Tổ chức học sinh làm thí nghiệm trong giờ Vật lí (phần Điện học)
A-PHẦN MỞ ĐẦU:
I-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1/ Lý do khách quan:
Nhằm đảm bảo tốt việc thực hiện mục tiêu đào tạo mơn Vật lý ở trường
trung học cơ sở (THCS) cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thơng cơ bản, có
hệ thống và tương đối tồn diện.
Rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng vận dụng các
kiến thức Vật lý để giải thích những hiện tượng Vật lý đơn giản, những ứng dụng
trong đời sống, kỹ năng quan sát.
Vật lý học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng, sự phát triển của
khoa học Vật lý gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại, trực tiếp với sự tiến bộ của
khoa học kỹ thuật. Vì vậy, những hiểu biết và nhận thức Vật lý có giá trị lớn trong đời
sống và trong sản xuất, đặc biệt trong cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Ngày nay việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những vấn đề
được quan tâm hàng đầu trong xã hội.Trong bối cảnh tòan ngành Giáo Dục và Đào
Tạo đang nổ lực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát huy tính tích
cực chủ động của học sinh trong họat động học tập mà phương pháp dạy học là cách
thức họat động của giáo viên trong việc chỉ đạo,tổ chức họat động học tập nhằm giúp
học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạy học.
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII đã khẳng định “phải đổi mới phương
pháp giáo dục đào tạo ,khắc phục lối truyền thụ một chiều ,rèn luyện thành nếp tư duy
sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện
hiện đại của q trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu
cho học sinh…”
Luật Giáo dục, điều 24.2 “ Phương pháp giáo dục phổ thơng phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặc điểm của
Thực hiện: Võ Văn Cường - 1 -
Tổ chức học sinh làm thí nghiệm trong giờ Vật lí (phần Điện học)
Giáo viên giảng dạy mơn Vật lý khối lớp 7, 9.
Thực hiện: Võ Văn Cường - 2 -
Tổ chức học sinh làm thí nghiệm trong giờ Vật lí (phần Điện học)
Học sinh khối 7, 9.
Thái độ học của học sinh trong khi làm thí nghiệm Vật lý.
Chương trình sách giáo khoa lớp 9 .
Hệ thống các bài thí nghiệm về điện trong giờ Vật lý.
V- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
1. Phương pháp nghiên cứu chương trình nội dung sách giáo khoa Vật lý
và tài liệu liên quan .
a.Mục đích :
Hệ thống các thí nghiêm.
Tiến hành xây dựng hệ thống thí nghiệm.
b.Tài liệu :
Sách giáo khoa vật lý.
Bảng phân phối chương trình Vật lý.
Sách giáo viên, sách bài tập, sách tham khảo .
c. Cách tiến hành :
Thu thập các tư liệu có liên quan đến đề tài: sách giáo khoa Vật lý , các bài
học có làm thí nghiệm.
Cần nghiên cứu kỹ kiến thức khi làm thí nghiệm.
2.Phương pháp trò chuyện phỏng vấn :
a.Mục đích :
Tìm hiểu tình hình học và làm thí nghiệm Vật lý của học sinh.
Những khó khăn và thuận lợi khi xây dựng làm thí nghiệm phần điện học.
b.Đối tượng :
Giáo viên bộ mơn.
Học sinh khối 7, 9.
c.Nội dung :
Đặt câu hỏi để tìm hiểu việc làm thí nghiệm của giáo viên và học sinh.
Tóm lại :
Qua việc nghiên cứu bằng các phương pháp nêu trên, ta cần rút ra những kinh
nghiệm tiên tiến và tìm ra những biện pháp thực hiện tốt nhiệm vụ của vấn đề .
Thực hiện: Võ Văn Cường - 4 -
Tổ chức học sinh làm thí nghiệm trong giờ Vật lí (phần Điện học)
B-PHẦN NỘI DUNG:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Vật lý học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng. Mơn Vật lý có mối
quan hệ gắn bó chặt chẽ, qua lại giữa các mơn khác. Việc tổ chức dạy học Vật lý
THCS cần rèn luyện cho học sinh đạt được:
− Kỹ năng quan sát các hiện tượng và q trình vật lý để thu
thập thơng tin và các dữ liệu cần thiết.
− Kỹ năng sử dụng các dụng cụ đo lường vật lý phổ biến, lắp
ráp và tiến hành các thí nghiệm đơn giản.
− Kỹ năng phân tích, xử lý các thơng tin và các dữ liệu thu được
từ các quan sát hoặc thí nghiệm.
− Kỹ năng vận dụng các kiến thức để giải thích các hiện tượng
vật lý đơn giản để giải quyết một số vấn đề trong thực tế cuộc sống
− Khả năng đề xuất các dự đóan hoặc giả thiết đơn giản về mối
quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng vật lý.
− Khả năng đề xuất phương án thí nghiệm đơn giản để kiểm tra
dự đóan hoặc giả thiết đã đề ra.
− Kỹ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác bằng ngơn ngữ vật lý.
Khối lượng nội dung của tiết học Vật lý được tính tóan để có thời gian dành
cho các hoạt động tự lực của học sinh và đáp bứng những u cầu sau:
− Tạo diều kiện để cho học sinh có thể quan sát trực tiếp các hiện tựơng
vật lý.
− Tạo diều kiện để cho học sinh thu thập và xử lý thơng tin, nêu ra được
các vấn đề cần tìm hiểu.
− Tạo diều kiện để cho học sinh trao đổi nhóm, tìm phương án giải quyết
3. Giáo viên có thể làm mẫu cho HS xem: có những thí nghiệm tương
đối khó thực hiện, GV có thể làm trước cho HS xem trước các bước hoặc có những đồ
dùng các em chưa từng thực hiện thì GV cũng có thể thao tác cho HS thấy.
4. Tiến hành thí nghiệm: các nhóm HS đồng loạt tiến hành thí nghiệm
theo sự hướng dẫn của GV. Từng thành viên trong nhóm thực hiện nhiệm vụ của mình
như đã phân cơng trong nhóm.
5. Các nhóm thảo luận, xử lý, trình bày kết quả: sau khi các nhóm
thực hiện thí nghiệm xong (có thể trong q trình thí nghiệm) các nhóm tự thảo luận,
Thực hiện: Võ Văn Cường - 6 -
Tổ chức học sinh làm thí nghiệm trong giờ Vật lí (phần Điện học)
xử lý kết quả của nhóm mình sau đó trình bày kết quả trên bảng phụ của nhóm hoặc
phiếu học tập mà GV đã hướng dẫn trước đó.
6. Lớp thảo luận thống nhất: sau khi các nhóm trình bày kết quả thí
nghiệm GV cho cả lớp cùng thảo luận kết quả từ đó đi đến thống nhất chung về kết
quả thhực hiện được.
rong những bài thí nghiệm ở phần Điện học trình tự tiến hành thí nghiệm như
trên tuy nhiên nó cũng có những đặc thù riêng của phần Điện học, cụ thể:T
− Chuẩn bị đầy đủ các linh kiện, đồ dùng (nên soạn riêng từng mâm cho
mỗi nhóm)
− Vẽ hình mạch điện lên bảng phụ, u cầu HS cho biết cơng dụng và cách
mắc từng bộ phận trong sơ đồ mạch điện
− Dựa vào mạch điện, hướng dẫn từng bước cho HS mắc mạch điện theo
sơ đồ.
− Chú ý đặt các dây dẫn điện phải liên tục để dễ quan sát (hạn chế đan
chéo nhau)
− GV nhắc HS trong khi ráp mạch điện phải để khóa K hở. Sau khi nhóm
nào báo ráp xong, GV đến kiểm tra cho HS đóng khóa K.
− Nếu nhóm nào khi đóng khóa K mà thấy kim của các dụng cụ quay
ngược lại thì lập tức ngắt khóa k và kiểm tra , đổi cực ở hai chốt của dụng cụ.
− HS biết đọc các số chỉ thị trên mặt đồng hồ đo , giá trị một khoảng chia (
GHĐ và ĐCNN của ampe kế và đối chiếu GHĐ đó xem có phù hợp với bóng đèn như
ở bảng 2 SGK khơng? (bảng 2)
− Cho HS mắc mạch điện, GV lưu ý HS khi mắc ampe kế đảm bảo
chốt (+) của ampe kế được mắc về phía cực dương của pin và khi chưa đóng điện kim
của ampe kế chỉ số 0.
− Nhóm nào mắc mạch điện xong GV kiểm tra lại và cho đóng điện
> HS đọc số chỉ của ampe kế (I
1
) và quan sát độ sáng của đèn.
− Sau đó cho HS tiến hành tương tự với mạch điện dùng nguồn điện
2 pin (đo I
2
)
− Từ đó cho HS so sánh I
1
và I
2
và ghi nhận xét như u cầu C2
(SGK): Dòng điện chạy qua đèn có cường độ càng ……lớn……… thì đèn càng ……
sáng…………
*Chú ý:
− HS mắc đúng chốt + và – của ampe kế.
− Khơng được mắc trực tiếp hai cực của ampe kế vào nguồn điện để
tránh làm hỏng ampe kế và nguồn điện.
Ví dụ2 :
Trong bài 1“SỰ PHỤ THUỘC CỦA CƯỜNG ĐỘ DỊNG ĐIỆN VÀO HIỆU
ĐIỆN THẾ GIỮA HAI ĐẦU DÂY DẪN” (Vật lý lớp 9) cho các nhóm đo cường độ
Thực hiện: Võ Văn Cường - 8 -
*Chú ý:
− GV lưu ý HS trước khi đo phải điều chỉnh cho vơn kế, ampe kế ở
vạch 0.
− Khi mắc vào mạch điện thì ampe kế nối tiếp vào mạch, vơn kế
mắc song song vào mạch cần đo, chốt cộng (+) của ampe kế và vơn kế mắc về phía
cực dương của nguồn điện.
− Chỉ đóng mạch điện trong thời gian ngắn đủ để quan sát số chỉ
của ampe kế và vơn kế.
Thực hiện: Võ Văn Cường - 9 -
Hình 10.3
K + -
Tổ chức học sinh làm thí nghiệm trong giờ Vật lí (phần Điện học)
− Các đoạn dây dẫn khơng được đan chéo nhau để có thể dễ kiểm
tra khi cần thiết.
Ví dụ3 :
Trong bài 10“BIẾN TRỞ - ĐIỆN TRỞ DÙNG TRONG KĨ THUẬT” (Vật lý lớp
9) cho các nhóm mắc biến trở vào mạch điện và sử dụng biến trở trong mạch điện.
Mục đích thí nghiệm: Biết cách mắc biến trở vào mạch điện, biết tác dụng của biến
trở.
− Chuẩn bị : (mỗi nhóm):nguồn điện 3V; 1 biến trở con chạy (20
Ω
-2A); 1 bóng đèn 2,5V; 1 cơng tắc; 5 đoạn dây dẫn.
− HS cho biết các dụng cụ ở mạch điện hình 10.3 ,từ đó cho HS vẽ
sơ đồ mạch điện.
− Sau khi HS vẽ sơ đồ mạch điện GV cho HS nhận dụng cụ và tiến
hành lắp mạch điện.
− GV lưu ý HS đẩy con chạy về phía N để biến trở có điện trở lớn
nhất trước khi cho HS đóng cơng tắc. Sau đó cho HS di chuyển con chạy về phía A và
quan sát độ sáng của bóng đèn.
− Sau khi các
lưu cắm vào mạch điện 220V thì trước khi làm thí nghiệm GV cần kiểm tra để bảo
đảm cách điện giữa cuộn sơ cấp (cắm vào điện 220V) với cuộn thứ cấp ở mạch điện
HS sử dụng.
− Trên bàn GV cần có cầu dao điều khiển điện cho cả lớp, ở cầu dao này
dùng dây chì loại nhỏ để dễ ngắt mạch khi có sự cố. Sau khi kiểm tra việc lắp mạch
điện của HS xong GV mới đóng mạch cho sử dụng. Khi có sự cố giáo viên có thể ngắt
mạch điện ngay.
− Việc cho học sinh làm thí nghiệm rất quan trọng, nên giáo viên phải tổ
chức cho học sinh làm đều đặn và thường xun, từ đó tạo cho các em thói quen tốt
trong khi làm thí nghiệm. Nhất là đối với phần Điện học, nếu các em được thường
xun làm thí nghiệm thì các em sẽ thành thạo trong cách lắp mạch điện làm cho giáo
viên đở vất vả nhiều trong khâu hướng dẫn ở những tiết sau, các em có thói quen về an
tồn điện và biết cách khắc phục sự cố nếu có.
− Qua việc giảng dạy, dự giờ ở những tiết Vật lý có tổ chức cho HS làm
thí nghiệm thì thấy khơng khí lớp học rất sơi nổi, giúp cho học sinh tiếp thu bài tốt
hơn, các em rất say mê trong những thí nghiệm do chính tay mình làm từ đó các kiến
thức được khắc sâu hơn vì những kiến thức vật lý thường xuất phát từ những thí
nghiệm chứng minh, thí nghiệm thực hành. Tuy nhiên để việc làm thí nghiệm thành
cơng hơn thì giáo viên phải biết tổ chức hợp lý mới có kết quả tốt, phải chọn những
dụng cụ sao cho hạn chế rất ít những sai số khơng cần thiết.
Thực hiện: Võ Văn Cường - 11 -
Tổ chức học sinh làm thí nghiệm trong giờ Vật lí (phần Điện học)
C-PHẦN KẾT LUẬN:
*Kết luận:
Để nâng cao chất lượng của việc dạy và học mơn vật lí ở trường THCS , thì
việc tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm là rất cần thiết và có vai trò quan trọng,
quyết định đến chất lượng dạy và học của mơn vật lí. Làm những thí nghiệm từ đơn
giản đơn giản đến phức tạp giúp học sinh nắm vững, đào sâu, mở rộng kiến thức, từ đó
nâng cao chất lượng học tập mơn vật lí của học sinh.
Qua tìm hiểu tình hình thực tế ở các tiết có làm thí nghiệm cho thấy học sinh rất
5. Vật lý lớp 7 – sách giáo viên (nhà xuất bản giáo dục)
6. Luật Giáo Dục
PHỤ LỤC
Hệ thống câu hỏi trò chuyện phỏng vấn
Đối với giáo viên:
− Thầy ( cơ ) giảng dạy cho học sinh làm thí nghiệm Vật
lý bằng cách nào ?
− Thầy ( cơ ) thấy có những thuận lợi và khó khăn gì khi
cho học sinh làm thí nghiệm?
− Thầy ( cơ ) có cho học sinh làm thí nghiệm thường
xun khơng?
− Thầy (cơ ) chuẩn bị như thế nào trước khi cho học sinh
làm thí nghiệm?
− Thầy ( cơ ) thường chú ý điều gì khi cho học sinh làm
thí nghiệm trong phần Điện học ?
− Thầy ( cơ ) bố trí hệ thống điện như thế nào để an tồn
cho cả lớp học ?
− Các em có dễ dàng thực hiện các bước làm thí nghiệm
theo hướng dẫn của thầy(cơ) khơng ?
Thực hiện: Võ Văn Cường - 13 -
Tổ chức học sinh làm thí nghiệm trong giờ Vật lí (phần Điện học)
− Thầy (cơ) cho biết để đạt hiệu quả tốt khi cho học sinh
làm thí nghiệm cần những yếu tố cơ bản nào ?
− Chất lượng học tập của học sinh qua các tiết có làm thí
nghiệm như thế nào ?
Đối với học sinh:
− Các em có thích học các tiết Vật lý có làm thí nghiệm
khơng?
− Thầy cơ u cầu các em tìm hiểu hoặc giải quyết một
vấn đề Vật lý, các em có thích tìm hiểu và giải quyết vấn đề bằng thí nghiệm