Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
LƯU THỊ PHƯƠNG DUNG
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ SỐ DẢNH CẤY/KHÓM
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LÚA
TẠI HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
LƯU THỊ PHƯƠNG DUNG
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ SỐ DẢNH CẤY/KHÓM
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LÚA
TẠI HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60 62 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Văn Phụ Thái Nguyên, 2011
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hoàng Văn Phụ - Giảng
viên Trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên; Giám đốc Phòng Quan hệ Quốc
tế Đại học Thái Nguyên. Ngƣời hƣớng dẫn khoa học đã giành nhiều thời gian
và tâm huyết chỉ bảo tôi phƣơng pháp và những kiến thức cần thiết trong thời
gian thực tập.
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi
trong thời gian thực tập.
Tác giả
Lƣu Thị Phƣơng Dung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT – KÍ HIỆU vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Giả thiết nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
3.4.3.5. Chỉ tiêu về khả năng chống chịu 27
3.4.3.6. Chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 28
3.5. Phƣơng pháp xử lý số liệu 29
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1. Điều kiện thời tiết, khí hậu tại tỉnh Bắc Giang vụ mùa 2010 và vụ
xuân 2011 30
4.2. Ảnh hƣởng của mật độ và số dảnh cấy/khóm đến một số chỉ tiêu sinh
trƣởng, phát triển của giống lúa Bắc thơm số 7 32
4.2.1. Ảnh hƣởng của mật độ và số dảnh cấy/khóm đến thời gian sinh trƣởng
của giống Bắc thơm số 7 32
4.2.2. Ảnh hƣởng của mật độ và số dảnh cấy/khóm đến khả năng đẻ nhánh của
giống Bắc thơm số 7 34
4.2.3. Ảnh hƣởng của mật độ và số dảnh cấy/khóm đến chỉ số diện tích lá của
giống Bắc thơm số 7 42
4.2.4. Ảnh hƣởng của mật độ và số dảnh cấy/khóm đến khả năng tích lũy vật
chất khô của giống Bắc thơm số 7. 44
4.3. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến khả năng chống chịu của
giống Bắc thơm số 7 49
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
4.3.1. Khả năng chống đổ của giống Bắc thơm số 7 ở mật độ cấy và số dảnh
cấy khác nhau. 49
4.3.2. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến khả năng chống chịu sâu
bệnh của giống Bắc thơm số 7 trong vụ mùa 2010 51
4.4. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến năng suất và các yếu tố cấu
thành năng suất của giống Bắc thơm số 7 56
4.4.1. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến chiều dài bông, số gié cấp 1 và
số gié cấp 2 của giống Bắc thơm số 7 56
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Một số yếu tố khí hậu, thời tiết qua các tháng trong vụ mùa năm 2010
(tháng 6 – tháng 11) và vụ xuân năm 2011 (tháng 1 – tháng 6) 30
Bảng 4.2. Thời gian sinh trƣởng của giống Bắc thơm số 7 trong vụ mùa năm 2010 32
Bảng 4.3. Thời gian sinh trƣởng của giống Bắc thơm số 7 trong vụ xuân năm 2011 33
Bảng 4.4. Khả năng đẻ nhánh của giống Bắc thơm số 7 trong vụ mùa 2010 35
Bảng 4.5. Khả năng đẻ nhánh của giống Bắc thơm số 7 trong vụ xuân 2011 40
Bảng 4.6. Chỉ số diện tích lá của giống Bắc thơm số 7 trong vụ mùa 2010 43
Bảng 4.7. Khả năng tích luỹ vật chất khô của giống Bắc thơm số 7 qua các thời
kỳ trong vụ mùa 2010 45
Bảng 4.8. Khả năng tích luỹ vật chất khô của giống Bắc thơm số 7 qua các
thời kỳ trong vụ xuân 2011 48
Bảng 4.9. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến khả năng chống đổ
của giống Bắc thơm số 7 trong vụ mùa 2010 và vụ xuân 2011 50
Bảng 4.10. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến khả năng chống chịu
sâu bệnh của giống Bắc thơm số 7 trong vụ mùa 2010 52
Bảng 4.11. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến khả năng chống chịu
sâu bệnh của giống Bắc thơm số 7 trong vụ xuân 2011 55
Bảng 4.12. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến chiều dài bông, số gié
cấp 1 và số gié cấp 2 của giống Bắc thơm số 7 trong vụ mùa 2010 57
Bảng 4.13. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến chiều dài bông, số gié
cấp 1 và số gié cấp 2 của giống Bắc thơm số 7 trong vụ xuân 2011 59
Bảng 4.14. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống Bắc thơm số 7 trong vụ mùa 2010 61
Bảng 4.15. Ảnh hƣởng của mật độ cấy và số dảnh cấy đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống Bắc thơm số 7 trong vụ xuân 2011 66
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thƣờng từ 2000 đến 3000VNĐ/kg.
Tuy nhiên, khi gieo cấy ở hộ gia đình giống lúa này thƣờng dễ bị nhiễm
sâu bệnh dẫn đến năng suất bị ảnh hƣởng xấu. Nguyên nhân là do ngƣời nông
dân thƣờng cấy nhiều dảnh lúa trên một khóm lúa (3 - 7 dảnh/khóm) và cấy
với mật độ khá dày (khoảng 40 – 50 khóm/m
2
). Điều này dẫn đến quần thể lúa
rậm rạp, tiêu hao nhiều chất dinh dƣỡng một cách vô ích và dễ bị nhiễm các
loại sâu bệnh hại.
Mặt khác, nhƣ chúng ta đã biết kỹ thuật cấy và mật độ cấy có ảnh
hƣởng rất lớn đến sự phát triển của lúa và năng suất lúa do ảnh hƣởng
trực tiếp đến cấu trúc quần thể của ruộng lúa. . Nhƣng mối quan hệ giữa
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
mật độ cấy và số dảnh cấy/khóm và sự tƣơng tác giữa chúng chƣa đƣợc
quan tâm nghiên cứu đúng mức. Bởi vì các công trình nghiên cứu về vấn
đề cấy và mật độ cấy còn rất khiêm tốn.
Xuất phát từ những yêu cầu khoa học và thực tiễn nói trên chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ và số dảnh cấy/khóm
đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa tại huyện Yên Dũng,
tỉnh Bắc Giang”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hƣởng của mật độ và số dảnh cấy đến sinh trƣởng,
phát triển và năng suất của giống lúa Bắc thơm số 7.
Tìm ra mật độ và số dảnh cấy hợp lý cho năng suất cao để tiến tới
khuyến cáo trong sản xuất lúa tại địa phƣơng.
1.3. Yêu cầu của đề tài
Xác định đƣợc sự tƣơng tác giữa mật độ cấy và số dảnh cấy/khóm ảnh
2
x số hạt chắc/bông x P
1000 hạt
Năng suất lúa (tạ/ha) =
_______________________________________________________
10000
Năng suất quan hệ với các yếu tố tạo thành năng suất là quan hệ toán
học. Nhƣng giữa các yếu tố cấu thành năng suất trong một quần thể ruộng lúa
lại có quan hệ sinh học thong qua mối quan hệ giữa quần thể và cá thể. Trong
đó ta thấy: Số bông/m
2
đặc trƣng cho quần thể, P
1000 hạt
đặc trƣng cho cá thể.
Mối quan hệ này thể hiện tính thống nhất và mâu thuẫn. Khi cá thể tốt sẽ
tạo điều kiện tạo nên quần thể tốt. Nhƣng khi cả quần thể quá tốt sẽ hạn
chế cá thể phát triển: khi số bông tăng quá nhiều sẽ làm cho số hạt
chắc/bông và P
1000 hạt
giảm đi.
Trong sinh trƣởng và phát triển của cây lúa, mỗi thời kỳ sinh trƣởng sẽ
tập trung vào một quá trình hoạt động trung tâm nhằm tạo ra những yếu tố
nhất định góp phần tạo nên năng suất lúa sau này. Ta thấy: Thời kỳ đầu từ
gieo đến cuối đẻ hữu hiệu là thời gian quyết định yếu tố bông/m
2
. Mật độ gieo
cấy và sức đẻ nhánh hữu hiệu sẽ làm cho số bông/m
2
nhiều hay ít vì:
thuật khác đƣợc duy trì thì chọn một mật độ vừa phải là phƣơng án tối ƣu
để đạt đƣợc số lƣợng hạt thóc nhiều nhất trên đơn vị diện tích gieo cấy
(Nguyễn Văn Hoan, 2003 ) [10].
Xác định đƣợc mật độ gieo cấy lúa hợp lý là biện pháp kỹ thuật làm
giảm sự phá hoại của sâu, bệnh, tăng đáng kể năng suất, chất lƣợng lúa cuối
vụ. Xác định mật độ gieo cấy căn cứ vào các yếu tố sau:
* Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào đặc điểm của giống lúa định gieo cấy:
+ Giống lúa chịu thâm canh càng cao, tiềm năng năng suất lớn mật độ
gieo cấy càng dày và ngƣợc lại, giống lúa chịu thâm canh thấp mật độ gieo
cấy thƣa hơn. Ví dụ mật độ gieo cấy giống lúa lai chịu thâm canh cao, tiềm
năng năng suất lớn sẽ cao hơn mật độ gieo cấy các giống lúa nếp chịu thâm
canh kém, tiềm năng năng suất trung bình.
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Những giống lúa có bộ lá gọn, góc lá nhỏ, thế lá đứng gieo cấy mật
độ dày hơn những giống lúa có phiến lá to, góc lá lớn.
* Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào tuổi mạ: Tuổi mạ càng ngắn (mạ non)
khả năng đẻ cao cấy thƣa hơn mạ già, tuổi mạ cao.
* Xác định mật độ gieo cấy lúa hợp lý căn cứ vào độ phì của đất, khả năng
thâm canh của hộ nông dân: Đất tốt, khả năng thâm canh cao mật độ gieo cấy
thƣa hơn loại đất xấu, khả năng thâm canh thấp.
* Xác định mật độ gieo cấy lúa hợp lý căn cứ vào mùa vụ: Vụ mùa, thời tiết
nắng nóng cây lúa sinh trƣởng nhanh, đẻ sớm, đẻ nhiều cấy thƣa hơn vụ đông
xuân nhiệt độ thấp, cây lúa lâu đẻ, đẻ kém nhƣ kinh nghiệm lâu năm của
ngƣời nông dân "chiêm ăn dảnh, mùa ăn bông" [38].
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Cây lúa nƣớc giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp lƣơng thực cho con
ngƣời ở nhiều nƣớc trên thế giới nói chung và ở nƣớc ta lúa còn là một nông
nghiệp bền vững và hiệu quả [13].
2.2. Một số đặc điểm của cây lúa liên quan đến kỹ thuật thâm canh lúa
2.2.1. Đặc điểm lá lúa
Lá lúa giữ vai trò quan trọng trong đời sống của cây. Thông qua sự sinh
trƣởng và màu sắc của lá ta biết đƣợc cây lúa sinh trƣởng nhanh hay chậm, tốt
hay xấu.
Màu sắc, kích thƣớc phiến lá, góc lá thay đổi theo giống lúa, thời kỳ
sinh trƣởng và hàm lƣợng dinh dƣỡng trong đất. Hƣớng chọn giống là chọn
những giống lá có phiến lá to, bản lá dày, màu xanh đậm, góc lá hẹp sẽ có lợi
cho quang hợp và tăng hiệu quả sử dụng ánh sáng.
Trong quần thể ruộng lúa tồn tại lá của nhánh mẹ và lá của nhánh con.
Tất cả tạo nên chỉ số diện tích lá (LAI) của quần thể. Chỉ số diện tích lá của
ruộng lúa đạt cao nhất vào lúc trƣớc trỗ 7 ngày, vì lúc đó số lá đạt tối đa và
diện tích từng lá tƣơng đối ổn định. Chỉ số diện tích lá của ruộng lúa có thể
đạt đến 10 hoặc hơn chút ít, sau khi trỗ bông thì giảm xuống bởi một số lá già
và chết đi.
Trên thân chính của lúa có tổng số lá nhất định, tùy từng giống mà có
tổng số lá khác nhau. Mỗi lá đều có chức năng nhất định tùy từng giai đoạn
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
sinh trƣởng. Trong cùng một thời kỳ thì lá hoạt động động mạnh nhất là lá thứ
hai từ trên xuống (lá công năng). Quan sát hình thái và sức sống của lá công
năng, ta biết đƣợc sinh trƣởng của cây lúa tốt hay xấu [15, tr.57-59].
2.2.2. Đặc điểm sự đẻ nhánh của lúa
Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ đến
quá trình hình thành số bông và năng suất cây lúa.
Cây lúa non hoặc cây mạ (ngƣời ta gọi là thân chính hay cây mẹ). Các
nhánh mọc ra từ thân chính đƣợc gọi là nhánh nguyên thuỷ (cây lúa thƣờng có
vào tuổi mạ, kỹ thuật cấy, điều kiện dinh dƣỡng, nƣớc và điều kiện ngoại
cảnh. Khi cấy mạ non, cấy nông tay sẽ làm tăng phạm vi mắt đẻ và tăng khả
năng đẻ nhánh. Lợi dụng khả năng đẻ nhánh của lúa, trong thâm canh muốn
tăng số bông trên ruộng lúa ngoài việc cấy đúng mật độ, chúng ta nên xúc tiến
các biện pháp kỹ thuật để lúa đẻ sớm, đẻ tập trung, làm tăng sức đẻ hữu hiệu,
không để quần thể quá rậm rạp, tốn dinh dƣỡng của cây mẹ [15, tr. 60-61].
Những yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng đẻ nhánh: Có rất nhiều yếu tố ảnh
hƣởng đến sự đẻ nhánh, nhƣng có 4 yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp là: giống lúa,
khoảng cách cấy, mùa vụ gieo cấy và mức phân đạm.
a) Về giống lúa: Các giống thƣờng có sự khác nhau về khả năng đẻ
nhánh. Khả năng đẻ nhánh của một giống có thể đạt đƣợc mức tối đa bằng
cách cấy thƣa trên đất giàu dinh dƣỡng. Nhƣng trong những điều kiện thực tế
đồng ruộng thì không thể nào đạt tới đích ấy.
b) Về khoảng cách cấy: Khi ta tăng khoảng cách cấy giữa các cây (tức là
mật độ cấy càng thƣa) thì số nhánh lúa trên 1 cây càng tăng nhƣng có giới hạn
nhất định. Nếu cấy với mật độ quá thƣa đến bất hợp lý thì số nhánh lúa trên
một đơn vị diện tích sẽ bị giảm đi. Vì vậy với một giống lúa nhất định, ngay
từ khi nghiên cứu chọn, tạo giống thì tác giả đã phải nghiên cứu để đƣa ra một
mật độ cấy cùng với điều kiện chăm sóc thích hợp trong quy trình kỹ thuật
của giống lúa đó.
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
c) Về mùa vụ gieo cấy: Thời gian đẻ nhánh của một giống lúa dài hay
ngắn phụ thuộc vào thời vụ gieo cấy. Vụ chiêm xuân có thời gian đẻ nhánh
dài hơn vụ mùa và trong cùng một vụ thì vụ sớm sẽ có thời gian đẻ nhánh dài
hơn vụ muộn. Tuy nhiên, tuy có thời gian đẻ nhánh ngắn hơn nhƣng trong vụ
mùa số nhánh lúa vẫn nhiều hơn trong vụ đông xuân.
d) Về mức phân đạm: Có một nguyên tắc, nếu bón lƣợng cao hơn và sớm
chuyển đến các lá đang phát triển của cây mẹ và của nhánh rồi đến rễ. Trong
thời kỳ phân hoá và phát triển đòng, chúng di chuyển đến những đòng non,
đến các lá trên và các gióng đang phát triển. Sau khi lúa trỗ, các chất đồng
hoá ở các lá trên đƣợc chuyển về hạt còn các chất đồng hoá ở các lá dƣới
đƣợc chuyển về các bộ phận phía dƣới của cây, về rễ [5, tr.462-464].
Theo Nguyễn Nhƣ Hà (2006), bón phân lót trƣớc khi cấy làm mạ sau
cấy nhanh bén rễ, đẻ nhánh sớm và mạnh, cần bón lót nhiều phân đạm khi
gieo cấy trong điều kiện nhiệt độ thấp, cấy giống ngắn ngày hay đẻ nhánh
kém, mật độ gieo cấy thƣa [8]. Vì vậy có thể nói mật độ cấy là một yếu tố
thực tế khá quan trọng để xác định lƣợng phân bón hợp lý đối với cây lúa.
2.3. Tình hình nghiên cứu về vấn đề cải tiến phƣơng thức canh tác lúa
trên thế giới và Việt Nam hiện nay
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ở Nhật Bản, mạ tốt là mạ non, cấy xuống cây mạ bén rễ rất nhanh,
Mật độ cấy tiêu chuẩn ở Hokkaido là 35 x 15 cm, mỗi khóm 3 dảnh. Theo
kết quả nghiên cứu của trạm thí nghiệm nông nghiệp ở Hokkaido cho thấy
trong một phạm vi mật độ nhất định thì năng suất hầu nhƣ không thay đổi.
Mật độ cấy thích hợp nhất thay đổi tùy theo lƣợng phân bón và đặc tính
giống. Ở vùng nhiệt đới nhƣ Ấn Độ, cấy lúa chín sớm với mật độ 15 x 15cm,
mỗi khóm lúa 2 dảnh, với giống lúa chín muộn khoảng cách 20 x 20cm
hoặc 15 x 23cm, mỗi khóm 2 dảnh. Còn những nơi đất tốt có thể cấy 30 x 15cm
(Tanaka Akira, 1981) [22].
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Ở Nhật Bản khoảng cách cấy ngày càng đƣợc mở rộng dần. Tƣơng lai
sau này áp dụng những giống tốt, bón nhiều phân thì có thể cấy khoảng cách
25 x 25 cm hoặc 30 x 30 cm (Tanaka Akira, 1981) [22].
Trong công bố gần đây của các tác giả nhƣ Yuan Qianhua, Lu Xinggui,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Theo công bố của Shaobing Peng, Jianchang Yang - IRRI và Trần Thúc
Sơn - Viện Nông hóa Thổ nhƣỡng tại Hội nghị lúa lai tổ chức tại Hà Nội từ
14 - 17 tháng 5 năm 2002 về cơ sở sinh lý của ruộng sản xuất lúa lai đã nêu ra
giải pháp mở rộng khoảng cách câý (20 x 30cm) và tách các nhánh đẻ khi cấy
là con đƣờng tốt nhất giảm lƣợng hạt gieo cần thiết cho 1 hecta mà không làm
giảm năng suất [17, tr.164-166].
Tại Bangladesh M.Sirajul Islam, M.A.Jabbar và cộng sự Viện Nghiên
cứu lúa Bangladesh đã tiến hành nghiên cứu về ảnh hƣởng của phân bón và
biện pháp canh tác đến năng suất lúa lai. Kết quả nghiên cứu với khoảng cách
cấy 25 x 20cm (20 khóm/m
2
) và 20 x 15cm (33,34 khóm/m
2
) với tổ hợp lai
Dhan1 tại vùng Gazinpur vào mùa khô năm 2000, cấy 1 dảnh cho năng suất
cao nhất. Tuổi mạ khi cấy là 30 ngày. Năng suất cao nhất ở mức phân bón
120kg N/ha, vƣợt qua mức trên năng suất không tăng. Năng suất cao nhất thu
đƣợc ở công thức bón đạm vào lúc đẻ nhánh mạnh. Riêng bón Kali các tác giả
không thu đƣợc sự khác biệt giữa các công thức.
Ngoài ra các tác giả còn quan tâm đến vấn đề quản lý tổng hợp bao
gồm khoảng cách cấy rộng hơn, kỹ thuật tƣới không liên tục với lƣợng nƣớc
tiết kiệm hơn, sử dụng đạm hợp lý theo nhu cầu của mức năng suất mong
muốn, đã rút ra nhận xét việc giảm mật độ bằng cách dãn thƣa khoảng cách
hàng để tăng sinh khối là do tăng khả năng tổng hợp lân trong đất. Việc áp
dụng kỹ thuật tƣới không liên tục đã làm tăng sự phát triển và hoạt tính của bộ
rễ trong quá trình vào chắc của hạt. Sử dụng đạm hợp lý sẽ làm cho thế lá
đứng hơn, nên lúa không bị đổ. Bằng Cải tiến quản lý tổng hợp đã làm tăng
năng suất và giảm khoảng cách giữa năng suất tiềm năng và năng suất thực
tuổi chỉ có 2 lá nhỏ), cấy 1 dảnh (cấy 1 dảnh/ khóm với các khoảng cách cấy
thƣa khác nhau tùy vào đất. Khoảng cách rộng nhƣ vậy sẽ tạo điều kiện cho
bộ rễ có khoảng không để phát triển. Đây là một nhân tố quyết định thành
công của SRI), cấy cẩn thận và sử dụng phân chuồng [41].
14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
* Thành tựu về áp dụng SRI ở một số nƣớc trên thế giới:
SRI đƣợc phát hiện ở Madagascar vào những năm 1980, SRI đã làm
thay đổi tuổi thực tế của cây lúa, thay đổi nƣớc, đất và chất dinh dƣỡng trong
đất và có thể làm tăng năng suất từ 50 - 100%, thậm trí nhiều hơn. Trong khi
đó vẫn cùng một thời gian mà giảm đƣợc lƣợng hạt giống, nƣớc, phân bón,
hóa chất nông nghiệp và thậm trí cả lao động [43], [45].
Phƣơng pháp SRI đạt đƣợc năng suất cao hơn với ít cá thể cây trồng
hơn, làm giảm đáng kể quần thể thực vật đến 80 - 90%. Theo truyền thống
những cánh đồng lúa đƣợc trồng 3 - 6 khóm vào 1 khu, khoảng cách giữa các
hàng từ 10 - 20cm. Với SRI chỉ có một cây đƣợc cấy vào một mẫu hình
vuông, khoảng cách giữa các cây ít nhất là 25cm với 15 - 20 cây/m
2
thay vì
50 - 100 cây/m
2
. Rễ cây có thể lan theo mọi hƣớng và tất cả các lá nhận đƣợc
ánh sáng mặt trời đủ để cho bộ máy quang hợp hoạt động. Việc trồng dày là
cơ sở thực tế dẫn đến việc trồng trọt hạn chế, độ che phủ của lá yếu đi và làm
cho lá sớm bị già cỗi - đặc biệt là ở giai đoạn sinh trƣởng sinh thực [44].
Ở Thái Lan, một cuộc hội thảo đầu bờ đã diễn ra vào ngày 10/05/2001
để thông báo tới nông dân của 3 huyện về kỹ thuật SRI và những nguyên lý
của nó. Nông dân thì không chú ý đến tính khả thi của SRI nhƣng họ đã bị
nông dân ở đây đã cấy với khoảng cách hàng cách hàng là 50 x 50cm, và họ
đã giảm đƣợc 30 – 40% lƣợng nƣớc tƣới sử dụng, 70% sâu bệnh hại [48].
Tại Ấn Độ kỹ thuật SRI đã đƣợc thử nghiệm từ năm 2005 - 2006, thí
nghiệm đƣợc tiến hành với tuổi mạ 12 ngày tuổi, khoảng cách cấy 25 x 25cm
(tƣơng ứng với mật độ là 16 cây/m
2
), chế độ nƣớc đƣợc bão hoà cho đến khi
lúa trỗ bông, sau đó đƣợc giữ ở mực nƣớc 1 - 2cm trong khoảng 20 ngày.
Lƣợng phân bón đƣợc sử dụng chỉ bằng một nửa so với các phƣơng pháp canh
tác khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phƣơng pháp canh tác lúa theo SRI cho
năng suất cao nhất, lƣợng nƣớc sử dụng tiết kiệm hơn các phƣơng pháp canh
tác khác từ 10,5 - 21,27% [39].
Phƣơng pháp canh tác theo SRI đã chứng minh đƣợc rằng chúng có lợi
thế khi áp dụng với các giống địa phƣơng cũng nhƣ các giống lúa lai. Năng
suất cao hơn đã đƣợc khẳng định ở hàng loạt các quốc gia nhƣ Trung Quốc,
Gambia, Ấn Độ, Indonesia, Myanma, Srilanka…Thực tế SRI bị chậm lại một
phần là do ảnh hƣởng bởi cuộc cách mạng xanh ở Châu Á - cuộc cách mạng
dựa trên giống mới và đòi hỏi đầu tƣ nhiều phân bón, nhiều nƣớc. Phƣơng
pháp SRI trái ngƣợc lại là không yêu cầu việc sử dụng giống mới và đầu tƣ
nhiều từ bên ngoài. Nông dân có thể tăng sản lƣợng của mình bằng cách tiếp
tục trồng bất cứ giống gì mà họ đang sử dụng, làm giảm lƣợng hạt giống,
nƣớc tƣới, phân bón và công lao động.