
Với những đặc điểm của đô thị mà cây con đem trồng tại các đô thị
phải là những cây sinh trưởng tốt, chịu được điều kiện khắc nghiệt của môi
trường đô thị. Cây đô thị là những cây lâu năm nên vườn ươm chỉ là một giai
đoạn ngắn trong đời sống của cây nhưng nó quyết định đến chất lượng cây
xanh đem trồng. Do đó, việc xác định những biện pháp kỹ thuật giai đoạn này
là rất quan trọng. Trong các biện pháp kỹ thuật ở giai đoạn vườn ươm thì việc
tìm ra công thức che bóng và phân bón phù hợp nhất cho từng loài cây làm cơ
5
sở cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật sản xuất cây con là một việc rất
cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng và phân bón đến
sinh trưởng của một số cây đô thị ở giai đoạn vườn ươm” để góp phần làm
sáng tỏ được nhu cầu về ánh sáng và phân bón của một số cây đô thị ở giai
đoạn vườn ươm.
6
Phần I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới
 Nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đến thực vật
Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống của thực vật.
Nó có ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của thực vật, từ khi hạt nảy mầm, sinh
trưởng, phát triển cho đến khi cây ra hoa kết quả rồi chết.
Theo Kimmins (1988) khi bị che bóng thì hệ số có lá (sản lượng thuần/
đơn vị khối lượng lá (kg) hoặc sản lượng thuần/ diện tích lá sẽ giảm vì rằng
khối lượng lá hoặc diện tích lá không quang hợp được sẽ tăng lên [10].

Giáo sư Ratner cho rằng để nhận được sản lượng theo dự kiến trong
việc sử dụng định hướng và tiết kiệm hơn nguồn phân bón. Một mặt nhằm
thỏa mãn nhu cầu thay đổi của cây về dinh dưỡng trong các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau của chúng. Mặt khác phải sử dụng hợp lý độ phì tự nhiên
của đất [9].
Lodinski, Zipi,1975 cho biết trong các thí nghiệm dinh dưỡng trên các
đất cát có bón P, K hoặc N, P, K thì
3
1
lượng nitơ cây hút được là thuộc về
phân bón và
3
2
thuộc về nitơ. Cây đã sử dụng ¼ lượng nitơ bón vào. Tuy
nhiên, cây chỉ đồng hóa được chất dinh dưỡng nằm trong đất hoặc đưa vào
đất cùng phân bón trong dạng hợp chất dễ tan (Mikhailov, Kniper, 1971) [9].
Viện sĩ Prianiskov (theo Jurbitxki, 1963) đã nhấn mạnh việc sử dụng
phân bón có thể chỉ trong sự phối hợp rất sâu sắc các phân bón với hóa học
đất và sinh lí thực vật [9].
1.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
 Nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đến thực vật
Ánh sáng là yếu tố vô cùng quan trọng cho sự sinh trưởng của
thực vật. Vì nó rất cần cho quá trình quang hợp. Nhờ quá trình quang
8
hợp mà cây tổng hợp các hợp chất hữu cơ làm nguyên liệu để xây dựng nên
cơ thể và tích lũy năng lượng ở trong cây để tiến hành sinh trưởng. Cho nên
trong một khoảng thời gian nào đó như ngày râm mát, những ngày mưa hay
ban đêm không có ánh sáng cây vẫn sinh trưởng được. Nhưng trong suốt chu
kỳ sống của cây thì cần rất nhiều ánh sáng. Tùy theo nhu cầu ánh sáng mà
người ta chia thực vật thành hai nhóm là cây ưa sáng và cây ưa bóng [13].

luận: bón phân khoáng tỷ lệ N : P : K là 40 : 80 : 40 kg/ ha hoặc có thể là 40 :
80 : 0 kg/ ha thích hợp với cây ươm Thông nhựa 1 năm tuổi (với đất có thành
phần lý hóa tính phù hợp) [9].
Nguyễn Minh Đường, 1986 khi nghiên cứu chế độ phân bón cho một
số loài đã kết luận: cây sử dụng chất dinh dưỡng, nước trong đất thông qua hệ
rễ, mức độ yêu cầu về số lượng, chủng loại không giống nhau mà phụ thuộc
vào loài cây và thời kỳ sinh trưởng [6].
Theo Lê Văn Khoa và cộng sự (1996), cây trồng hút dinh dưỡng trong
phân chuồng hữu cơ chậm hơn phân khoáng. Nhưng nếu chỉ nhìn trước mắt
thì thấy phân khoáng tham gia vào năng suất cây trồng nhiều hơn còn phân
chuồng thì cung cấp chất dinh dưỡng cho cây và cung cấp trong thời gian dài,
tổng số chất dinh dưỡng mà phân chuồng cung cấp cho cây trồng là rất lớn
[6].
Công trình nghiên cứu của Hoàng Công Dũng (1996) thử nghiệm về
bón lót các loại phân hữu cơ và vô cơ với các tỷ lệ khác nhau cho cây Bần
chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engler) ở giai đoạn vườn ươm: 1 – 2 – 4 -
6% tính theo khối lượng Bần chua và sử dụng công thức đối chứng là toàn đất
để so sánh. Công trình đã rút ra kết luận sau: ở các công thức ruột bầu có tỷ lệ
lân 2 - 4% và công thức có 1 - 2% phân bón cây sinh trưởng tốt nhất về cả
chiều cao, đường kính cũng như sinh khối của cây [6].
Phạm Thị Quyên, 2003 đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức
phân bón đến sinh trưởng rừng Luồng (Dendrocalamus membranaceus
10
Munro), đưa ra biện pháp có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển của
rừng Luồng.
Nguyễn Đức Định (1997) với đề tài thạc sĩ khoa học “ Nghiên cứu ảnh
hưởng của tỷ lệ che bóng, thành phần ruột bầu của cây Xoan mộc (Toona
sureni (Bl.) Merr) trong giai đoạn vườn ươm ở Đak Lak” đã đưa ra được công
thức thành phần ruột bầu thích hợp nhất cho loài cây này là: 87% đất +10%
phân chuồng + 3% NPK [3].

- Thu hái và chế biến hạt giống:
Hạt giống được lấy ở những cây Sấu từ 7 – 10 năm tuổi cho năng suất
cao, ổn định, cây mẹ sinh trưởng tốt, cân đối, không bị sâu bệnh.
Quả sau khi thu về loại bỏ những quả kém phẩm chất sau đó ngâm hạt
trong nước sạch khoảng 5 – 7 ngày cho đến khi thối rữa hết thịt quả. Dùng rổ
tre thưa và cát khô chà hết phần thịt quả, hong khô hạt trong bóng râm.
Hạt chế biến xong cần bảo quản trong cát ẩm từ 5 – 8% hoặc bảo quản
trong tủ lạnh có nhiệt độ ổn định khoảng 5
o
C [15].
- Tạo bầu:
Vỏ bầu được làm bằng PE màu trắng đục hay đen, bảo đảm độ bền khi
đóng bầu và vận chuyển không bị rách. Kích thước bầu 9 x 14cm, không đáy
đục lỗ xung quanh để ươm cây 6 – 7 tháng và 12 x 18cm có đáy nhưng cắt
góc đục lỗ xung quanh cho cây ươm trong vườn 15 – 16 tháng.
Thành phần ruột bầu: gồm đất tầng A dưới tán rừng 90%, phân chuồng
hoai 9% và Supe lân Lâm Thao 1%. Ba phần được trộn đều với nhau.
Bầu được đóng đầy, chặt sau đó xếp thành luống rộng 0,8 – 1m, dài 5 –
10m. Các luống bầu đặt cách nhau 50 – 60cm để thuận tiện cho việc đi lại
chăm sóc cây con. Xung quanh luống bầu đắp đất cao bằng
3
2
bầu, rải đất
bột vào khe hở giữa các bầu.
- Gieo ươm:
12
Xử lý hạt giống: ngâm hạt trong nước nóng khoảng 54
o
C trong 5 – 10
phút để khử nấm bệnh và kích thích hạt nảy mầm. Tiếp tục ngâm nước lạnh từ

Hoa tự xim viên chùy ở đầu cành. Hoa lưỡng tính cánh tràng màu vàng
nhạt hơi phớt tím.
Quả nang hóa gỗ hình trái xoan, khi chín màu nâu đen. Hạt dẹt hình
quạt có cánh mỏng, xếp chồng chất ngang trong từng ô của quả.
Là cây gỗ quý có giác lõi gần giống nhau, giác màu hồng nhạt, óng
ánh, gỗ màu nâu đỏ có ánh hồng vân đẹp, thớ mịn ít co dãn. Ít cong vênh
không bị mối mọt.
Lát hoa là cây ưa sáng, sống lâu, lúc nhỏ sinh trưởng nhanh từ 10 tuổi
trở đi sinh trưởng chậm hơn [8].
Lát hoa có vùng phân bố tương đối rộng, từ vùng đồi thấp, đất sâu, ẩm
ven khe đến vùng núi cao, có đá vôi trong rừng ẩm thứ sinh lá rộng nhiệt đới
thường mọc hỗn giao với loài khác. Lát hoa ưa đất ẩm, tơi xốp, nhiều mùn.
Mọc tốt trên đất Feralit phát triển trên đá mẹ Granit, đá vôi [14].
- Thu hái và chế biến hạt giống:
Hạt giống được lấy từ những lâm phần từ 10 tuổi trở nên thời gian thu
hái tốt nhất là lúc lâm phần có 5 – 10% số cây quả nứt, phải thu hái trước khi
hạt phát tán.
Quả sau khi thu hái về phải ủ 2 – 3 ngày. Đống ủ cao không quá 50cm
và phải để nơi thông gió. Mỗi ngày phải đảo 1 lần.
Khi quả chín có hiện tượng tự tách. Hạt phơi 2 – 3 nắng thì khô có thể
đem gieo hoặc đem bảo quản.
Hạt phơi khô được bảo quản trong chum lọ có nút đậy kín để nơi khô
ráo thoáng mát.
- Tạo bầu:
Vỏ bầu bằng PE có kích thước 8 x 12cm. Bầu không đáy, không nên
dùng bầu có đáy hoặc cắt góc đáy.
14
Thành phần hỗn hợp ruột bầu: gồm 89% đất tầng A dưới tán rừng + 10
% phân chuồng ủ hoai +1% Supe lân (Supe lân phải có hàm lượng P
2

2
.
Sau khi gieo tiến hành lấp đất, lớp đất phủ có độ dày từ 0,4 - 0,5cm.
Sau đó phủ rơm rạ trên mặt luống. Rơm rạ để phủ cần được khử trùng. Tưới
6lít/ 10m
2
.
Khi cây được 15 - 20 ngày tuổi tiến hành cấy cây. Chọn cây mầm khỏe
mạnh, có chiều cao 1 - 1,5cm để cấy. Chỉ tiến hành cấy cây khi trời râm mát
hoặc mưa nhẹ, tránh những ngày nắng gắt, gió mùa Đông bắc. Trước hôm cấy
cần tưới đất ướt đều, cứ 1m
2
tưới 4 - 6 lít nước.
15
Cây mầm sau khi nhổ cần nhúng luôn vào bát nước để tránh khô rễ
mầm. Cấy đến đâu nhổ đến đấy. Loại bỏ những cây xấu. Dùng que nhọn chọc
1 lỗ sâu 1- 2cm ở giữa bầu, hướng cây mầm sao cho cổ rễ ngang mặt bầu và
dùng que ép chặt đất rễ mầm. Trường hợp rễ cây mầm quá dài, có thể cắt bớt,
nhưng tránh gây dập nát.
Sau khi cấy xong, tiến hành làm giàn che hoặc cắm ràng ràng che mặt
luống và tưới nước cho cây, 1 kg ràng ràng có thể cắm che được 1m
2
. (Che
phủ 80 - 90% mặt luống).
- Chăm sóc cây con:
Hàng ngày phải tưới nước giữ độ ẩm cho cây sau khi gieo hoặc cấy cây
con. Khi hạt mọc dỡ bỏ rơm rạ phủ mặt luống và cắm ràng ràng che bóng. Từ
thời gian hạt chưa bỏ mũ thường xuyên tưới mỗi ngày ít nhất 1 lần vào buổi
sáng sớm hoặc buổi chiều. Lượng nước tưới 2 - 4lít/ 1m
2

ty Cổ phần giống Lâm nghiệp vùng Bắc bộ thuộc Tổng công ty Lâm nghiệp
Việt Nam.
2.3. Nội dung nghiên cứu
-Tìm hiểu một số biện pháp kỹ thuật trong gieo ươm cây Sấu và cây
Lát hoa.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến sinh trưởng của
cây Sấu và cây Lát hoa giai đoạn 6 tháng tuổi.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới thúc N
5
P
10
K
3
đến sinh trưởng
của cây Sấu và cây Lát hoa giai đoạn 6 tháng tuổi.
18
- Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến tỷ lệ cây sống, cây
chết của cây Sấu và cây Lát hoa giai đoạn 6 tháng tuổi.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng cây con.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu
Đề tài kế thừa có chọn lọc các tài liệu về:
- Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu.
- Các kết quả nghiên cứu trước đó về đặc điểm sinh thái và kỹ thuật
gieo ươm hai loài cây trên.
2.4.2. Phương pháp ngoại nghiệp
Các thí nghiệm được bố trí tại vườn ươm của Công ty Cổ phần giống
Lâm nghiệp vùng Bắc Bộ.
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên 3 lần lặp lại. Mỗi
khối tương ứng với mỗi lần lặp lại, trên khối bố trí đầy đủ các công thức theo

10
K
3
(công thức đối chứng )
CT 2 : Tưới 0,5% N
5
P
10
K
3
CT 3 : Tưới 1% N
5
P
10
K
3
CT 4 : Tưới 1,5% N
5
P
10
K
3
Sau khi tưới thúc xong dùng nước sạch tưới rửa lá.
2.4.2.3.Phương pháp thu thập số liệu
- Điều tra ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến sinh trưởng của cây
con giai đoạn vườn ươm:
Định kì 15 ngày tiến hành đo các chỉ tiêu sinh trưởng của tất cả những
cây có trong các công thức thí nghiệm.
Đường kính gốc (D
00

(cm)
Doo
(mm)
1
2
3


- Điều tra tỷ lệ cây sống, cây chết: Trong quá trình đo các chỉ tiêu sinh
trưởng của cây con kết hợp xác định tỷ lệ (%) cây sống, cây chết bằng cách
đếm số cây chết của mỗi lần lặp lại và tính tổng cho mỗi công thức.
Kết quả điều tra được ghi vào mẫu biểu:
Biểu 02: BIỂU THEO DÕI TỶ LỆ CÂY SỐNG, CÂY CHẾT CỦA
CÂY CON GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM:
Khối:…… … Tuổi:……….
Loài cây:…
Công thức Cấp che bóng
Cấp I Cấp II Cấp III Cấp IV
Số cây sống
Số cây chết

- Điều tra ảnh hưởng của phân bón đến cây con
Định kì 15 ngày sau khi tưới thúc tiến hành đo các chỉ tiêu sinh trưởng:
H
vn
(cm), D
00
(mm) của tất cả các cây có trong các CTTN.
21
Số liệu điều tra được ghi vào mẫu biễu sau:

(mm)
1
2
3

2.4.3. Phương pháp nội nghiệp
* Chỉ tiêu sinh trưởng về chiều cao (H
vn
), đường kính gốc (D
00
) thu thập
ngoại nghiệp được chỉnh lý bằng phần mềm Excel và tính các đặc trưng mẫu
theo phương pháp bình quân gia quyền.
- Giá trị trung bình:

X
=
n
FiXi
m
i

=1
Trong đó:
m: số tổ (m = 5lg n )
n: dung lượng mẫu
Fi: tần số quan sát
- Sai tiêu chuẩn:
S =
1−n

* Áp dụng phương pháp phân tích phương sai 2 nhân tố một lần lặp để
kiểm tra ảnh hưởng của mức độ che bóng và phân bón đến sinh trưởng của
cây Sấu và cây Lát hoa ở giai đoạn vườn ươm.
B
A
Cấp của nhân tố tác động B
1 2 … j … b
Các 1 X
11
X
12
… X
1j
… X
1b
S
1(A)
X
1
(A)
2 X
21
X
22
… X
2j
… X
2b
S
1(A)

(A)
S
j(B)
S
1(B)
S
2(B)
… S
j(B)
… S
b(B)
X
j
X
1
X
2

X
j

X
b
Trong đó:
A: nhân tố phân khối thí nghiệm
B: nhân tố ánh sáng (hoặc phân bón)
S
i(A)
: tổng các giá trị quan sát ở cấp thứ i của nhân tố A
S


=
a
i
ASi
1
)(
=

=
b
j
BSj
1
)(
=
∑∑
= =
a
i
b
j
Xij
1 1

X
=
ab
S
C =

2
)(
1
- C
Biến động do nhân tố B (nhân tố ánh sáng hoặc phân bón):
V
B
=

=
b
j
BjS
a
1
2
)(
1
- C
Biến động ngẫu nhiên:
V
N
= V
T
– (V
A
+ V
B
)
- Kiểm tra ảnh hưởng của nhân tố tác động và việc phân khối đến kết

: Kết luận việc phân khối chưa ảnh hưởng rõ rệt đến sinh
trưởng của cây con.
Nếu F
A
> F
05
: Kết luận việc phân khối ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng
của cây con.
+ Với nhân tố (ánh sáng hoặc phân bón)
F
B
=
( )
N
B
V
V
a 1−
Tra bảng xác định F
05
với bậc tự do: k
1
= b -1, k
2
= (a-1)(b-1). So sánh F
B
với F
05
tra bảng:
24

21
2max1max
11
nnbn
V
XX
N
Với n
1,
n
2
: là dung lượng mẫu ứng với công thức thí nghiệm có trị số
trung bình lớn thứ nhất và lớn thứ hai.
X
max1
,
X
max2
: cặp trị số trung bình lớn thứ nhất và lớn thứ hai.
Tra bảng xác định t
05
với bậc tự do k = n- b. So sánh t với t
05
tra bảng.
Nếu t ≤ t
05
: Kết luận chưa có sự sai khác giữa 2 công thức. Do đó có thể
sử dụng 1 trong 2 công thức.
Nếu t > t
05


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status