LỜI MỞ ĐẦU
Sốc văn hoá là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ sự lo lắng và những cảm
xúc (như ngạc nhiên, mất phương hướng, bối rối, v.v ) mà một người cảm thấy khi
phải hoạt động trong một nền văn hóa hay môi trường xã hội hoàn toàn khác. Tùy
vào mỗi người, tùy thuộc môi trường mà quá trình trên sẽ rất ngắn hoặc đôi khi kéo
dài, tạo ra những khó khăn trong việc hòa nhập vào nền văn hóa mới.
Sự khác biệt văn hóa khiến nhà quản trị (NQT) có thể đối mặt với hiện tượng
“sốc văn hóa”, gồm 4 giai đoạn cơ bản: Thời kỳ trăng mật; Thời kỳ khủng hoảng;
Thời kỳ phục hồi; Thời kỳ tái trăng mật. Mỗi người có một tốc độ thích nghi khác
nhau nên các giai đoạn trên cũng kéo dài hay thu hẹp tùy vào trường hợp khác
nhau. Sốc văn hóa là điều không thể tránh, thế nhưng, những cú sốc này lại là yếu
tố quan trọng và cần thiết để NQT kết nối các giá trị văn hóa của bản thân và điều
chỉnh chúng cho phù hợp với những giá trị văn hóa mới. Sốc văn hóa được xem là
bước đầu của sự hòa nhập. Vậy, đặc điểm của 4 giai đoạn trên là gì? Biểu hiện của
NQT ở mỗi giai đoạn ra sao? Nguyên nhân dẫn đến “sốc văn hóa” và giải pháp
khắc phục như thế nào? Hãy cùng nhóm 10 chúng tôi tìm hiểu hiện tượng này qua
đề tài nghiên cứu “Hiện tượng sốc văn hóa gồm 4 giai đoạn của nhà quản trị”.
I. LÝ THUYẾT CHUNG
1.1. Văn hóa, sốc, sốc văn hóa
a. Văn hóa.
Văn hóa: Là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau,
liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
- Hiểu theo nghĩa hẹp:
Văn hóa là hệ tư tưởng các hệ thống và các thể chế đi cùng với nó như văn học,
nghệ thuật, khoa học, triết học, đạo đức học
- Hiểu theo nghĩa rộng:
Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các
cộng đồng trong quá khứ, hiện tại qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình
thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và cách thể hiện, đó là những yếu tố
xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc. ( UNESCO 1986)
Văn hóa là tổng thể nói chung giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo ra
Kết quả của sốc văn hóa dường như là một chức năng của sự khác biệt giữa
mình và văn hóa nước ngoài về nhiều mặt: Khí hậu, thực phẩm, ngôn ngữ, trang
phục, ứng xử, các giá trị khác… và cả sự khác biệt liên quan đến nhân khẩu học
(tuổi tác, giới tính, tầng lớp kinh tế - xã hội, giáo dục…)
Khí hậu.
Khí hậu là yếu tố khác biệt dễ dàng nhận thấy và có thể có ảnh hưởng tốt
hoặc không tốt đến NQT.
Ví dụ: NQT người Việt Nam đến Ottawa (Canada) công tác vào mùa đông
chắc chắn sẽ mất 1 thời gian khá dài để thích nghi với khí hậu nơi đây, vì nơi này
mùa đông rất lạnh, có khi nhiệt độ xuống 37°C. Nhưng khi đã quen với cái lạnh,
NQT có thể thử nghiệm những môn thể thao mà ở Việt Nam không có như hockey
trên băng, hay trốn mình trong băng ở kênh đào Rideau, di sản thế giới UNESCO
đầu tiên của Ontario - kênh đào chảy quanh co qua thành phố và là sân trượt băng
tự nhiên vào mùa đông lớn nhất thế giới…để có thể hiểu thêm một chút về đất nước
nơi mình đến và thêm yêu quý nơi đó.
Thực phẩm.
NQT có thể thấy thức ăn của nước ngoài thật là kì cục, khẩu vị khác, cách
nấu nướng cũng khác. Có thể một số người không ăn được thức ăn lạ, hoặc ăn
không ngon miệng, ảnh hưởng tới cả sức khỏe và tinh thần.
Ngôn ngữ.
Lúc nào cũng nghe và nói bằng ngoại ngữ dễ khiến NQT căng thẳng. NQT sẽ
cảm thấy nhớ tiếng nước mình. Thậm chí ngay cả khi NQT rất thành thạo ngoại ngữ
nơi mình đến, thì cái ngữ điệu, cái cách nói của dân địa phương nơi NQT đến cũng
làm họ phải mất thời gian mới nghe quen tai được.
Quần áo.
Nếu quen với khí hậu nóng nực rồi, NQT có thể sẽ thấy bất tiện khi phải mặc
những bộ quần áo nặng nề của mùa đông. Hay đôi khi, chỉ vì có phong cách ăn mặc
khác nước sở tại mà NQT thấy mình khác biệt và khó thích nghi. Không phải ai
cũng ghét cách ăn mặc của người nước ngoài, nhưng bản thân NQT sẽ dễ cảm thấy
ngượng ngùng, ngại ngập khi mình ăn mặc khác.
Chưa có những hành trang cần thiết: Ngôn ngữ, các kỹ năng và sự thân thiện
là hành trang cần thiết cho một NQT khi đến một nền văn hóa mới. Sẽ khó khăn
cho NQT khi không thông thuộc ngôn ngữ chung hoặc ngôn ngữ bản địa, nhất là
giao tiếp với bạn bè, các nhân viên và các nhà quản trị khác.
Ví dụ, quản lý người Mỹ La tinh trong một Nhóm tư vấn đa văn hoá từng than
thở “Nhiều lúc tôi cảm thấy do khác biệt về ngôn ngữ nên tôi không thể diễn tả
đúng cảm giác của mình.”
Chưa có sự chuẩn bị các giải pháp nếu gặp khó khăn: Trong mọi trường
hợp, mọi vấn đề; sự nghiên cứu, tìm hiểu và chuẩn bị các giải pháp luôn là điều
cần thiết, đặc biệt đối với NQT. Biết rõ những điều mình còn thiếu sót và những
khó khăn có thể gặp phải và chuẩn bị những giải pháp khắc phục khó khăn đó
sẽ giúp NQT tránh khỏi hoặc nhanh chóng vượt qua cú “sốc văn hóa” và thực
hiện tốt công việc của mình.
Suy nghĩ tiêu cực: Đôi khi những suy nghĩ tiêu cực là mình không thể thích ứng
được với nền văn hóa mới này dẫn đến sốc văn hóa. Đối với các NQT, việc chủ
động và suy nghĩ tích cực càng quan trọng vì NQT điều hành một nhóm, một bộ
phận hay cả doanh nghiệp và có ảnh hưởng rất lớn các nhân viên, người lao
động và đến kết quả của hoạt động kinh doanh của tổ chức.
Sống khép kín không muốn giao lưu, kết bạn: Kết bạn là việc vô cùng quan
trọng không chỉ ở nước mình mà cả khi sang nước bạn. Điều này giúp NQT
nhanh hòa nhập hơn với môi trường mới.
II. 4 GIAI ĐOẠN “SỐC VĂN HÓA” CỦA NHÀ QUẢN TRỊ.
2.1. Thời kỳ trăng mật.
2.1.1. Định nghĩa và các biểu hiện của NQT
Định nghĩa: Thời kì trăng mật là giai đoạn đầu tiên khi nhà quản trị chuyển
sang sinh sống và làm việc trong một môi trường mới, một nền văn hóa mới. Lúc
này họ chỉ tiếp xúc đơn giản, được chào đón, giao tiếp lịch sự, khách sáo. Họ đặt
nhiều kì vọng, lạc quan và thích thú với môi trường làm việc mới.
Các biểu hiện của NQT: Vui vẻ, thích thú, phấn khích với những điều mới
lạ và kì thú xung quanh. Tìm hiểu và khám phá môi trường hoàn toàn mới, gặp gỡ
này, ở đây tôi được tận mắt thấy những bông hoa anh đào đẹp tuyệt vời, lại được đi
tàu điện ngầm nữa. Không khí ở đây cũng rất mới mẻ đối với tôi, đường đi rất
nhiều tuyết, cảm giác thật phấn khích.”
Ví dụ 3:
Quản lý người Việt làm việc tại Honda: “Tôi mới đến đây làm việc được 1
tuần nhưng chưa đi thăm quan được nhiều. Tôi rất muốn đến những thành phố lớn
của Nhật Bản như Tokyo, Osaka, Nagoya, Komatsu hay Fukuoka… Ngoài việc bị
ấn tượng với hệ thống tàu điện ngầm, tàu cao tốc, hệ thống đường xá hiện đại bậc
nhất thế giới, tôi còn bị bất ngờ với sự phổ biến của một loại phương tiện rất gần
gũi với người Việt, đó là xe đạp. Bạn chỉ mất khoảng 15 phút để đi đến các ga xe
lửa, và hầu hết tại các trạm xe lửa thường có các bãi đậu xe lớn dành riêng cho xe
đạp. Các nhân viên công sở hằng ngày có thói quen đạp xe từ nhà đến nhà ga rồi đi
tiếp chặng tàu điện đến công ty. Điều này làm tôi dặc biệt thích thú và tôi cũng sẽ
mua một chiếc xe đạp và làm như họ.”
Trong thời kỳ này con người cảm thấy thích thú với những điều mới mẻ và
có cảm giác hưng phấn.Mọi việc mà nhà quản trị làm đều cảm thấy thú vị như việc
anh ta muốn thử các món ăn mới hay đi các phương tiện như người sở tại…
2.1.3. Kết quả
Giai đoạn trăng mật là giai đoạn “ngọt ngào” mà nhà quản trị vẫn luôn giữ
được niềm tin và kỳ vọng vào môi trường mới. Tuy nhiên kết thúc giai đoạn này
cũng là lúc họ bắt đầu gặp phải những khó khăn và rắc rối khi phải đối mặt với thực
tế không giống như suy nghĩ của họ. Có thể nói, kết thúc của giai đoạn này là một
sự chuyển dịch trong cảm xúc và suy nghĩ của nhà quản trị. Họ dần dần nhận ra và
bắt đầu lạ lẫm với những rào cản trong văn hóa, ứng xử cũng như cách thức làm
việc.
2.2. Thời kỳ khủng hoảng.
2.2.1. Định nghĩa và các biểu hiện của nhà quản trị
Định nghĩa: Thời kì khủng hoảng là giai đoạn thứ hai, nó diễn ra sau thời kì
trăng mật và đánh dấu một điểm rơi trong chuỗi phản ứng của nhà quản trị với môi
trường mới. Giai đoạn này khởi đầu với những sự ngạc nhiên, rối loạn, lo âu, khó
_ Tự thương hại.
_ Giận dữ và mất lòng tin đối với các thành viên của xã hội.
_ Lo lắng về sức khỏe.
_ Căng thẳng lâu dài và đau khổ.
_ Sợ mình bị lừa dối.
_ Phun trào cơn thịnh nộ xuất hiện thường xuyên.
_ Giảm tự tin do thiếu khả năng kinh nghiệm để đối phó trong
văn hóa ngoài nước.
_ Thiếu quyết đoán vì sự khác biệt trong văn hóa của mình và
của người khác.
_ Bất lực và trầm cảm, các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày
dường như khồn thể giải quyết.
Hành vi
_ Thâm hụt hiệu suất.
_ Tách biệt khỏi những người xung quanh.
_ Tiêu thụ rượu cao hơn.
_ Từ chối học tập và nói ngôn ngữ nước chủ nhà.
2.2.2. Ví dụ
Ví dụ 1: (Sốc trong môi trường làm việc mới).
Bức thư dưới đây nói về Tom – một người Mỹ làm việc cho một công ty Nhật.
Trước đó Tom chưa bao giờ đến Nhật. “Cú sốc văn hoá” mà Tom đang trải nghiệm
thì phổ biến ở bất cứ công ty tuyển nhân viên nước ngoài nào.
Bố mẹ thân mến,
Con vẫn chưa tin là con đang ở Nhật. Con đến Thành phố NaGoYa mười hai
tiếng sau khi cất cánh từ Los Angeles và được công ty chào đón, Giám đốc và bốn
trưởng phòng cúi đầu chào khi họ đón con nhưng họ giới thiệu tên nhanh quá nên
con không nghe kịp. Nhưng không có trở ngại gì vì sau đó họ đưa cho con danh
thiếp của họ được in bằng cả tiếng Anh và Nhật. Ban đầu họ nói vài câu tiếng Anh
nhưng sau đó thì chuyển qua tiếng Nhật làm cho 1 người học tiếng Nhật sơ sơ như
con không thể theo kịp. Con chỉ có đủ thời gian liếc qua danh thiếp của họ trước khi
muốn chỉ cho con nơi đặt thùng rác để thu gom. Cả hai người đều cảm thấy đôi
chút phấn khích khi hiểu được nhau nhưng cảm giác đó nhanh chóng biến mất khi
con nhận ra khả năng tiếng Nhật của con quá kém. Trong khi tên ga tàu nói tiếng
Anh thì không được tốt và dùng tiếng Nhật làm con không hiểu gì hết.
Ở nhà ga người ta chen lấn đông đúc, so với ở đây thì nhà ga New York khá
yên tĩnh. Anh bạn đồng nghiệp mua xong vé tàu cũng vừa đến, đám đông đổ xô lên
tàu chen lấn con. Cuối cùng con cũng lên được tàu và có một chỗ bên cạnh anh bạn.
Khi con xuống ga, trên tàu đã rất đông rồi, thế mà dòng người ngồi đợi ở sân ga vẫn
chen vào. Họ xô đẩy chen lấn cho đám đông ngày càng chật chội hơn. Khi con nghĩ
là không thể nhét thêm người được nữa, người soát vé vẫn cho thêm người vào, tạo
nên vô số tiếng cằn nhằn trên tàu. Nhân viên soát vé thổi còi, đóng cửa lại và chiếc
tàu quá tải tiến về phía trước. Con cũng không chắc liệu hai chiếc giày của con có
còn đó không.
Khi con vào văn phòng được 10 phút, nơi có rất nhiều nhân viên và giám sát
đang ngồi ở bàn làm việc, con cùng với anh bạn thực hiện một số động tác thư giãn
ở phía bên kia bàn làm việc của con. Sau đó giám đốc nhà máy tiến đến gần con,
chào con bằng tiếng Nhật, xung quanh có rất nhiều nhân viên. Cúi đầu chào con
xong, ông đi ra, còn mọi người lại tập trung nhìn con. Sau vài phút bối rối, vài
người gần con nói với con vài từ bằng tiếng Nhật và họ bảo con phát biểu. Con
cũng phát biểu bằng tiếng Anh, sau đó nói rằng con rất vinh dự được làm việc ở nhà
máy và hi vọng sẽ đóng góp nhiều điều cho nhà máy. Gởi lời cảm ơn tới mọi người
xong, con thở phào nhẹ nhõm khi tất cả đồng nghiệp quay về bàn của họ để tiếp tục
công việc.
Thư đến đây thôi bố mẹ nhé, con sẽ kể tiếp về cuộc sống ở đây cho bố mẹ ở
thư sau.
Yêu bố mẹ
TOM
Phân tích: Những kinh nghiệm của Tom trong tuần đầu ở Nhật làm việc cho
người Nhật cho chúng ta một vài lời gợi ý về sự phức tạp và những thách thức của
thế nào để có thể cải thiện những sự khác biệt đó, luôn luôn trong hoàn cảnh không
đưa ra được quyết định phù hợp cho cả hai bên. Và người thực hiện cũng gặp nhiều
khó khăn. Không khí làm việc trở lên căng thẳng, khó chịu, áp bức và muốn quay
trở lại với nền văn hóa của mình. Mọi hoạt động của nhà quản trị đều có những cản
trở. Sụ mâu thuẫn giữa nhà quản trị và nhân viên ngày càng căng thẳng, dẫn đến
môi trường làm việc cứng nhắc hơn.
2.3. Thời kỳ phục hồi.
2.3.1. Định nghĩa và các biểu hiện của NQT
Định nghĩa:
Khi tất cả những điều của nền văn hóa mới giúp bạn quen dần với cuộc sống
mới và bạn không phải kết thúc bằng cách bỏ về nước hoặc bỏ cuộc thì bạn sẽ bước
sang một giai đoạn mới. Ở giai đoạn này hầu hết các NQT đều hiểu rằng: “À, đó là
vấn đề của mình, và mình phải chấp nhận thôi”. Mọi thứ đều trở nên dễ dàng hơn
và không còn những trạng thái tâm lý gay gắt nữa. Thay vào đó người ta còn hóm
hỉnh hơn và thường bông đùa với chính những khó khăn hay vấn đề của mình.
Các biểu hiện của NQT
Giai đoạn phục hồi của sốc văn hóa, những trở ngại do sự khác biệt văn hóa
giữa các nền văn hóa khác nhau dần được xóa bỏ, con người dễ thích nghi hơn với
hoàn cảnh, dễ chấp nhận với những khác biệt ấy hơn dựa vào kinh nghiệm của bản
thân.
Nhà quản trị hỏi ý kiến và tìm hiểu tâm lý chung của nhân viên để điều chỉnh
ra những quyết định cho phù hợp, được sự đồng tình, ủng hộ của toàn bộ nhân viên.
Từ đó phát huy hiệu quả cao nhất trong việc ra quyết định và công việc. Các nhà
quản trị dễ dàng chấp nhận phong cách làm việc của nhân viên đa văn hóa, nhân
viên cũng dễ dàng thích nghi với phong cách quản trị của nhà quản lý thuộc nền văn
hóa khác. Những khác biệt văn hóa dần dần được hòa hợp với nhau, cải thiện quá
trình hợp tác làm việc, thúc đẩy nâng cao hiệu quả công việc.
2.3.2. Ví dụ
Giai đoạn phục hồi có thể hiểu thông qua biểu hiện: Sự khác nhau và sự
giống nhau giữa các nền văn hóa được chấp nhận. Bạn sẽ cảm thấy thảnh thơi, tự
hoảng nhà quản trị sẽ biết cách thích ứng với môi trường mới và ra quyết định hiệu
quả.
2.3.3. Kết quả.
Kết thúc giai đoạn phục hồi của sốc văn hóa, những trở ngại do sự khác biệt
văn hóa giữa các nền văn hóa khác nhau dần được xóa bỏ, con người dễ thích nghi
hơn với hoàn cảnh, dễ chấp nhận với những khác biệt ấy hơn dựa vào kinh nghiệm
của bản thân. Các nhà quản trị dễ dàng chấp nhận phong cách làm việc của nhân
viên đa văn hóa, nhân viên cũng dễ dàng thích nghi với phong cách quản trị của nhà
quản lý thuộc nền văn hóa khác. Những khác biệt văn hóa dần dần được hòa hợp
với nhau, cải thiện quá trình hợp tác làm việc, thúc đẩy nâng cao hiệu quả công
việc.
2.4. Thời kỳ tái trăng mật.
2.4.1. Định nghĩa và các biểu hiện của NQT
Định nghĩa:
Thời kỳ tái trăng mật là giai đoạn cuối cùng của hiện tượng “sốc văn hóa”. Là
khi NQT đã hoàn toàn thích nghi với môi trường mới và coi đó như là một cách
sống hoàn toàn khác mà họ đã có thể kiểm soát được. Không chỉ điều chỉnh cuộc
sống để thích nghi được với lối sống mới, đồ ăn thức uống mới, phong tục tập quán
mới mà họ có thể yêu thích nó nữa.
Các triệu chứng, phản ứng của thời kỳ tái trăng mật.
Sang giai đoạn cuối cùng của căn bệnh nhà quản trị đã hoàn toàn thích nghi
với môi trường mới và coi đó như là một cách sống hoàn toàn khác mà họ đã có thể
kiểm soát được. Không chỉ điều chỉnh cuộc sống để thích nghi được với lối sống
mới, đồ ăn thức uống mới, phong tục tập quán mới mà bạn có thể yêu thích nó nữa.
Đó là khi mọi phương thuốc đều không cần đến nữa.
Bạn thích nghỉ được với môi trường mới. Những rào cản văn hóa đã hoàn
toàn được xóa bỏ, hơn nữa bạn coi nền văn hóa đó có những điểm tốt, bạn đã hoàn
toàn hòa đồng với nền văn hóa đó, Biết kết hợp những nền văn hóa khác biệt đó và
hoàn toàn xử lý được trong mọi tình huống.
Tạo ra sự thích nghi sự dễ dàng cho nhà quản trị ra những quyết định mới
nghề thấp, ít tự tin. Chúng tôi đã cải tiến giờ giấc làm việc và huấn luyện đội ngũ
nhân viên để thích nghi với các quyết định nhanh chóng. Bây giờ mỗi ngày đi làm
tôi đều thấy rất vui vì công việc không bị trì trệ và hiệu quả tăng cao.
Ví dụ 2:
Sau 2 năm làm Quản lý bán hàng và 3 năm làm Giám đốc Bán hàng cho công
ty bên Nhật, ông Nam đã có những mối quan hệ thân thiết và gắn bó với nhiều đồng
nghiệp cũng như đối tác bên Nhật. Đi đến nhiều nơi thăm thú và thích cái lạnh ở xứ
sở Hoa anh đào. Giao tiếp như người bản ngữ và luôn hoàn thành công việc một
cách tốt nhấ. Tháng 6/2013, ông trở về Việt Nam để làm Giám đốc Kinh doanh cho
một chi nhánh mới mở. Ban đầu là cảm giác tiếc nuối khi phải rời xa đất nước Nhật
Bản, nhớ Hoa anh đào và tàu điện ngầm; sau đó ông thấy vui và hồi hộp khi được
trở về quê hương. Nhưng chỉ sau 1 tháng đầu làm việc, ông thấy bất ngờ và khó
chịu với việc đi làm muộn và về sớm của nhân viên. Ngoài ra, ông còn thấy không
quen với khói bụi và rác thải đầy đường.
2.4.3. Kết quả
Khi đã quen với nền văn hóa mới, sống và thích nghi ở môi trường mới, hiệu
quả công việc tốt hơn và NQT cảm thấy đã thích nghi được với nền văn hóa mới và
có khi còn yêu thích nó nữa. Nhưng đó cũng là lúc mà nguy cơ của một căn bệnh
mới bắt đầu. Lúc này nhà quản trị đã quá quen thuộc với cuộc sống ở đất nước mới
này và khi họ phải rời xa đất nước đó bạn sẽ thấy nhớ nó vô cùng. Quay trở về quê
hương, rất có thể sẽ gặp phải một trạng thái khác, đó là sự sốc văn hóa ngược.
III. Giải pháp.
Từ những đặc điểm của 4 giai đoạn “sốc văn hóa”, biểu hiện của NQT trong
mỗi giai đoạn và nguyên nhân dẫn đến “sốc văn hóa” mà nhóm 10 đã đề cập như
trên, chúng tôi đề xuất quy trình 4 bước để vượt qua “Sốc văn hóa” như sau:
Bước 1: Hãy luôn giữ một góc nhìn khách quan đối với sự khác biệt văn
hóa
Vào những ngày đầu khi mới tìm hiểu và tiếp xúc với môi trường văn
hóa còn lạ lẫm, bạn đừng nên vội vàng đưa ra kết luận rằng những khác biệt văn
hóa bản địa so với bản thân đều có chiều hướng tiêu cực và sai trái. Cách tốt nhất là
quen thường xuyên?
Bước 4: Thiết lập sự cân bằng trong cuộc sống với tinh thần thoải mái và
lạc quan
Hãy đặt ra những lịch trình cụ thể cho chính bạn, việc này sẽ giúp cho bạn tự
chủ trong sinh hoạt hằng ngày. Đừng để sự thay đổi văn hóa kiểm soát cuộc sống và
suy nghĩ của bạn mà bạn nên thay đổi để thích nghi với nó. Không nên quá khó
khăn với bản thân khi phạm sai lầm trong một tình huống giao tiếp nào đó với
người bản xứ, luôn lạc quan và rút kinh nghiệm từ những lần vấp ngã nhé. Với
những du học sinh thì việc cân bằng giữ làm việc và sinh hoạt cũng nên chú ý. “Vùi
đầu” vào công việc mà quên đi việc giải trí cần thiết sẽ khiến cuộc sống của bạn
thiếu mất những gia vị riêng mà bạn chỉ có thể tìm được tại đất nước bản xứ. Tuy
nhiên, chỉ lo khám phá mà quên đi mục đích chính là làm việc sẽ khiến bạn đánh
mất những cơ hội tương lai của mình và làm lãng phí thời gian, công sức và tiền bạc
của bạn đấy. Cân bằng cuộc sống sẽ giúp ích cho bạn nhiều hơn bạn tưởng đấy!
KẾT LUẬN
“Sốc văn hóa” có thể xảy ra với bất kì ai, bất kỳ nhà quản trị nào, dù họ đến từ
môi trường văn hóa nào, dù họ nhiều kinh nghiệm đến mấy, hay thậm chí họ đã đi
công tác nhiều như thế nào. Để tránh khỏi hoặc hạn chế mặt tiêu cực của “sốc văn
hóa” và hoàn thành tốt công việc, nhà quản trị cần có những kỹ năng cần thiết và
chuẩn bị chu đáo cho mỗi chuyến đi đến những nền văn hóa mới của mình.
Do thời gian và năng lực có hạn, nhóm 10 chỉ nghiên cứu đề tài “Hiện tượng
sốc văn hóa (4 giai đoạn) của nhà quản trị” đến đây. Tuy nghiên cứu còn nhiều
thiếu sót, nhưng chúng tôi tin nó có thể giúp bạn – các nhà quản trị tương lai, phần
nào hiểu thêm về hiện tượng “sốc văn hóa” và có cách tránh khỏi hoặc tối thiểu hóa
tác động tiêu cực có thể đến từ những cú “Sốc văn hóa” khi tiếp xúc với các nền
văn hóa khác nhau trên thế giới. Xin cảm ơn!