TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN
Đề tài:
PHÂN TÍCH HỆ THỐNG CUNG ỨNG CỦA
CÔNG TY TNHH NƯỚC GIẢI KHÁT
COCACOLA VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:ThS.Lê Ngọc
Nhóm 5
Lớp: DHQT8BLT
Tp.Hồ Chí Minh-Năm 2013
DANH SÁCH NHÓM 5
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
Họ và tên MSSV
1) Phùng Diệu Phong 12155391
2) Cao Minh Hoàng 12161041
3) Nguyễn Hoàng Duy 12160971
4) Trần Thị Nhung 12163021
5) Phạm Thị Xuân 12162811
6) Nguyễn Hữu Tuấn 12173401
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 2
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
******************
2 .Mục tiêu nghiên cứu:
Biết dùng hệ thống lý luận quản trị cung ứng làm cơ sở cho việc nghiên cứu đánh giá
hoạt động cung ứng của Cocacola Việt Nam.
Nghiên cứu mô hình và đánh giá thực trạng cung ứng tại công ty TNHH nước giải
khát Cocacola Việt Nam.
Phát hiện một đề xuất góp phần nâng cao khả năng cung ứng của Cocacola Việt Nam.
Như vậy nghiên cứu này là một nghiên cứu ứng dụng.
3 .Đối tượng nghiên cứu:
Do còn một số giới hạn về tài liệu nên việc nghiên cứu chỉ xoay quanh vấn đề nghiên
cứu mô hình chuỗi cung ứng của công ty Cocacola (với sản phẩm Coca-Cola) tại Việt
Nam và một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hoạt động cung ứng của công ty.
4 .Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Công ty TNHH nước giải khát Cocacola Việt Nam.
Thời gian: từ 18/3/2013 đến 31/3/2013.
Với những giới hạn trên, nghiên cứu này là một tài liệu tham khảo.
5 .Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tại bàn: để thu thập thông tin thứ cấp từ các nguồn như Internet, báo chí,
tạp chí liên quan tới hàng tiêu dùng, sách,…
Phương pháp phân tích và tổng hợp: từ những thông tin đã thu thập, người viết tiến
hành phân tích những thông tin, chắt lọc những thông tin cần thiết và tổng hợp lại để hoàn
thành bài viết này.
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 5
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
B.PHẦN NỘI DUNG:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm
Chuỗi cung ứng còn gọi là chuỗi nhu cầu hay chuỗi giá trị là một thuật ngữ kinh tế mô
tả đơn giản sự liên kết của nhiều công ty để cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho khách
hàng trên thị trường.
Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến đáp
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
1.3 Tổ chức chuỗi cung ứng:
Cơ cấu tổ chức trực tuyến:
• Mỗi cấp chỉ có một thủ trưởng cấp trên trực tiếp.
• Mối quan hệ được thiết lập chủ yếu theo chiều dọc.
• Công việc quản trị được tiến hành theo tuyến.
Cơ cấu tổ chức theo chức năng:
• Có sự tồn tại của các bộ phận chức năng.
• Không theo tuyến.
• Mỗi cấp dưới có thể có nhiều cấp trên trực tuyến.
Cơ cấu tổ chức trực tuyến-chức năng:
Là hình thức trung gian của hai kiểu tổ chức trên.
Cơ cấu tổ chức kiểu ma trận:
• Cho phép thực hiện cùng lúc nhiều dự án.
• Sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau.
• Tồn tại đồng thời người lãnh đạo theo tuyến và theo dự án.
• Sau khi dự án hoàn thành,những thành viên trở về vị trí cũ.
Ngoài ra còn có tổ chức theo vị trí địa lí,theo sản phẩm,theo khách hàng.
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 7
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH NƯỚC GIẢI
KHÁT COCACOLA
Trải qua hơn 100 năm kể từ ngày thành lập, Coca-cola là công ty xản suất nước giải
khát có gas số 1 trên thế giới. Ngày này tên nước giải khát Cocacola gần như được coi là
một biểu tượng cuả nước Mỹ, không chỉ ở Mỹ mà ở gần 200 nước trên thế giới.
Tập đoàn Coca-Cola được sáng lập từ năm 1982 tại Hoa Kỳ, hoạt động trên 200 quốc
gia trên thế giới. Tại Việt Nam, công ty Coca-Cola hoạt động sản xuất kinh doanh trên 10
năm với những mặt hàng nổi tiếng như: Coca-Cola, Fanta, Sprite, nước cam ép Splash,
nước uống đóng chai Joy, nước tăng lực Samurai, Schweppes, bột giải khát Samurai, bột
Sunfill với các hương Cam, dứa, dâu.
Nước Giải Khát Coca-Cola Chương Dương cũng ra đời do sự liên kết giữa Coca-Cola và
công ty Chương Dương của Việt Nam.
• Tháng 1 năm 1998: Thêm một liên doanh nữa xuất hiện tại miền Trung - Coca-
Cola Non Nước. Đó là quyết định liên doanh cuối cùng của Coca-Cola Đông Dương tại
Việt Nam, được thực hiện do sự hợp tác với Công ty Nước Giải Khát Đà Nẵng.
• Tháng 10 năm 1998: Chính Phủ Việt Nam đã cho phép các Công ty Liên Doanh
trở thành Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các Liên Doanh của Coca-Cola tại Việt
Nam lần lượt thuộc về quyền sở hữu hoàn toàn của Coca-Cola Đông Dương, và sự thay
đổi này đã được thực hiện trước tiên bởi Công ty Coca-Cola Chương Dương – miền Nam.
• Tháng 3 đến tháng 8 năm 1999: Liên doanh tại Đà Nẵng và Hà Nội cũng chuyển
sang hình thức sở hữu tương tự.
• Tháng 6 năm 2001: Do sự cho phép của Chính phủ Việt Nam, ba Công ty Nước
Giải Khát Coca-Cola tại ba miền đã hợp nhất thành một và có chung sự quản lý của Coca-
Cola Việt Nam, đặt trụ sở tại Quận Thủ Đức – Thành Phố Hồ Chí Minh.
• Từ ngày 1 tháng 3 năm 2004: Coca-Cola Việt Nam đã được chuyển giao cho
Sabco, một trong những Tập Đoàn Đóng Chai danh tiếng của Coca-Cola trên thế giới.
Một số sản phẩm của Cocacola Việt Nam:
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 9
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
Coca-cola Việt nam hiện có 3 nhà máy đóng chai trên toàn quốc:Hà Tây-Đà Nẵng-Hồ
Chí Minh vơi tổng vỗi đầu tư trên 163 triệu USD.
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 10
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH HỆ THỐNG CUNG ỨNG CỦA CÔNG
TY TNHH NƯỚC GIẢI KHÁT COCACOLA
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 11
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 12
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
(Mô hình chuỗi cung ứng của công ty Cocacola Việt Nam)
Nguồn cung cấp caffeine của Cocacola: trước kia loại đồ uống này chứa caffein lấy từ
hạt cola, ngày nay cola thường được pha với caffein nhân tạo, hoặc cũng dùng caffein tự
nhiên, như là từ hạt cà phê.
3.1.2 Vật liệu:
Các nguồn cung cấp là:
Công ty Stepan đóng tại bang Illinois là nhà nhập khẩu và chế biến lá côca để dùng
cho sản xuất nước Coke.
Công ty trách nhiệm hữu hạn dynaplast packaging ( Việt Nam ) cung cấp vỏ chai
chất lượng cao cho Cocacola.
Công ty chế biến stepan là công ty chuyên cung cấp lá coca cho công ty Cocacola.
(công ty Stepan chuyên thu mua và chế biến lá coca dùng để sản xuất nước Cocacola).
Công ty cổ phần Biên Hòa với thương hiệu sovi cung cấp các thùng carton hộp giấy
cao cấp để bảo quản và tiêu thụ nội địa cho công ty nước giải khát Cocacola Việt Nam…
3.1.3 Doanh nghiệp trung tâm:
Công ty Cocacola được chia thành 2 bộ phận hoạt động riêng biệt:
TTC(The Cocacola company):chịu trách nhiệm sản xuất và cung cấp nước cốt Cocacola
cho các nhà máy mà chịu trách nhiệm khuếch trương và quảng bá thương hiệu.
TBC(The Cocacola Bottler): Chịu trách nhiệm sản xuất,dự trữ kho bãi,phân phối và cung
cấp dịch vụ sản phẩm cho Cocacola.
Để đáp ứng nhu cầu Cocacola khổng lồ của người tiêu dùng cần phải có một điều kiện
sản xuất tối ưu. Hoàn cảnh đó đã đưa HM Interdrink & Co. KG quyết định lắp dặt dây
chuyền sản xuất mới tại Mannhem năm 1993/94. HM Interdrink cần một giải pháp toàn
phần có thể tối ưu hóa chi phí, tin cậy và sản xuất được nhiều.
PROFIBUS đã thể hiện rất xuất sắc trong suốt 3 năm hoạt động. Vận hành đơn giản,
tin cậy, trong suốt quá trình sản xuất, linh hoạt khi mở rộng hoặc hiệu chỉnh nhà máy, các
tính năng phụ cho phân tích lỗi và cuối cùng chi phí không cao/ chỉ số lợi nhuận là các
yếu tố quyết định
Các hãng tham gia vào phát triển hệ thống:Danfoss,Siemens.
Coca-Cola Việt Nam có 3 nhà máy đóng chai trên toàn quốc: HÀ TÂY - ĐÀ NẴNG -
HỒ CHÍ MINH.
Cocacola.
3.1.5 Bán lẻ:
Là các tổ chức cá nhân bán hàng hóa cho tiêu dùng cá nhân và các hộ gia đình.
Sản phẩm Cocacola được bày bán tại các điểm bán trên khắp cả nước cá siêu thị, các
cửa hàng nhỏ lẻ.Các nhà bán lẻ thực hiện việc phân phối cơ bản.tuy là nhà trung gian
kênh 2 nhưng các nhà bán lẻ vẫn phải chịu sự giám sát từ Cocacola.Họ phải thực hiện
thỏa thuận hoặc cam kết trực tiếp với Cocacola hoặc với các đại lí.
Các nhà bán lẻ là người trực tiếp phân phối hàng hóa tới người tiêu dùng nên họ hiểu
hơn ai hết nhu cầu và thị hiếu của hách hàng.Do đó,Cocacola rất quan tâm tới các nhà bán
lẻ của mình.Cocacola thường xuyên liên kết với các nhà bán lẻ để thực hiện các chương
trình khuyến mãi cho người tiêu dùng.
Trên thế giới cá khoảng 14 triệu điểm phân phối sản phẩm Cocacola và mỗi ngày trên
thế giới có khoảng 1 tỷ suất Cocacola được tiêu thụ. Ở Việt Nam có 3 nhà máy đóng chai
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 15
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
trên toàn quốc và số điểm bán hiện có trên thi trường khoảng 130 000 điểm bán.( năm
2008).
Tại các siêu thị, Sản phẩm Cocacola bao giờ cũng được bày ngang tầm mắt hoặc ngày
trước và giữa hành lang hay ở những nơi bắt mắt nhất. Tất nhiên để có được vị trí ưu thế
như vậy Cocacola cũng phải bỏ ra một hoản chi phí không nhỏ chút nào.
Tại các nhà hàng, quán ăn, quán nước giải khát bạn sẽ thấy sản phẩm Cocacola được
bày bán rộng dãi và phổ biến dể phục vụ nhu cầu của giải khát của người dân.
Các rạp chiếu phim các trung tâm vui chơi giải trí cũng được Cocacola tận dụng tối đa
cho việc phân phối sản phẩm của mình. Và Cocacola thì luôn có một vị trí bày bán bắt
mắt nhất thu hút khách hàng nhất.
Bên cạnh đó thì sự kết hợp tuyệt vời giữa Cocacola với Mc Donald cũng đem lại cho
khách hàng một cảm giác tuyệt vời khi thưởng thức món ăn này. Lợi dụng suy nghĩ của
người tiêu dùng là khi vào các cửa hàng thức ăn nhanh thì họ chỉ tập trung chọn món ăn
chứ không hề quan tâm đến loại nước uống, Cocacola đã phân phối rộng dãi các sản
phẩm của mình tại các nhà hàng Mc Donald và chở thành một thói quen không thể thiếu
vụ việc làm giảm hình ảnh của thương hiệu Coca-cola trong lòng người tiêu dùng. Điển
hình là nghi án trốn thuế. Cocacola là thương hiệu liên tục dẫn đầu trên toàn thế giới. Tuy
nhiên ở Việt Nam thì Cocacola lại có thị phần kém xa Pepsico. Nguyên nhân là dịch vụ
khách hàng ở Việt Nam thật sự chưa tốt.
3.2 Đánh giá chuỗi cung ứng của Cocacola:
3.2.1 Ưu điểm:
a) Cocacola Việt Nam đã xây dựng một chuỗi cung ứng thành công.
Mặc dù vào thị trường Việt Nam sau pepsi nhưng công ty TNHH Cocacola Việt Nam
đã xây dựng rất tốt chuỗi cung ứng của mình.
Điều đó được minh chứng bởi sản lượng tiêu thụ sản phẩm của Cocacola đứng nhất,
nhì trong thị trường giải khát của Việt Nam. Vào Việt Nam với những thiếu thốn về cơ sở
vật chất kỹ thuật cũng như sự nghèo làn lạc hậu nhưng Cocacola VN cũng từng bước
khắc phục khó khăn để phát triển một cách lớn mạnh và chiếm được sự tin yêu của người
tiêu dùng Việt Nam.
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 17
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
Có được thành quả trên nhờ vào sự vận dụng, quản lý tốt của chuỗi cung ứng. Thực
hiện đổi mới một cách đồng bộ, thống nhất. Để có được những chiến lược kinh doanh lâu
dài như vậy đòi hỏi sự ăn ý và hợp tác một cách tối ưu giữa các khâu trong chuỗi cung
ứng như : nhà cung cấp vật liệu, doanh nghiệp , vận chuyển kho bãi, các nhà phân phối
bán buôn bán lẻ…và nhiều yêu tố khác.
b) Nắm bắt, xử lý thông tin một cách nhanh nhạy.
Trong cuộc đấu giữa Cocacola và pepsi để giữ vững được thị phần của mình thì các bộ
phận trong chuỗi cung ứng của coca đã phối hợp rất nhịp nhành để có thể đáp trả lại các
hành động của pepsi trên thị trường.
Để làm được điều này đòi hỏi họ phải thiết lặp mạng lưới thông tin xyên suất chính
xác và nhanh nhạy.
Bắt kịp với thời đại Cocacola Việt Nam cũng đã có những chiêu thức trào bán hàng
trên mạng đáp ứng nhu cầu của các bạn trẻ đam mê internet và sự tiện dụng mà cuộc sống
hiện đại đem lại. Hiện nay sản phẩm của Cocacola đã được chào bán, giới thiệu trên một
2005.
Coca-Cola thu hút các đại lý độc quyền bằng những chính sách ưu đãi hấp dẫn, tạo sự
gắn bó giữa công ty và đại lý: Các đại lý không được bán các sản phẩm của các đối thủ
cạnh tranh, bù lại Coca-Cola sẽ trả cho các đại lý tiền chiết khấu độc quyền 1.000
đồng/két.
Nhưng trong quá trình giao nhận hàng, việc ghi hóa đơn rất sơ sài. Các đại lý hầu như
không có một giấy tờ nào có giá trị pháp lý để ràng buộc. Ngược lại, công ty căn cứ vào
giấy xác nhận công nợ kiện theo thủ dân sự. Chỉ riêng 10 đại lý đang là bị đơn trong các
vụ kiện đòi nợ của Coca-Cola mà TAND TPHCM đang thụ lý giải quyết, số tiền nợ hàng
đã lên đến gần 6 tỉ đồng, chưa kể lãi suất quá hạn và gần 70.000 két vỏ chai quy thành
tiền.
Vụ việc này đã gây ra không ít tổn hại cho Cocacola Việt Nam và làm mất đi hình
tượng của Cocacola trong lòng những người tiêu dùng.
b) Phát triển và quản lý nhân sự chưa thật sự mang lại hiệu quả tối ưu.
Cuộc chiến giữa Cocacola và pepsi là một ví dụ minh chứng dõ dàng cho nhận định
trên.
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 19
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
Trên thị trường tiêu thụ toàn cầu thì lượng tiêu thụ của Cocacola bao giờ cũng nhỉnh
hơn pepsi nhưng ở Việt Nam thì ngược lại. Tại sao lại như vậy?
Trên “sân chơi” toàn cầu, Coca-cola chiếm thế “thượng phong” so với Pepsi nhờ chiến
lược tiếp thị và quảng cáo của họ. Riêng thị trường Việt Nam, Pepsi không những có
được một hệ thống phân phối tốt trên toàn xứ Việt Nam (nhờ tới trước) mà họ còn có
được những nhà quản lý và điều hành giỏi có thể ví như những “tướng quân”
Họ là những người Việt không những am hiểu “công nghệ tiếp thị” mà đồng thời họ
cũng rất am hiểu tâm lý của người Việt – điều này rất quan trọng. Nhờ vậy, Pepsi luôn
đẩy lui bất cứ đợt “phản công” giành giật thị trường nào của Coca-cola. Đây là điều mà
Cocacola vẫn còn thiếu và yếu.
c) Các khâu vận chuyển kho bãi, bảo quản, quản lý cũng như giám sát sản xuất chưa
có sự thống nhất chặt chẽ về quản trị cung ứng.
vào nghi án trốn thuế.Điều này chắc chắn sẽ làm hình ảnh của Cocacola xấu đi rất nhiều
trong mắt người tiêu dùng và các nhà cung cấp cũng như các nhà phân phối của mình.
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 22
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
CHƯƠNG IV: CÁC GIẢI PHÁP VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
4.1 Mô hình Chuỗi cung ứng xanh (The Green Supply Chain)
Thiết lập 1 chuỗi cung ứng mới theo mô hình Chuỗi cung ứng xanh cho công ty
Cocacola VN, hướng đến mục tiêu xa hơn là phát triển bền vững, thân thiện với môi
trường và sức khỏe cộng đồng. Đây sẽ là một lợi thế cạnh tranh của các công ty trong việc
mở rộng thị trường và gia tăng lợi nhuận. Chiến lược phát triển bền vững của COCA-
COLA bao phủ toàn bộ chuỗi giá trị, được thực hiện thông qua bốn chương trình trọng
tâm:
1. Thiết kế sản phẩm hướng đến môi trường.
2. Những hoạt động tiến hành ở giai đoạn cuối của chu kì.
3. Quản lý mạng lưới các nhà cung ứng.
4. Hệ thống quản lý môi trường.
Với sự hỗ trợ của những chương trình này, COCA-COLA đã nỗ lực loại bỏ những rủi
ro, nhằm đạt được sự đồng thuận của các cổ đông và gia tăng lợi nhuận Mục tiêu của
COCA-COLA là phát triển công nghệ tiên tiến, những sản phẩm không gây ảnh hưởng
đến môi trường và có thể được tái sử dụng, tái sản xuất hay tiêu hủy được.
Những nhân tố quan trọng trong chiến lược kinh doanh của COCA-COLA là sự linh
động, sự phát triển và chất lượng. Chiến lược môi trường của công ty có quan hệ mật thiết
đến các chiến lược kinh doanh ở một số mặt sau:
Trong các quyết định và hành động của mình, COCA-COLA luôn tính đến một thực tế
là các vấn đề về môi trường đang có tầm ảnh hưởng ngày càng lớn đến dự án phát triển
toàn cầu. COCA-COLA nhận thấy được tầm quan trọng của việc hợp tác để trao đổi các
vấn đề toàn cầu cũng như vấn đề về sử dụng nguồn tài nguyên và khí thải CO2. COCA-
COLA tham gia vào các chương trình hợp tác nghiên cứu để đưa ra các sang kiến thông
qua các Hiệp hội công nghiệp và những tổ chức toàn cầu. Đồng thời, COCA-COLA cũng
đang nỗ lực để giảm sự tiêu thụ năng lượng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của
Các mục tiêu của cần đạt được:
- Phù hợp với các quy định về môi trường về hiện tại và trong tương lai; như giới hạn trong
việc sử dụng các chất và nhu cầu tái sản xuất.
- Sự phù hợp giữa hoạt động của các nhà cung ứng của COCA-COLA với các tiêu chuẩn
môi trường mà COCA-COLA đã đề ra.
GVHD:ThS.Lê Ngọc Page 24
Nhóm 5 Tiểu luận quản trị cung ứng
- Quản lý chặt chẽ việc thu hồi các sản phẩm của COCA-COLA ở giai đoạn cuối sản phẩm.
- Thông tin sản phẩm: COCA-COLA đã đưa ra những thông tin về sinh thái vào trong các
sản phẩm di động mới nhất của mình như: thông tin về việc tiêu thụ năng lượng, sử dụng
nguyên liệu, đóng gói và tái sản xuất.
4.2 Các giải pháp COCA-COLA thực hiện nhằm làm “xanh” trong từng khâu
của chuỗi cung ứng:
4.2.1 Trong quá trình sản xuất:
Quá trình sản xuất ra nước uống đóng chai COCA-COLA trải qua nhiều khâu từ việc
thu thập vật liệu thô, đên việc sản xuất đóng gói để có một sản phẩm hoàn chỉnh. Để thực
hiện mục tiêu đề ra trong quá trình sản xuất, COCA-COLA đã đưa ra các giải pháp sau:
4.2.1.1 Quản lý nhà cung ứng:
a) Đánh giá tổng thể
COCA-COLA có thể thực hiện các đánh giá tổng thể thông qua việc xem xét một cách
có hệ thống quá trình thực hiện và hệ thống quản lý các nhà cung ứng để đảm bảo phù
hợp với các yêu cầu của COCA-COLA. Việc đánh giá này được thực hiện bởi các chuyên
gia của COCA-COLA. Các chuyên gia có trách nhiệm lên kế hoạch, điều phối, chuẩn bị,
sau đó thực hiện đánh giá. Một đội bao gồm ít nhất 2 người và thời gian đánh giá thông
thường là hai ngày. Kết quả đánh giá sẽ được thông báo tới các nhà cung ứng trong các
cuộc họp và đạt được sự nhất trí của cả hai bên. Tất cả các đánh giá đều được đưa vào hệ
thống cơ sở dữ liệu của COCACOLA để tránh sự đánh giá trùng lắp.
b) Đánh giá chuyên sâu:
Bên cạnh đánh giá tổng thể, COCA-COLA còn thực hiện các đánh giá chuyên sâu về
điều kiện lao động và môi trường. Các đánh giá dựa trên quy định của chính quyền địa