ĐỀ TÀI GIÚP HỌC SINH LỚP 8 VÀ LỚP 9 CÓ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ - Pdf 22


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“GIÚP HỌC SINH LỚP 8 VÀ LỚP 9 CÓ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP
VẬT LÍ “
A- PHẦN MỞ ĐẦU.
I .ĐẶT VẤN ĐỀ :
“ Vì lợi ích mười năm phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm phải trồng người”
Thấm nhuần lời dạy của người, việc đào tạo thế hệ trẻ vừa “hồng”, vừa
“chuyên”, những chủ nhân tương lai của đất nước là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu, là trọng trách lớn lao đặt ra cho ngành giáo dục đào tạo . Mà người thực
hiện là mỗi cán bộ giáo viên, đội ngũ tiên phong, then chốt trong phong trào
“ nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài ’’ mà nghị quyết
Trung ương 2 đã đề ra.
Trước vai trò to lớn của người giáo viên đứng trên bục giảng là truyền thụ
trí thức cho học sinh, trước nhu cầu đổi mới không ngừng của phương pháp dạy
học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh, học sinh chủ động lắm kiến
thức, phát huy năng lực sáng tạo ở người học , thì việc tìm ra một hướng đi
đúng, kích thích được óc quan sát, mong muốn nhận thức , khả năng tìm tòi,
sáng tạo , phát hiện cái mới, khả năng tự hình thành phương pháp học của học
sinh là trăn trở không ngừng của người thầy giáo .
Là giáo viên dạy bộ môn vật lý ở trường phổ thông cơ sở, hiểu rõ phương pháp
bộ môn , nắm được người thầy là người giữ vai trò chỉ đạo trong truyền thụ tri
thức, tổ chức các hoạt động động lĩnh hội tri thức. Thì việc điều khiển các hoạt
động nhận thức của học sinh trên lớp cũng như ý thức tự học ở nhà như thế nào
để học sinh có thể tiếp cận được những nội dung kiến thức một cách dễ dàng
nhất , hiệu quả nhất , hứng thú nhất , nhưng lại sâu sắc nhất là một câu hỏi lớn
đặt ra đòi hỏi mỗi người thầy phải có lời giải đáp.
Xuất phát từ những trăn trở đó mà chúng tôi là nhóm giáo viên giảng dạy bộ
môn vật lý tại trường trung học cơ sở Liên Phương đã quyết tâm cùng nhau thực
hiện sáng kiến kinh nghiệm là làm thế nào để “giúp học sinh lớp 8c và lớp 9 có

diễn đạt hoặc trình bày không lô gic , không khoa học
Mặt khác, do phân phối chương trình không có nhiều thời lượng cho tiết giải bài
tập, thường là nồng ghép trong tiết lí thuyết. Mà học sinh thì lại rất ít được thâm
2

nhập thực tế nên khả năng áp dụng kiến thức đã học vào giải bài tập còn hạn
chế.
Vừa qua, cùng với sự đổi mới phương pháp dạy học chung của ngành
giáo dục, đồng thời qua việc tự kiểm tra, tổng kết tình hình dạy học Vật lí tại
trường, chúng tôi đã triển khai chuyên đề ‘ giúp HS có phương pháp giải bài tập
vật lí’ cho HS và đã thấy được tác dụng giáo dưỡng và giáo dục rất lớn đối với
học sinh khi giải bài tập Vật lí. Từ đó vận dụng vào quá trình giảng dạy, chúng
tôi thấy có hiệu quả hơn so với trước đây, chất lượng học sinh được nâng cao rõ
rệt.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định làm sáng kién kinh nghiệm:
““giúp học sinh lớp 8 và lớp 9 có phương pháp giải bài tập vật lí “
nhằm giúp học sinh nắm chắc được kiến thức cơ bản, mở rộng và hiểu sâu kiến
thức, biết vận dụng vào thực tế. Từ đó nâng cao được chất lượng học tập bộ
môn, xây dựng cho các em hứng thú và lòng yêu thích học tập bộ môn , giúp
cho quá trình giảng dạy nói chung và môn vật lí nói riêng đạt hiệu quả tốt nhất.
B- NỘI DUNG ĐỀ TÀI.
I.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1. Nghiên cứu lí luận về phương pháp giải bài tập Vật lí.
2. Nghiên cứu lí luận về sử dụng bài tập vật lí trong dạy học Vật lí.
3. Nghiên cứu chương trình nội dung kiến thức các bài học Vật lí ở cấp THCS.
3. Nghiên cứu sự tiếp thu kiến thức đã học của học sinh và khả năng vận dụng
các kiến thức đó vào giải quyết các bài tập cụ thể.
4. Nghiên cứu các dạng bài tập điển hình và cách giải quyết các dạng bài tập đó
trong phạm vi chương trình vật lí THCS, đặc biệt là phân loại bài tập vật lí.


hiện
tượng
4
Bài tập sáng tạoBài tập tổng hợpBài tập tập dượt
Bài tập vật lí

1.1. KHẢO SÁT THỰC TẾ.
Trước khi thực hiện đề tài, qua giảng dạy ở trường THCS Liên Phương, qua
tìm hiểu và trao đổi với đồng nghiệp và đánh giá nhận thức của HS chúng tôi
nhận thấy :
- Có nhiều học sinh ham mê học bộ môn Vật lí, nhưng khi làm các bài tập
vật lí các em thường lúng túng trong việc định hướng giải, có thể nói hầu như
các em chưa biết cách giải cũng như trình bày lời giải.
Thực trạng nêu trên có thể do một số nguyên nhân sau:
+ Học sinh chưa có phương pháp tổng quan để giải một bài tập Vật lí.
+ Học sinh chưa biết vận dụng các kiến thức, định luật Vật lí
+ Nội dung cấu trúc chương trình sách giáo khoa mới không dành
nhiều thời lượng cho việc hướng dẫn học sinh giải bài tập hay luyện tập ( đặc
biệt là chương trình vật lí ở các lớp: 6, 7, 8), dẫn đến học sinh không có điều
kiện bổ sung, mở rộng và nâng cao kiến thức cũng như rèn kỹ năng giải bài tập
Vật lí.
1.2. TỔ CHỨC CHUYÊN ĐỀ.
Ngoài việc nắm vững kiến thức, để có kỹ năng tốt trong việc giải bài tập
Vật lí đòi hỏi học sinh phải nắm vững phương pháp giải cũng như cách trình bày
lời giải, phải có kỹ năng phân loại được các dạng bài tập.
Vì vậy để giúp học sinh lớp 8 và lớp 9 nắm vững phương pháp giải một
bài tập vật lí, trong năm học này chúng tôi đã kết hợp với tổ chuyên môn tổ chức
cho học sinh học chuyên đề “giúp học sinh lớp 8 và lớp 9 có phương pháp
giải bài tập Vật lí ”.
Trong chuyên đề này chúng tôi chia thành 3 nội dung, hướng dẫn học

khi gặp một bài tập phức tạp.
- Thực hiện một cách cẩn thận các phép tính số học, đại số hoặc hình học.
Nên hướng dẫn học sinh làm quen dần với cách giải bằng chữ và chỉ thay giá trị
bằng số của các đại lượng trong biểu thức cuối cùng.
- Chỉ rõ tính chất, định luật đã sử dụng.
6

- Khi tính toán bằng số, phải chú ý đảm bảo những trị số của kết quả đều
có ý nghĩa.
d) Kiểm tra đánh giá kết quả.
- Kiểm tra lại trị số của kết quả: Có đúng không? Vì sao? Có phù hợp với
thực tế không? Bài giải có thuyết phục không ? Lập luận đã chặt chẽ chưa ?
- Kiểm tra lại các phép tính: có thể dùng các phép tính nhẩm và dùng cách
làm tròn số để tính cho nhanh nếu chỉ cần xét độ lớn của kết quả trong phép tính.
- Nếu có điều kiện, nên phân tích, tìm một cách giải khác, đi đến cùng
một kết quả đó. Kiểm tra xem còn con đường nào ngắn hơn không.
1.2.2.Hai phương pháp suy luận để giải các bài tập vật lí.
Xét về tính chất thao tác của tư duy, khi giải các bài tập vật lí, người ta
thường dùng phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp.
a) Giải bài tập bằng phương pháp phân tích.
- Theo phương pháp này, xuất phát điểm của suy luận đại lượng cần tìm.
Người giải phải tìm xem đại lượng chưa biết này có liên quan với những đại
lượng Vật lí nào khác và một khi biết sự liên hệ này thì biểu diễn nó thành
những công thức tương ứng. Nếu một vế của công thức là đại lượng cần tìm còn
vế kia chỉ gồm những dữ liệu của bài tập thì công thức ấy cho ra đáp số của bài
tập. Nếu trong công thức còn những đại lượng khác chưa biết thì đối với mỗi đại
lượng đó, cần tìm một biểu thức liên hệ với nó với các đại lượng Vật lí khác; cứ
làm như thế cho đến khi nào biểu diễn được hoàn toàn đại lượng cần tìm bằng
những đại lượng đã biết thì bài toán đã được giải xong.
Như vậy cũng có thể nói theo phương pháp này, ta mới phân tích một bài

của nó bằng công thức:
R
=
ρ
l
S

Do đó:
.R S
l
ρ
=
(1)
* Trong biểu thức của chiều dài có một đại lượng mới chưa biết đó là điện
trở R của dây. Điện trở này đo bằng tỉ số của hiệu điện thế U với cường độ dòng
điện I qua dây:
U
R
I
=
(2)
* Đại lượng mới chưa biết là cường độ dòng điện I thì liên hệ với các đại
lượng khác bằng định luật Ôm và bằng công thức biểu diễn năng lượng A do
dòng điện toả ra. Ta đã dùng định luật Ôm trong (2). Vậy mối liên hệ giữa I và
A là:
A = I.U.t
trong đó t là thời gian dòng điện chạy qua dây; từ đó suy ra:
8

.


- Thay (2)

vào (1) được
2
. .
.
U t S
l
Q
ρ
=
(1)


-Thay các đại lượng trên bằng các trị số của chúng vào (1)

+Với:U = 220 V
t = 1h = 3600s
S = 10 mm
2
= 10.10
-4
m
2
Q = 2 970 000 J
ρ
= 0,4.10
-4


trong đó R là điện trở của dây dẫn của lò sưởi, I là cường độ dòng điện qua lò
sưởi.
* Theo định luật Ôm, ta có:
U
I
R
=
(2)
* Nhưng điện trở của dây dẫn lại phụ thuộc kích thước và bản chất của
dây dẫn theo công thức:
l
R
S
ρ
=
(3)
trong đó
ρ
là điện trở suất,
l
là chiều dài của dây dẫn, S là tiết diện của dây dẫn.
* Thay các biểu thức (2) và (3) vào biểu thức (1), ta được:
2
.
.
U t
Q
l
S
ρ

10

ngay để kiểm tra lại mức độ đúng đắn của sự phân tích các điều kiện ấy. Muốn
lập được kế hoạch giải, phải đi sâu vào phân tích nội dung vật lí của bài tập.
Tổng hợp những dữ kiện đã cho với những quy luật vật lí đã biết, ta mới xây
dựng được lời giải và kết quả cuối cùng.
Như vậy ta có thể nói là trong quá trình giải bài tập vật lí ta đã dùng
phương pháp phân tích - tổng hợp.
1.2.3.áp dụng phương pháp giải bài tập vật lí vào một số bài tập cơbản.
1.Bài toán 1.
Bỏ một quả cầu đồng thau khối lượng 1 kg được nung nóng đến 100
o
C
vào trong thùng sắt có khối lượng 500g đựng 2kg nước ở 20
o
C. Bỏ qua sự trao
đổi nhiệt với môi trường .Tìm nhiệt độ cuối cùng của nước.
Biết nhiệt dung riêng của đồng thau, sắt, nước lần lượt là:
c
1
= 380 J/kg.K; c
2
=460 J/kg.K; c
3
= 4200 J/kg.K.
 Hướng dẫn giải:
* Tìm hiểu các điều kiện đã cho của bài.
- Tóm tắt:
m
1

t ?
* Phân tích bài toán.
- Đây là bài toán trao đổi nhiệt của một hệ vật (gồm 3 vật). Điều quan
trọng phải hiểu rằng bài toán yêu cầu tìm nhiệt độ cuối cùng của nước, nhưng
11

cũng là nhiệt độ chung của hệ khi kết thúc quá trình trao đổi nhiệt. Để giải bài
toán này cần áp dụng phương trình cân bằng nhiệt:
Q
toả ra
=Q
thu vào
- Do vậy phải xác định được những vật nào là vật toả nhiệt, những vật nào
là vật thu nhiệt, viết được công thức tính nhiệt lượng toả ra vào hay thu vào của
các vật:
Q = mc

t
-Với lưu ý rằng trong bài toán này nhiệt độ ban đầu của hai vật thu nhiệt
( thùng sắt và nước) là bằng nhau( t
2
= t
3
).
- Trên cơ sở phương trình cân bằng nhiệt vừa lập được kết hợp với dữ
kiện đã cho của bài toán để suy ra đại lượng cần tìm (t).
*Bài giải.
- Nhiệt lượng do quả cầu bằng đồng thau toả ra khi hạ nhiệt độ từ 100
o
C

Q
3
= m
3
.c
3
(t –t
2
) (2)
- Áp dụng phương trình cân bằng nhiệt ta có:
Q
1
= Q
2
+ Q
3
(3)
từ (1),(2) và (3)

m
1
.c
1
(t
1
– t) = m
2
.c
2
(t –t

c
2
+ m
3
c
3
) t
2⇒
t =
1 1 1 2 2 3 3 2
1 1 2 2 3 3
( )m c t m c m c t
m c m c m c
+ +
+ +
- Thay các đạt lượng trên bằng trị số của chúng ta được:
t =
1.380 (0,5.460 2.4200).20
19,2( )
1.380 0,5.460 2.4200
o
C
+ +

+ +
- Vậy nhiệt độ cuối cùng của nước là 19,2
o

1
.t Hay S
1
= 25.t
S
2
= V
2
.t Hay S
2
= 12,5.t
Khi hai ngi gp nhau thỡ :S
1
+S
2
= 75km
Hay :25.t +12,5.t = 75
2
5,1225
75
=
+
=t
gi
Vy sau 2 gi hai ngi gp nhau.
V trớ gp nhau cỏch A mt on :AG = S
1
= 25.2 =50km
3.Bi toỏn 3.
Mt m in cú hai in tr: R

13

- Thời gian đun sôi nước khi chỉ dùng điện trở R
1
.
- Tóm tắt: R
1
= 4

; R
2
= 6

t
1
= 10 phút
t
2
?
t
3
? khi R
1
nt R
2
.
t
4
? khi R
1

(3)
- Từ đây nên chọn công thức nào để giải bài toán, điều này đòi hỏi sự
nhanh nhạy, suy diễn cao.
Nếu chọn (2) thì vẫn còn đại lượng I chưa biết, do đó chọn công thức (3)
- Cần biểu diễn các đại lượng cần tính.
+ Giá trị điện trở của ấm trong 4 trường hợp:
1/ R = R
1
2/ R = R
2
3/ R = R
1
+ R
2
4/
1 2
1 1 1
R R R
= +
hay R =
1 2
1 2
.R R
R R+

14

-Với chú ý rằng nhiệt lượng mà dây điện trở của ấm toả ra trong 4 trường
hợp là như nhau.
- Hiệu điện thế trong các trường hợp là không đổi.

R
(1)
b. Chỉ dùng dây R
2
: Q
2
=
2
2
2
U
t
R
(2)
từ (1) và (2)


2
1
1
U
t
R
=
2
2
2
U
t
R

1
1
U
t
R
=
2
3
1 2
U
t
R R+


1 2
3 1
1
4 6
.10 25( )
4
R R
t t ph
R
+
+
= = =
d. Khi dùng R
1
song song R
2

tiết/tuần đối với các khối lớp 6, 7, 8 và 2 tiết / tuần đối với lớp 9. Như vậy
không có đủ lượng thời gian để giáo viên mở rộng và nâng cao kiến thức cũng
như rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh. Do đó bên cạnh việc tổ chức
các chuyên đề thì một trong những biện pháp tốt nhất để rèn luyện kỹ năng giải
bài tập cho học sinh để học sinh có thể thường xuyên được luyện giải nhiều
dạng bài tập khác nhau, cũng như tiếp xúc với các dạng bài tập có tính chất mở
rộng và nâng cao, để từ đó học sinh có thể vận dụng một cách linh hoạt các cách
giải từng dạng bài tập đó là : “Hướng dẫn học sinh học tập vật lí ở nhà.”
Việc học sinh tự học ở nhà có một ý nghĩa lớn lao về mặt giáo dục và giáo
dưỡng. Nếu việc học ở nhà của học sinh được tổ chức tốt sẽ giúp các em rèn
luyện thói quen làm việc tự lực, giúp các em nắm vững tri thức, có kỹ năng, kỹ
xảo. Ngược lại nếu việc học tập ở nhà của học sinh không được quan tâm tốt sẽ
làm cho các em quen thói cẩu thả, thái độ tắc trách đối với việc thực hiện nhiệm
vụ của mình dẫn đến nhiều thói quen xấu làm cản trở đến việc học tập.
Công việc học tập của học sinh ở nhà có những đặc điểm riêng sau:
+ Tiến hành trong một thời gian ngắn, không có sự hướng dẫn trực tiếp của
giáo viên, mặc dù đấy là công việc do chính giáo viên giao cho học sinh phải tự
mình hoàn thành, tự kiểm tra công việc mình làm.
+ Công việc này được thực hiện tuần tự theo hứng thú, nhu cầu và năng lực
của học sinh.
+ Dễ bị chi phối bởi ngoại cảnh khác.
Có thể coi quá trình học tập của học sinh ở nhà bao gồm các giai đoạn :
trước hết phải nhớ lại những điều đã học ở lớp sau đó rèn luyện sáng tạo. Mỗi
giai đoạn có một nội dung công việc cụ thể.
16

Việc học tập của học sinh ở nhà phụ thuộc phần lớn vào việc dạy học trên
lớp của giáo viên. Vì vậy giáo viên cần phải căn cứ vào tình hình tiếp thu kiến
thức của học sinh mà giao cho các em những công việc có tính chất bổ sung
phục hồi tài liệu đã học như : nghiên cứu sách giáo khoa, vẽ hình ….

rệt trong cách trình bày và trong cách lập luận, giải quyết bài toán.
Để kiểm tra đánh giá cụ thể hiệu quả đạt được của chuyên đề chúng tôi đã
thường xuyên tiến hành kiểm tra đánh giá năng lực của HS thông qua kiểm tra
miệng, kiểm tra vấn đáp, kiểm tra 15 phút, 45 phút, kiểm tra nhanh, làm trên
phiếu học tập đặc biệt là qua bài kiểm tra khảo sát chất lượng học kỳ. Thực tế
cho thấy các em càng được cọ sát nhiều thì năng lực tư duy cũng như kỹ năng
làm bài càng được trau dồi , củng cố và nâng cao hơn , các em chủ động và tích
cực hơn trong lĩnh hội tri thức và trong quá trình tham gia làm bài tập.
2. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN :
Sáng kiến kinh nghiệm này áp dụng cho tất cả các đối tượng giáo viên
dạy vật lý lớp 8, 9 .Tuy nhiên với những giáo viên có trình độ cao và có phương
pháp giảng dạy tốt thì hiệu quả thu được sẽ cao hơn nhiều .
Trong quá trình thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm này chúng tôi gặp rất
nhiều thuận lợi:
- Được ban giám hiệu tạo điều kiện tốt nhất và giúp đỡ hoàn thành tốt
chuyên đề.
- Được các đồng nghiệp trong và ngoài nhóm hưởng ứng tích cực.
- Được HS tin tưởng và nhiệt tình tham gia với mong muốn lĩnh hội kiến
thức một cách tốt nhất , mong muốn tự xây dựng được phương pháp giải
bài tập vật lí cho riêng mình.
- Trong nhóm có những đồng chí giảng dạy nhiều năm nên hiểu rõ những
thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện.
Tuy vậy cũng không tránh khỏi một số khó khăn như :
- Thời gian tổ chức chuyên đề còn ngắn
- Học sinh đã quen trình bày tuỳ tiện nên cần giúp các em có hệ thống.
18

- Thời lượng trong phân phối chương trình dành cho tiết luyện tập còn ít nên
HS ít có cơ hội luyện tập trên lớp .
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nghiên cứu kỹ các kiến thức cần nhớ
để ôn tập, nhớ lại kiến thức cơ bản, kiến thức mở rộng, lần lượt nghiên cứu kỹ
các phương pháp giải bài tập sau đó giải các bài tập theo hệ thống từ dễ đến khó,
so sánh các dạng bài tập để khắc sâu nội dung kiến thức và cách giải. Trên cơ sở
đó học sinh tự hình thành cho mình kỹ năng giải bài tập.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà nhóm giáo viên lý trường THCS Liên
Phương chúng tôi đã rút ra được từ thực tế qua quá trình giảng dạy bộ môn Vật
lí nói chung, cũng là kinh nghiệm rút ra được sau khi thực hiện đề tài này nói
riêng.
C. KẾT LUẬN .
Môn Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi người học
phải phát huy cao độ tính tích cực, độc lập sáng tạo của mình trong quá trình
lĩnh hội tri thức. Chính vì vậy lựa chọn phương pháp dạy học bộ môn vật lí,
người giáo viên cần căn cứ vào phương pháp đặc thù của khoa học lấy hoạt
động nhận thức của học sinh làm cơ sở xuất phát, thầy chỉ đạo, trò chủ động,
tích cực tiếp thu tri thức , vận dụng linh hoạt vào thực hành và vào trong đời
sống.
20

Sau thời gian nghiên cứu tìm hiểu, được sự quan tâm giúp đỡ của ban
giám hiệu nhà trường cũng như tổ chuyên môn nhóm chúng tôi đã thực hiện
được đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “ Giúp học sinh lớp 8 và lớp 9 có phương
pháp giải bài tập vật lí” với mong muốn: phát triển năng lực duy rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo cho học sinh trong việc học tập bộ môn Vật lí. Nhằm nâng cao chất
lượng bộ môn nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung.
1.

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status