Tài sản và hoàn thiện quy định của pháp luật về tài sản - Pdf 22

BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
MÔN: LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM MODULE 1
ĐỀ BÀI:
“Tài sản và hoàn thiện quy định của pháp luật
về tài sản”
HỌ VÀ TÊN:TÔ THỊ THANH HẰNGLỚP: 3728NHÓM: B2MSSV: 372845
Hà Nội
Tháng 5- 2013
Bài tập lớn môn Luật dân sự Việt Nam MODULE 1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
LỜI NÓI ĐẦU 4
NỘI DUNG 5
I- Khái niệm tài sản: 5
II. Đặc điểm của tài sản 6
III. Phân loại tài sản 7
1. Bất động sản là các tài sản bao gồm: 8
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.” 8
IV- Những bất cập trong quy định về tài sản của Bộ luật dân sự: 9
1. Về cách quy định tài sản: 9
2- Thiếu vắng các quy định về tiền trong Bộ luật dân sự 13
3- Sự quy định về giấy tờ có giá trong Bộ luật dân sự của nhiều lỗ hổng 14
4- Sự chưa phù hợp trong quy định về quyền tài sản 15
5. Cách hiểu không đúng về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi coi nó là một loại tài sản
17
V- Phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về tài sản 18
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845

của cải được con người sử dụng. Theo nghĩa này thì tài sản luôn biến đổi và phát
triển cùng với sự thay đổi của thời gian, của điều kiện xã hội, của sự nhận thức
con người về giá trị vật chất nên phạm vi của tài sản qua mỗi thời kì lại được
nhìn nhận ở một góc độ khác nhau. Có thể nhận thấy tài sản là khách thể của
quyền sở hữu, nó có thể là đối tượng của thế giới vật chất hoặc là kết quả của
các hoạt động sáng tạo tinh thần.
Theo pháp luật hiện hành tại điều 163 BLDS năm 2005 đã quy định một
cách liệt kê về tài sản như sau: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, và các
quyền tài sản”.
Trong đó vật được hiểu là bộ phận của thế giới khách quan mà con
người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình. Vật chỉ có ý nghĩa
khi nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế giới
vật chất mà con người không kiểm soát, không chiếm hữu được nó thì cũng
đồng nghĩa với việc con người không tác động được vào nó. Do đó, gió, không
khí, mưa… thuộc về mặt vật chất nhưng không thể được coi là tài sản về mặt
pháp lí. Hơn nữa, là đối tượng của trong quan hệ pháp luật phải đáp ứng được
lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ. Như vậy, muốn trở thành vật trong
dân sự phải thỏa mãn những điều kiện: là bộ phận của thế giới vật chất, con
người chiếm hữu được, mang lại lợi ích cho chủ thể, có thể đang tồn tại hoặc
hình thành trong tương lai. Tiền theo kinh tế - chính trị học là vật ngang giá
Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845 Trang 5
Bài tập lớn môn Luật dân sự Việt Nam MODULE 1
chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản
được coi là tiền hiện nay khi nó có giá trị lưu hành trên thị trường. Giấy tờ có
giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay, đặc biệt là giao
dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng. Nó được hiểu là giấy tờ
có trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự. Giấy tờ có
giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao
lưu dân sự. Giấy tờ có giá hiện nay được tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như
séc, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kì phiếu, công trái…Khác với tiền

tinh thần. Đây chính là tính lợi ích của tài sản. Cho dù là một vật, giấy tờ có giá,
hay một quyền tài sản thì chúng đều trực tiếp hay gián tiếp đáp ứng nhu cầu cho
con người.
c. Tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự. Cũng chính vì đặc điểm này
mà khái niệm về tài sản được thay đổi mở rộng hay thu hẹp theo từng thời kỳ để
phù hợp với điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội thời đó. Nếu một loại tài sản
không thể lưu thông nghĩa là nó không có giá trị trao đổi. Như vậy về một khía
cạnh nào đó tài sản đó không mang tính giá trị. Thực tiễn cho thấy rằng tài sản
chính là công cụ để phát triển kinh tế, duy trì các hoạt động kinh tế của đất nước.
Một loại tài sản không trao đổi được sẽ không thực hiện được chức năng đó.
d. Khái niệm tài sản trong cuộc sống khác với khái niệm tài sản trong pháp
lý. Pháp luật là công cụ thể thực quyền lực, thái độ của một nhà nước với các
quan hệ xã hội. Bởi vậy nếu như nhà nước không công nhân một loại tài sản thì
nó sẽ không được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật. Sự quy định đâu là tài
sản dựa vào ý chí của nhà nước đưa vào bộ luật dân sự. Tiêu biểu như ở thời kỳ
chiếm hữu nô lệ, chủ nô coi thường người nô lệ là một loại tài sản. Họ bị trao
đổi như bất kỳ một loại hàng hóa nào khác. Nhưng khi xã hội tiến dần đến văn
minh, nhà nước tiến hành xây dựng một xã hội công bằng văn minh thì quan
niệm về tài sản đã khác biệt so với thời chiếm hữu nô lệ.
III. Phân loại tài sản
Tài sản là một chế định quan trọng của luật dân sự mà trong đó việc phân
loại tài sản có một ý nghĩa rất lớn, bởi lẽ tài sản là công cụ của đời sống xã hội.
Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845 Trang 7
Bài tập lớn môn Luật dân sự Việt Nam MODULE 1
Nó liên quan tới hàng loạt các vấn đề pháp lý như: thuế, bảo đảm nghĩa vụ dân
sự, thừa kế, hiệu lực của hợp đồng, bán tài sản, công khai các quyền tài sản,
thương mại, tư pháp quốc tế.
Thứ nhất, dựa vào đặc tính vật lí của tài sản theo Điều 174 Bộ luật dân sự
2005 quy định:
1. Bất động sản là các tài sản bao gồm:

với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác);
Xác định được các quyền năng của chủ thể quyền đối với từng loại tài sản
nhất định (pháp luật ghi nhận cho các chủ thể có những quyền năng nhất định
đối cới tài sản của người khác để bất động sản có thể khai thác được công dụng
một cách tốt nhất như quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề);
Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ đối với các giao dịch có đối tượng
là bất động sản trong trường hợp các bên không có thỏa thuận (theo quy định tại
Điều 284 BLDS 2005 thì trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thì
địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi có bất động sản nếu đối tượng của nghĩa vụ là
bất động sản. Nếu đối tượng không phải là bất động sản thì địa điểm thực hiện
nghĩa vụ là nơi cư trú, trụ sở của người có quyền);
Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu (như tại Điều 239 BLDS 2005 quy
định nếu vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản sẽ
thuộc sở hữu của người phát hiện còn nếu vật là bất động sản thì sẽ thuộc sở hữu
nhà nước…)
IV- Những bất cập trong quy định về tài sản của Bộ luật dân sự:
1. Về cách quy định tài sản:
Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai, bởi đơn giản tài sản
là công cụ của đời sống con người. Tuy nhiên, quan niệm pháp lý và quan niệm
đời thường về tài sản lại có đôi chút khác biệt. Về mặt pháp lý, nhận thức đúng
về tài sản và phân loại tài sản có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập các quy
định pháp luật và giải quyết các tranh chấp pháp lý. Nhưng ngay Bộ luật Dân sự
2005 của Việt Nam cũng đã diễn đạt khác nhiều so với quan niệm của thế giới
Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845 Trang 9
Bài tập lớn môn Luật dân sự Việt Nam MODULE 1
về khái niệm tài sản và phân loại tài sản. Hệ quả là nhiều quy chế pháp lý liên
quan tới tài sản đã không thỏa đáng về mặt khoa học và thực tiễn, gây ảnh
hưởng không nhỏ tới giao lưu dân sự và phát triển kinh tế, thương mại.
Theo Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản được quy định như sau: “Tài

hữu theo quy định của pháp luật″. Do đó, nếu áp dụng khái niệm này thì chúng
ta lại bị rơi vào vòng luẩn quẩn định nghĩa tài sản thông qua một khái niệm
quyền sở hữu trong khi đó bản thân khái niệm quyền sở hữu cũng chưa giải
quyết được một cách triệt để, thậm chí còn là phái sinh từ khái niệm tài sản.
Quan điểm thứ hai cho rằng: tài sản là của cải vật chất tồn tại dưới dạng cụ
thể, được con người sử dụng và được nhận biết bằng giác quan tiếp xúc như
giường, tủ, bàn ghế, xe mô tô, tờ tiền…. Như vậy, theo quan điểm này thì chỉ
những gì thuộc về thế giới vật chất, hiện đang tồn tại và chúng ta có thể cầm,
lắm … được thì mới được coi là tài sản. Do đó, quyền tài sản không được coi là
tài sản.
Quan điểm thứ ba cho rằng: tài sản bao gồm động sản và bất động sản.
Đây thực chất là một cách phân loại tài sản dựa trên tính chất vật lý không di dời
được về mặt cơ học và nó cũng rơi vào vòng luẩn quẩn như quan điểm thứ nhất
khi định nghĩa tài sản thông qua khái niệm bất động sản và động sản trong khi
đó khái niệm bất động sản và động sản cũng chưa được làm sang tỏ và thậm chí
muốn hiểu thế nào là bất động sản và động sản thì phải hiểu thế nào là động sản
trước. Hơn nữa, nếu theo quan điểm này thì quyền tài sản không biết được xếp
vào bất động sản hay động sản?
Quan điểm thứ tư là : “ Tài sản là đối tượng của giao dịch dân sự ”.
Thoạt nghe thì thấy quan điểm này cũng có lý vì bất kỳ giao dịch dân sự nào
cũng liên quan tới tài sản. Nhưng đối với những tài sản cấm giao dịch, tài sản
hạn chế giao dịch thì lại không phải là đối tượng của giao dịch dân sự vì đã là tài
sản cấm rồi thì không thể giao dịch được nữa. Quan điểm này đưa ra cũng chưa
thỏa đáng.
Quan điểm thứ năm cho rằng : “ Tài sản là những gì định giá được
”. Quan điểm trên vẫn còn những điểm chưa hợp lý vì:
Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845 Trang 11
Bài tập lớn môn Luật dân sự Việt Nam MODULE 1
- Tài sản là những gì định giá được có thể hiểu là tài sản là những gì trị giá
được bằng tiền và tiền ở đây chỉ được hiểu là nội tệ vì “ ngoại tệ không được coi

pháp lý khá đặc trưng nhưng thực tế cho thấy rằng trong Bộ luật dân sự lại
không có một quy định nào giải thích cụ thể về tiền. Từ đó đã dẫn đến những
cách hiểu không thống nhất về bản chất pháp lý của tiền.
Dưới góc độ kinh tế thì việc sử dụng tiền được hiểu thông qua hành vi đầu
tư tiền vào các hoạt động kinh doanh (mua bán thiết bị, cho vay lãi, góp vốn,
hay tiêu dùng. Nhưng dưới góc độ luật dân sự thì các hành vi đầu tư hay tiêu
dùng. Nhưng dưới góc độ luật dân sự thì các hành vi đầu tư hay tiêu dùng đó lại
phải được hiểu là hành vi thực hiện quyền định đoạt tiền (chuyển giao quyền sở
hữu tiền cho chủ thể khác), chứ không phải là thực hiện quyền sử dụng.
Dưới góc độ kinh tế, việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng (gửi tiền vào tài
khoản của mình trong Ngân hàng) thường được coi là hành vi cất giữ tiền của
mình. Còn dưới góc độ luật dân sự thì việc gửi tiền vào Ngân hàng hay các tổ
chức tín dụng lại phải luôn được hiểu là hợp đồng cho vay tài sản. Bởi lẽ sau khi
gửi vào Ngân hàng thì chính Ngân hàng sẽ trở thành chủ sở hữu khoản tiền đó
và phải chịu rủi ro đối với nó. Người gửi khi đó chấm dứt quyền sở hữu đối với
số tiền vừa gửi, trở thành bên cho vay, có quyền yêu cầu Ngân hàng thanh toán
khoản tiền khác tương đương theo thời hạn thỏa thuận. Tuỳ theo từng trường
hợp cụ thể mà hợp đồng vay đó có thể có thời hạn hoặc không thời hạn, có thể
có lãi hoặc không có lãi.
Nói cách khác, dưới góc độ kinh tế thì không có sự khác biệt cơ bản về bản
chất giữa tiền mặt với tiền trong tài khoản, nhưng dưới góc độ luật dân sự thì
“tiền trong tài khoản” lại được hiểu là quyền tài sản (quyền yêu cầu) – một loại
tài sản khác chứ không phải là tiền.
Hiện nay cũng có nhiều tranh cãi xung quanh việc ngoại tệ có phải là “tiền”
theo điều 163 hay không? Về bản chất nội tệ và ngoại tệ đều là tiền. Nhưng
trong pháp luật dân sự thì ngoại tệ chỉ được lưu thông hạn chế không đáp ứng
được chức năng là công cụ thanh toán đa năng. Cách phân loại tiền thành nội tệ
Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845 Trang 13
Bài tập lớn môn Luật dân sự Việt Nam MODULE 1
và ngoại tệ hoàn toàn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận của từng quốc gia: một

bản pháp luật chuyên ngành khi giải thích về khái niệm này. Trong quyết định
số 02/2005/QĐ-NHNN ngày 04/1/2005 về ban hành quy chế phát hành giấy tờ
có giá để huy động vốn trong nước tại Điều 4 quy định: “Giấy tờ có giá là chứng
nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác định nghĩa
vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các
điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua”. Tuy nhiên, tại
Nghị định của Chính phủ số 163/2005/NĐ-CP ngày 29/1/2006 thì giấy tờ có giá
lại được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao trong giao lưu dân
sự (khoản 9 điều 3)
Có thể nói, giữa các luật chuyên ngành về giấy tờ có giá có những cách
hiểu không thống nhất, thiếu tính đồng bộ với nhau. Đây chính là một điều cần
bổ sung trong BLDS để giải quyết sự mâu thuẫn này.
4- Sự chưa phù hợp trong quy định về quyền tài sản
Trước hết phải kể đến sự thiếu sót trong quy định tại Điều 181- BLDS
năm 2005 về quyền tài sản khi nhà làm luật không quy định về các quyền tài sản
không chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Đó là những quyền trị giá được
bằng tiền nhưng do gắn với nhân thân nên không thể chuyển giao được.
Bên cạnh đó, khái niệm quyền tài sản của Việt Nam được xây dựng là
một tài sản đối lập với vật. Tức là một loại tài sản vô hình, như vậy, khi ta kết
hợp cách phân loại giữa vật và quyền với cách phân loại bất động sản sẽ không
tạo ra khái niệm quyền tài sản mang tính chất bất động sản. Do vậy, trong
trường hợp này thì quyền tài sản sẽ là động sản. Điều này sẽ trở nên không phù
hợp với quyền sử dụng đất (một loại quyền tài sản). Trong luật Việt Nam hiện
hành, quyền sử dụng đất về phương diện thực quyền tức là một phần đất và tính
chất bất động sản của nó là rất rõ ràng, nhưng luật hiện hành lại không ghi nhận
quyền sử dụng đất là bất động sản.
Phạm vi các quyền về tài sản theo quy định của BLDS bao gồm các quyền
có gắn với một tài sản cụ thể như quyền được hưởng bồi thường thiệt hại về tài
sản, quyền hưởng nhuận bút tác phẩm văn học, quyền hưởng di sản thừa kế,
Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845 Trang 15

Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845 Trang 16
Bài tập lớn môn Luật dân sự Việt Nam MODULE 1
thừa nhận rằng chủ sở hữu tài sản có quyền thế chấp tài sản theo quy định của
pháp luật để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, luật Việt
Nam lại không thực sự coi các quyền của chủ nợ thế chấp là quyền đối vật. Khi
đã xây dựng được quan niệm về quyền đối với vật, ta sẽ dễ dàng xác định được
rằng người cầm cố hoặc thế chấp tài sản vẫn là chủ sở hữu đối với tài sản liên
quan cả trong thời gian có hiệu lực của biện pháp bảo đảm.
5. Cách hiểu không đúng về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi coi nó
là một loại tài sản
Trong đời sống hàng ngày, thông qua các giao dịch dân sự theo quy định
của pháp luật, chúng ta có được thửa đất để khai thác, sử dụng phục vụ cuộc
sống. Người có quyền sử dụng lô đất đó, được cơ quan Nhà nước làm thủ tục và
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhiều người còn gọi giấy này là bìa đất,
sổ đỏ. Và một khi cần vay tiền ở các ngân hàng, người có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, đến làm thủ tục thế chấp vay tiền. Từ thực tế này, một số
người vì thế mà quan niệm rằng, giấy này là tài sản, vì việc thế chấp nó, được
nhận tài sản khác ở ngân hàng, là tiền mặt Việt Nam đồng. Có một số trường
hợp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị mất trộm, chủ nhân của nó đến cơ
quan Công an trình báo, là mất tài sản và đề nghị xử lý theo quy định của pháp
luật.
Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005, thì tài sản bao gồm
vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Như vậy, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất là vật, bởi vì, hiểu theo tiêu chí lý học, thì vật là một đối tượng tồn
tại, được xác định bằng các đơn vị đo lường, với hình thức, tính chất lý hóa. Đây
chính là tờ giấy ghi nhận trên bề mặt của nó các ký tự, thông tin về thửa đất và
về người có quyền sử dụng thửa đất đó. Nói cách khác, quyền sử dụng thửa đất,
là quyền về tài sản, nó là tài sản được ghi nhận ở tấm giấy này. Còn giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, không phải là tài sản, nếu tờ giấy này bị mất trộm, thì
không được coi là bị mất tài sản, nên cơ quan điều tra không khởi tố vụ án, với

lưu dân sự.
Pháp luật cần phải tạo ra cho thị trường nhiều loại giấy tờ có giá có thể
Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845 Trang 18
Bài tập lớn môn Luật dân sự Việt Nam MODULE 1
trao đổi, mua bán song bên cạnh đó cần có những chế tài phù hợp để giải quyết
tranh chấp, đồng bộ hóa các thể chế và định chế liên quan. Do vậy, ngoài việc
đưa ra khái niệm về giấy tờ có giá thì pháp luật nên giải thích cụ thể về giấy tờ
có giá theo hướng: Chỉ những giấy tờ có giá vô danh, được tự do chuyển
nhượng trên thị trường mới được coi là tài sản trong giao lưu dân sự (kể cả các
loại vận đơn đường biển xuất trình cũng được coi là giấy tờ có giá)
Còn quyền tài sản cần xây dựng như một đối trọng của quyền nhân thân.
Theo đó, quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể
chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (BLDS
Điều 26). Luật không khẳng định rằng các quyền nhân thân không có giá trị tài
sản. Thế nhưng, các quyền nhân thân cụ thể được liệt kê ngay sau đó đều là các
quyền mà trong luật Latinh được cho là có tính chất phi tài sản. Mặt khác, trong
khung cảnh của luật hiện hành, một quyền chỉ được coi là quyền tài sản, một khi
nó không chỉ định giá được bằng tiền mà còn phải chuyển giao được trong giao
lưu dân sự. Tất cả những điều đó cho phép kết luận rằng quyền tài sản không
phải là quyền nhân thân. Quyền tài sản được hiểu theo một nghĩa rất hẹp, nó
không bao hàm được tất cả các quyền không phải là quyền nhân thân. Vì vậy,
cần có một chế định về quyền tài sản và mở rộng phạm vi khái niệm quyền tài
sản để phù hợp hơn với thực tiễn.
VI- Vấn đề công nhận “tài sản ảo”
Vài năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, vấn đề
tài sản ảo (ví dụ như tên miền internet, địa chỉ hộp thư điện tử, các loại tài khoản
game online…) cũng được quan tâm nhiều hơn. Trong khi Bộ luật Dân sự đang
được xem xét sửa đổi, bổ sung, tài sản “ảo” có nên được công nhận là một loại
tài sản được luật dân sự bảo hộ hay không đang nhận được nhiều quan điểm trái
chiều.

ảnh thể hiện ra bên ngoài, mà bên trong chính là thông tin tồn tại dưới dạng các
đoạn mã máy tính. Các đoạn mã khác nhau tạo nên những loại tài sản ảo khác
nhau. Chính vì vậy, tài sản ảo cũng có sự thống nhất của tính chất nội tại và hình
ảnh bên ngoài như bất kỳ tài sản thông thường nào khác. Tuy nhiên, do các đoạn
Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845 Trang 20
Bài tập lớn môn Luật dân sự Việt Nam MODULE 1
mã máy tính không tồn tại độc lập hoàn toàn nên không thể thực hiện quyền
chiếm hữu như tài sản thông thường mà chỉ có thể thực hiện được quyền này
thông qua giá trị bằng tiền của tài sản ảo đó. Điều này về bản chất không khác
với quyền sở hữu trí tuệ (có tính vô hình) đã được thừa nhận là một loại quyền
tài sản. Tương tự như vậy, việc thừa nhận tài sản ảo là các đoạn mã ghi nhận
quyền của người chơi sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo hộ và khai thác
các lợi ích của tài sản ảo, đồng thời giải quyết được nhiều vấn đề về tài nguyên
mạng đã gây tranh chấp hiện nay.
- Về giá trị: Tài sản ảo có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng vì nó đáp ứng
những nhu cầu của con người. Game online đáp ứng nhu cầu về giải trí; tên
miền cung cấp một hình thức đại diện cho doanh nghiệp, cơ quan, thương hiệu,

- Trong thực tế, các giao dịch liên quan đến “tài sản ảo” được thực hiện khá
phổ biến, mặc dù pháp luật không chính thức thừa nhận và bảo hộ loại tài sản
này là đối tượng của giao dịch dân sự nhưng giá trị của các loại tài sản ảo này là
rất lớn có thể trị giá hàng chục, hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng.
Việc thừa nhận tài sản ảo là tài sản trong Bộ luật dân sự sẽ giải quyết được
các vấn đề còn vướng mắc trên thực tế như sau:
+ Tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xác định các giao dịch liên quan đến tài
sản ảo với tư cách là tài sản trong giao dịch dân sự để có thể xác lập quyền sở
hữu.
+ Tạo cơ sở để giải quyết các hành vi phạm tội đối với tài sản ảo khi các vụ
án hình sự đối với hành vi trộm cắp, lừa đảo tài sản ảo ngày càng gia tăng.
Thực tế cho thấy, dù pháp luật chưa công nhận, nhưng các giao dịch liên

CAND, Hà Nội, 2009.
2. “Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân sự,” NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997
3. Luận văn “Giấy tờ có giá - một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân
sự”- Luận văn thạc sĩ Luật học / Nguyễn Thị Anh Thơ
4. Bùi Đăng Hiếu “Tiền – Một loại tài sản trong QHPL dân sự”, Tạp chí
luật học số 1/2005.
5. Nguyễn Ngọc Điện, “ ᄉ

Cần xây dựng lại khái niệm "quyền tài sản"
trong luật dân sự Việt Nam”,ᄉ Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 4/2005
6. Các website:
- Updatebook.vn
- Luanvan.co.vn
- Thongtinphapluatdansu.edu.vn
- Web123.vn
- 123doc.vn
- Tailieu.vn
Sinh viên thực hiện: Tô Thị Thanh Hằng – 372845 Trang 24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status