ĐỀ TÀI: PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC CHO HỌC SINH LÀM THÍ NGHIỆM VẬT LÍ 6 - Pdf 22


1
Đề tài:
“PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC CHO HỌC SINH
LÀM THÍ NGHIỆM VẬT LÍ 6”
A. ĐẶT VẤN ĐỀ :
1. Tính cấp thiết của vấn đề:
Người xưa có câu “Học đi đôi với hành”, “Trăm nghe không
bằng một thấy”.
Thật vậy vấn đề “Thực hành thí nghiệm” trong việc học tập đối
với các thế hệ đi trước cũng được chú trọng rất nhiều.
Đối với phương pháp dạy học hiện nay giáo viên có nhiệm vụ
tổ chức điều khiển cho các em lĩnh hội kiến thức. Còn học sinh là đối
tượng tích cực, chủ động trong việc học tập để chiếm lĩnh kiến thức
cho mình. Do vậy vấn đề “Thực hành thí nghiệm” lại càng hết sức
quan trọng đối với phương pháp dạy và học hiện nay.
Đối với những nội dung thực hành tiết thực hành, giáo viên
phải tổ chức thao tác và hướng dẫn như thế nào để các em thao tác
thực hành thí nghiệm lại cho đúng và có hiệu quả.
Vả lại trong thực tế giảng dạy, dự giờ các giáo viên cùng dạy
môn Vật lý tôi nhận thấy rằng các giáo viên khi tổ chức cho các em
làm thí nghiệm, các giáo viên thao tác hướng dẫn vẫn gặp không ít
khó khăn vướng mắc. Chính vì vậy, là bản thân trực tiếp giảng dạy
môn Vật lý 6 tôi xin đưa ra một phương pháp tổ chức cho các em thực
hành thí nghiệm để từ đây về sau các giáo viên và học sinh tránh
được những khó khăn vướng mắc và khắc phục những khó khăn đó để
Trang

2
giúp cho việc dạy và học môn Vật lý 6 tới đây và về sau ngày một có
kết quả hơn.

thí nghiệm. Chính vì vậy giáo viên tổ chức cho các em hoạt động chưa
đúng yêu cầu nội dung của tác giả viết sách.
Vẫn còn một số giáo viên thao tác mẫu và làm thí nghiệm chưa
thạo. Do đó việc hướng dẫn cho học sinh làm thí nghiệm cũng chưa
đạt yêu cầu với sự sai sót đó dẫn đến tiết dạy không đạt, học sinh
không nắm được bài, không hứng thú học tập về môn vật lý. Kết quả
chất lượng học tập về môn vật lý 6 ở tiết học đó của các em chưa đạt.
Khi tổ chức cho các em làm thí nghiệm một số giáo viên
thường quên giới thiệu dụng cụ cho các em nắm. Chưa có hướng dẫn
cho các em cách sử dụng thiết bị hoặc hướng dẫn chưa rõ ràng mà đã
phân phát các thiết bị đến cho các em thực hiện.
Đồng thời cũng còn một số giáo viên chưa phân công nhiệm vụ
cụ thể cho từng nhóm mà đã yêu cầu các em thực hiện. Thậm chí có
số giáo viên quên không có đưa ra thời gian cụ thể cho các em thực
hiện một thí nghiệm, chính vì vậy các em không thể phân chia thời
gian phù hợp để thực hiện đủ thời gian cho từng phần, từng nội dung
của bài.
Trong khi các em làm thí nghiệm còn một số giáo viên quản lý
chưa tốt, chưa có bổ sung uốn nắn thiếu sót khi các em đang thực
hành.
Trang

4
Bên cạnh đó các thiết bị thí nghiệm giáo viên và học sinh quản
lí, bảo quản chưa kĩ đôi khi dẫn đến hư hao.
Tồn tại nữa giáo viên và học sinh thao tác thực hành thí nghiệm
chưa khéo, chưa đúng kĩ thuật dẫn đến không an toàn trong thực hành
thí nghiệm như đứt tay, bị bỏng hoặc bị đổ vỡ thiết bị…
Vẫn còn một số giáo viên không biết khắc phục điều kiện môi
trường, chưa có linh họat sáng tạo. Chính vì vậy công việc thực hành

việc của thầy và trò.
Bước 2: Trước khi thực hiện một thí nghiệm nào đó giáo viên
cần nghiên cứu kỹ nội dung, hướng dẫn làm thí nghiệm trong SGK,
quan sát kĩ thao tác làm trong tranh ảnh của SGK. Song giáo viên cần
phải làm thí nghiệm trước ở nhà cho thuần thạo trước khi lên lớp.
Trong khi làm thí nghiệm giáo viên nên linh hoạt khắc phục điều kiện
môi trường chẳng hạn như “gió”.
Đối với bài 23 “Thực hành đo nhiệt độ” muốn cho kết quả diễn
ra mau tiết kiệm được thời gian dành cho các em hoạt động khác, giáo
viên nên khắc phục yếu tố “gió” bằng cách yêu cầu các em tạm thời
đóng bớt các cửa sổ lại, nếu cần đóng luôn cả cửa lớn và tắt quạt gió
thì kết quả thí nghiệm xảy ra mau hơn…
Bước 3: Trước khi tiến hành làm thí nghiệm, giáo viên nên giới
thiệu sơ lược về dụng cụ và cách sử dụng cho học sinh rõ. Đồng thời
giáo viên cần hướng dẫn và thao tác mẫu một lần cho các em xem.
Trang

6
Chẳng hạn đối với bài 20 “Sự nở vì nhiệt của chất khí” chúng
ta cần hướng dẫn và thao tác mẫu cho các em như sau:
- Cắm một ống thủy tinh nhỏ xuyên qua một nút cao su của một
bình cầu.
- Nhúng một đầu ống vào cốc nước màu. Dùng ngón tay bịt
chặt đầu còn lại, rồi rút ống ra khỏi cốc sao cho còn một giọt nước
màu trong ống.
- Lắp chặt nút cao su gắn ống thủy tinh với nước màu vào bình
cầu để nhốt một lượng khí trong bình. Xát hai bàn tay vào nhau cho
nóng lên, rồi áp chặt vào bình cầu. Quan sát hiện tượng xảy ra với giọt
nước màu.
Bước 4: Phải giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm và một số

hoạt động thí nghiệm để kết quả thí nghiệm diễn ra nhanh hơn, chính
xác hơn.
Chẳng hạn đối với bài số 26 “Sự bay hơi và sự ngưng tụ” khi
làm thí nghiệm để kiểm tra tác động của nhiệt độ đối với sự bay hơi
của nước. Ở thí nghiệm này chúng ta cần hướng dẫn các em đổ vào
hai đĩa nhôm với một lượng nước vừa phải có thể ít hơn so với hướng
dẫn của SGK và đĩa được hơ nóng đặt sát ngọn đèn cồn đảm bảo ngọn
lửa tiếp xúc mặt ngoài đĩa, chắc chắn kết quả thí nghiệm sẽ xảy ra
nhanh hơn.
Trang

8
Bước 8: Đối với một số thiết bị dụng cụ ngành cung cấp còn
thiếu hoặc đã sử dụng hết hoặc đã bị hư hao. Nếu các thiết bị dụng cụ
đó giáo viên có thể tự tạo được thì nên làm thêm cho đủ.
Chẳng hạn đối với bài 10 “Lực kế phép đo lực – Trọng lượng
và khối lượng” giáo viên nên tự làm thêm: Cái cung và một số mũi tên
để minh họa cách đo lực mà dây cung tác dụng vào mũi tên lúc bắt
đầu bắn tên.
Hoặc đối với thí nghiệm để chứng minh sự co dãn vì nhiệt của
chất rắn bài 21 “Một số ứng dụng của sự nở vì nhiệt”. Đối với thiết bị
để dạy bài này dụng cụ chốt ngang (bằng gang) đến nay đã sử dụng
hết trong các năm học trước. Nay dạy đến không có thì giáo viên phải
tìm những vật tương tự hoặc có thể tự chế bằng cách dùng ruột bút chì
loại to, sau đó dùng dung dịch đồng sunfat (CaSO
4
) rồi áp dụng
phương pháp “Tác dụng hóa học của dòng điện” để mạ thêm xung
quanh ruột bút chì một lớp đồng đảm bảo độ cứng như chốt ngang để
chúng ta vẫn có đủ dụng cụ thực hiện thí nghiệm một cách bình

khéo léo kỹ thuật hơn, các em có ý thức hơn và sáng tạo hơn.
- Kết quả là các em hiểu bài hơn, tiếp thu nhanh hơn và kiến
thức các em được khắc sâu hơn.
- Luyện cho các em có tinh thần thái độ khi làm việc với tập thể
tốt hơn.
- Cuối cùng là kết quả học tập của các em được nâng lên rõ rệt.
- Về định lượng:
Trang

10
* Lớp thử nghiệm: 6A có 34H
* Lớp đối chứng : 6B có 38H
- Về định tính:
Đối với lớp 6A năm nay được áp dụng đầy đủ phương pháp này
thì chất lượng học tập của các em tăng lên rõ rệt. Thao tác thực hành
thí nghiệm của các em thuần thạo hơn, kỹ thuật hơn, các em có hứng
thú hơn, ý thức kỹ luật của các em hiện giờ cao hơn và ít sai sót khi
thực hành thí nghiệm so với lớp 6B năm học trước.
* Kết quả thử nghiệm:
Lớp 6 của năm học hiện nay tỷ lệ môn vật lý đạt cuối năm.
Phân loại Tổng số Giỏi Khá TB Yếu Kém
Số học sinh
Tỉ lệ
Lớp 6 của năm học trước tỷ lệ môn vật lý đạt cuối năm.
Phân loại Tổng số Giỏi Khá TB Yếu Kém
Số học sinh
Tỉ lệ
C. KẾT QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT.
Qua kết quả về môn vật lý của 2 lớp thử nghiệm 6 và 6 nói trên,
tôi nhận thấy rằng khi giáo viên tổ chức điều khiển và áp dụng đầy đủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status