Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở trường THCS
I. MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay môi trường thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ngày càng
suy thoái. Môi trường Việt Nam phong phú và đa dạng nhưng rất hẹp và dân số ngày
càng đông nên sự tác động của con người tới môi trường ngày càng mạnh mẽ. Khai
thác và phá huỷ rừng đã làm giảm mức độ đa dạng sinh học. Quá trình đô thị hoá
đang diễn ra mạnh mẽ, rất nhiều xí nghiệp lớn nhỏ đang tận lực khai thác môi trường.
Các môi trường không khí, đất, nước nhất là ở gần các khu công nghiệp ngày càng bị
ô nhiễm nặng. Mặt khác nạn cháy rừng đã phá huỷ môi trường sinh thái, ảnh hưởng
không nhỏ đến môi trường.
Có thể nói môi trường là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn
thế giới. Môi trường là một khoa học đa ngành, nó đòi hỏi không chỉ riêng các nhà
khoa học nghiên cứu, tìm hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc, mà còn cần thiết cho mọi
người, mọi tầng lớp trong xã hội, trẻ, già, trai gái phải hiểu đầy đủ cơ sở khoa học của
nó, để bảo vệ và xử lý một cách khoa học văn minh, bởi lẽ trái đất là cái nôi sinh
thành và phát triển của con người. Trong mấy chục năm trở lại đây do sự phát triển
kinh tế ào ạt dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự gia tăng
dân số quá nhanh làm cho môi trường bị biến đổi chưa từng thấy. Nhiều nguồn tài
nguyên bị vắt kiệt, nhiều nguồn sinh thái bị phá huỷ mạnh, nhiều cân bằng trong tự
nhiên bị rối loạn. Môi trường bị lâm vào nguy cơ khủng hoảng toàn cầu, trở thành
nguy cơ thực sự đối với cuộc sống hiện tại và sự tồn vong của xã hội trong tương lai.
Thực hiện chỉ đạo của chính phủ, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã và đang phối hợp
với các Bộ, Ngành có liên quan Xây dựng và hoàn thiện văn bản chiến lược phát triển
giáo dục - đào tạo Việt Nam đến năm 2010 đáp ứng yêu cầu phát triển GD &ĐT nước
ta trong thời kỳ CNH – HĐH. Một trong những quan điểm cơ bản chỉ đạo xây dựng
chiến lược GD & ĐT là phát triển GD & ĐT gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã
hội, những tiến bộ KH – CN và củng cố quốc phòng, an ninh trong đó có vấn đề bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững. Chỉ thị 36/CT/TW của Bộ Chính trị Ban chấp
hành Trung ương Đảng ngày 25/4/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường
1
2
Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở trường THCS
I.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của nền giáo dục môi trường là phổ biến cho quần chúng, nâng cao
dân trí, đặc biệt là các thầy giáo, học sinh từ mẫu giáo, tiểu học cho đến các bậc phổ
thông rồi đến sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng. với lực lượng này vừa học tập
để tự nâng cao trình độ, vừa đóng vai trò tuyên truyền giáo dục quần chúng, vừa trực
tiếp tham gia vào công việc xử lý ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường. Rõ ràng
đây là một nhân tố quyết định cho sự thắng lợi thực thi nhiệm vụ chiến lược “Bảo vệ
môi trường”. Vấn đề bảo vệ môi trường là vấn đề mang tính nhân văn, xã hội, cộng
đồng, quốc gia và quốc tế. Nó không những liên quan đến lĩnh vực kinh tế mà còn phụ
thuộc vào cơ sở chính trị, văn hoá xã hội và pháp luật. Do đó giáo dục môi trường
phải làm cho mọi người trong xã hội nhận thức đầy đủ về môi trường và nội dung bảo
vệ môi trường, có ý thức và hành động đúng ở mọi lĩnh vực hoạt động và mọi cương
vị công tác của mình.
Trong khuôn khổ cho phép của đề tài tôi muốn đưa một số kiến thức về nội
dung giáo dục, bảo vệ môi trường thông qua nhiệm vụ giảng dạy môn Hoá học lớp 8 ở
trường THCS.
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
I. SỨ MỆNH CỦA GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
I.1 Tầm quan trọng của môi trường
Môi trường theo nghĩa rộng là tập hợp các yếu tố tự nhiên, xã hội, nhân tạo có
quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau và qua đó ảnh hưởng đến cuộc sống, sự
tồn tại và phát triển của con người và giới tự nhiên.
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển bền vững của đất
nước. Trong quá trình phát triển , con người không chỉ khai thác, chế ngự, chinh phục
thiên nhiên mà còn phải giữ gìn và bảo vệ môi trường tự nhiên, tạo lập môi trường
nhân tạo phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và sản xuất – dịch vụ, xây dựng mối
3
chương trình môi trường liên hợp quốc UNEP đã nêu rõ tính bức xúc của nhiều thách
4
Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở trường THCS
thức môi trường và nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn ngay các nguy cơ khủng
hoảng môi trường. Những vấn đề ưu tiên về môi trường là: sự biến đổi khí hậu, suy
giảm lượng và chất của tài nguyên nước, suy thoái đát, nạn phá rừng và sa mạc hoá
bên cạnh các vấn đề nổi cộm khác như tình trạng ô nhiễm , suy giảm đa dạng sinh
học.
Là một bộ phận của cộng đồng thế giới, bước vào thế kỷ 21 với hiện trạng và
xu hướng diễn biến môi trường trong nhiều năm qua nước ta cũng đang và sẽ phải
đứng đầu với nhiều thách thức lớn về môi trường để phát triển bền vững quá trình
CNH & HĐH.
Quá trình CNH &HĐH thúc đẩy xu hướng đô thị hoá, mở rộng các hoạt động
sản xuất – dịch vụ, nâng cao chất lượng cuộc sống và do đó đòi hỏi nhu cầu cao về
năng lượng, nguyên liệu, các điều kiện thuận lợi về tự nhiên – xã hội đồng thời cũng
làm tăng thêm nguy cơ ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.
Ảnh hưởng của các vấn đề môi trường toàn cầu và quá trình toàn cầu hoá có tác
động mạnh đến vấn đề môi trường và phát triển bền vững ở nước ta như biến đổi khí
hậu, an toàn và vệ sinh thực phẩm, các bệnh lây nhiễm…
Trên cơ sở phân tích đánh giá hiện trạng môi trường ở nước ta trong các năm
gần đây và xu thế diễn biến môi trường trong thừ gian tới, báo cáo hiện trạng môi
trường Việt Nam năm 2000 đã có 8 vấn đề môi trường cần ưu tiên giải quyết ở nước
ta:
- Tàn phá rừng tự nhiên, xuống cấp chất lượng rừng.
- Suy giảm đa dạng sinh học trên cạn và dưới nước.
- Thoái hoá môi trường đất.
- Ô nhiễm môi trường nước do do đô thị hoá và công nghiệp gây ra.
- Ô nhiễm bụi, chì và khí SO
2
trong môi trường không khí đô thị và khu công
quyết định tính chất khí hậu, thời tiết toàn trái đất.
Về mặt sinh học: Trên trái đất có sinh quyển bao gồm các cơ thể sống, thuỷ
quyển và khí quyển tạo thành môi trường sống của sinh vật. Sinh quyển gồm các
thành phần hữu sinh và vô sinh có quan hệ chặt chẽ và tương tác phức tạp với nhau.
Khác với các quyển vật chất vô sinh, trong sinh quyển ngoài vật chất, năng lượng còn
6
Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở trường THCS
có thông tin với tác dụng duy trì cấu trúc và cơ chế tồn tại phát triển cùa các vật sống.
Dạng thông tin phức tạp và phát triển cao nhất là trí tuệ con người, có tác dụng ngày
càng mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của trái đất.
Các thành phần của môi trường không tồn tại ở trạng thái tĩnh mà luôn có sự
chuyển hoá trong tự nhiên diễn ra theo chu trình và thông thường ở dạng cân bằng, gọi
là sự cân bằng sinh thái. Chính sự cân bằng này đảm bảo cho sự sống trên trái đất phất
triển ổn định, các chu trình phổ biến nhất trong tự nhiên là chu trình sinh - địa – hoá
như chu trình Cacbon, chu trình Nitơ, chu trình Lưu huỳnh, chu trình Photpho…v v.
Khi các chu trình này không giữ ở trạng thái cân bằng thì các sự cố về môi trường sẽ
xảy ra, tác động đến sự tồn tại của con người và sinh vật ở một khu vực hoặc ở quy
mô toàn cầu.
II.2. Phát triển
Phát triển là quá trình nâng cao đời sống về vật chất và đời sống tinh thần của
con người bằng phát triển sản xuất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng hoạt
động văn hoá. Phát triển là xu hướng tất yếu khách quan của mỗi cá nhân hoặc cộng
đồng con người. Các mục tiêu này thường được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu kinh tế
như tổng sản phẩm xã hội, tổng thu nhập quốc dân, lương thực, nhà ở, giáo dục, y tế,
văn hoá, khoa học, công nghệ…Những chỉ tiêu này được thực hiện nhờ các hoạt động
phát triển như khai thác tài nguyên thiên nhiên “Than, dầu mỏ, khí đốt, quặng …”, sản
xuất hàng hoá, xây dựng cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ cần thiết cho con người. Các
hoạt động phát triển này thường là nguyên nhân gây nên những sự sử dụng không hợp
lý, lãng phí tài nguyên thiên nhiên, làm suy thoái chất lượng môi trường. Đây chính là
vấn đề môi trường mà khoa học môi trường có nhiệm vụ nghiên cứu giải quyết.
nhiên. Thực phẩm cung cấp cho con người: từ những động vật nuôi hay những loài
động vật hoang dã sống ngoài thiên nhiên.
Ngoài ý nghĩa về mặt vật chất, năng lượng, tính đa dạng sinh học còn có ý nghĩa về
mặt tinh thần. Vẻ đẹp thiên nhiên luôn mang lại cho con người một tinh thần sảng
khoái, là nguồn cảm hứng của các tác giả văn học, thơ ca, hội hoạ, âm nhạc và phim
ảnh.
8
Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở trường THCS
Các hệ sinh thái đảm bảo cho sự chu chuyển oxi và các nguyên tố cơ bản khác,
kiềm chế sự sói mòn đất và bờ biển, điều tiết dòng chảy,duy trì tính ổn định và màu
mỡ của đất đai… là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất.
Những loài cây lương thực cần luôn luôn được bổ xung những tính di truyền
mới lấy từ những loài có họ hàng thân thuộc sống hoang dại đã thích nghi với điều
kiện sống mới của môi trường bằng cách lai giống để tránh tình trạng thoái hoá và
giàm năng xuất.
III. 3. Tính đa dạng trong thiên nhiên
Thiên nhiên đã dành cho đất nước Việt Nam, con người Việt Nam hệ sinh thái
phong phú : Các loài động vật, tài nguyên di truyền, còn gọi là đa dạng sinh học. Các
kết quả điều tra khảo sát cho thấy: chúng ta có khoảng 9 triệu ha rừng, có khoảng
12.000 loài thực vật (đã định tên được 7000 loài), 800 loài chim, 275 loài thú,180 loài
bò sát, 2470 loái cá, 5500 loài côn trùng… Tính độc đáo của đa dạng sinh học khá
cao: 10% số loài chim, cá và thú đã tìm được ở Việt Nam, 40% số loài thực vật thuộc
loại đặc hữu ngoài nước ta không còn thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới.
Sự đa dạng sinh học là nguồn lợi kinh tế của đất nước. Ước tính mỗi năm các
sản phẩm từ nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản đem lại cho đất nước ta 2 tỷ USD.
Song nguồn cung cấp từ tự nhiên này không phải là bất tận. Đất nước ta dẫu không
muốn cũng đã phải gánh chịu binh lửa, sự gia tăng dân số, diện tích rừng bị thu hẹp
(mỗi năm khai thác và nạn cháy rừng mất khoảng 20 – 30 nghìn ha). Sự sai khác bừa
bãi tài nguyên biển ( sản phẩm ngư nghiệp 1 triệu tấn/năm bằng nhiều phương pháp
như lưới, thuốc nổ, điện một chiều cao thế…) và áp dụng rộng rãi hàng loạt các giống
cầu phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy việc dưa nội
dung GDMT và BVMT vào nhà trường là thực hiện yêu cầu trên.
Chỉ thị 36CT/TƯ ngày 25/6/1998 của Ban chấp hành TƯ Đảng về tăng cường
công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đã nhấn mạnh
giải pháp: “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen nếp sống và các
phong trào quần chúng bảo vệ môi trường trongt đó cần đưa các nôi dung bảo vệ môi
trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bài trong hệ thống giáo dục quốc dân:
10
Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở trường THCS
Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua
ngày 27/12/1993 đã thể chế hoá một bước các chủ trương chính sách của Đảng, nhà
nước và ngành giáo dục về BVMT. Điều 4 của Luật BVMT quy định “ Nhà nước có
trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công
nghệ, phổ biến kién thức khoa học và luật pháp bảo vệ môi trường”. Luật Bảo vệ môi
trường là cơ sở và hành lang pháp lý quan trọng để tổ chức triển khai các hoạt động
giáo dục và đào tạo về môi trường trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và
trong trường phổ thông nói riêng. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1363/QĐ -
TTg ngày 17/10/2001 về việc phê duyệt đề án: “ Đưa các nôi dung Bảo Vệ Môi
Trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” đã xác định rõ mục tiêu, nôi dung, phương
thức giáo dục - đào tạo về BVMT:
Đối với giáo dục mầm non: Cung cấp cho các em hiểu biết ban đầu về môi
trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chung, biết cách sống tích cực
với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh về cư thể và trí tuệ.
Đối với giáo dục tiểu học: Trang bị những kiến thức cơ bản phù hợp với độ
tuổi và tâm sinh lý học sinh về các yếu tố môi trường, vai trò của môi trường đối với
con người và tác động của con người đến môi trường, giáo dục học sinh ý thức bào vệ
môi trường.
Đối với giáo dục trung học : Trang bị kiến thức về sinh thái học, mối quan hệ
giữa con người với thiên nhiên , biết cách ứng xử tích cực với môi trường xung quanh.
Bộ Giáo dục và đào tạo đã có quyết định số 3288/QĐ - BGD và DDT HKCN
làm các giọt nước mưa này mang tính axit
(pH từ 6,5 xuống 4,2; cá biệt có khi pH =2). Những axit này do tác dụng của gió cùng
với mây di chuyển khắp nơi rồi rơi xuống mặt đất cùng với các hạt mưa; mưa chứa
axit gọi là mưa axit.
Mưa axit làm huỷ diệt rừng, mùa màng, gây nguy hại đối với sinh vật dưới
nước, người và động vật, phá huỷ các công trình, tượng đài làm bằng cẩm thạch, đá
vôi, đá phiến… Do mưa axit mà đất bị axit hoá tăng khả năng hoà tan một số kim loại
nặng trong nước gây ô nhiễm hoá học, cây cối hấp thu kim loại nặng như Cd, Zn,
Hg…đi vào nguồn thực phẩm gây độc cho người và gia súc.
Có thể thấy mưa axit có tính đa quốc gia như rừng và mùa màng ở Canađa bị tàn phá
bởi mưa axit do chất thải ô nhiễm từ các khu công nghiệp ở Bắc Mỹ hay ô nhiễm
không khí ở nước Anh. Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nước trên
thế giới.
V.2. Hiệu ứng nhà kính
Khí CO
2
trong không khí là chất ô nhiễm không đáng kể trong môi trường
nhưng lượng CO
2
thải vào khí quyển có liên quan đến môi trường toàn cầu. Từ trước
đến nay không phải toàn bộ lượng CO
2
lưu tồn trong khí quyển mà một nửa trong số
đó được sử dụng vào quá trình quang hợp của thực vật và được nước biển hấp thụ tạo
kết tủa hoà tan trong nước biển. Thực vật trong nước biển giữ vai trò quan trọng trong
việc cân bằNG CO
2
giữa khí quyển và đại dương. Nửa phần CO
2
còn lại lưu tồn trong
, CH
4
, hơi
nước bao quanh trái đất có tác dụng như lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau
xanh mùa đông chỉ khác là trên quy mô toàn cầu. Bên cạnh CO
2
(chiếm 50%), CH
4
(chiếm 18%) là khí gây hiệu ứng nhà kính còn có một số khí khác như N
2
O, CFC.
Hiệu ứng nhà kính gây tác hại: Nhiệt độ trái đất tăng là nguyên nhân làm tan
lớp băng ở Bắc cực và Nam cực, làm cho mực nước biển lên cao nên làng mạc, thành
phố ở các vùng đồng bằng thấp ở ven bờ biển sẽ chìm dưới nước biển. Ngoài ra khi
nhiệt độ tăng làm giảm khả năng hòa tan CO
2
trong nước biển nên lượng CO
2
trong
khí quyển tăng làm mất cân bằng CO
2
trong khí quyển và đại dương, ảnh hưởng đến
đời sống sinh vật trên biển và ở cạn.
V. 3. Khói quang hóa
Khói quang hóa là loại khói mang tính chất Oxi hóa rất cao. Khói có màu nâu
gây tác hại cho mắt và phổi, làm gẫy cao su, phá hoại đời sống thực vật. Cơ chế hình
thành khói quang hóa: nguyên tử O được sinh ra do sản phẩm quang hóa từ khí NO
2
dưới tác dụng của tia mặt trời, lại tác dụng với hiđrocacbon hoạt tinh như CH
4
tránh tai họa khói quang hóa phải khống chế sự thải NO
x
và hiđrocacbon vào khí
quyển.
V.4. Tầng Ozon và lỗ thủng tầng Ozon
Qúa trình hình thành và phân hủy tầng Ozon diễn ra song song nên Ozon có chu
kỳ tồn tại trong khí quyển rất ngắn. Lượng Ozon tập chung nhiều nhất trong tầng bình
lưu, ở độ cao 25 km tạo thành tâng Ozon với nồng độ 5 – 10 ppm.
Tầng Ozon được xem là cái ô bảo vệ loài người và động vật tránh khỏi tai họa
tia tử ngoại mặt trời gây ra. Khi bức xạ mặt trời chiếu qua tầng Ozon, phần lớn lượng
bức xạ tử ngoại đã bị hấp thụ trước khi chiếu xuống trái đất. Nếu hoạt động của con
người làm suy yếu tầng Ozon trong khí quyển sẽ gây thảm họa đối với mọi hệ sinh
thái trên mặt đất. Một trong những nguyên nhân làm suy giảm tầng Ozon là do sử
dụng chất CFC (dẫn xuất halogen của metan, etan) được dùng nhiều trong kỹ thuật và
đời sống: tủ lạnh, dung môi mỹ phẩm, chất chữa cháy chúng chơ ở tầng đối lưu
nhgưng khuếch tán chậm lên tầng bình lưu và dưới tác dụng của bức xạ tử ngoại (200
nm) sinh ra các gốc Cl
0
. Một nguyên tử Cl
0
có thể phá hủy hàng nghìn phân tử Ozon
trước khi nó hóa hợp thành chất khác.
Cl
0
+ O
3
ClO
0
+ O
2
1
Cacbonoxit
(CO)
Khí, không
màu, không
mùi, không vị,
tỷ trọng 0,967
Do sự cháy
không hoàn toàn
các vật liệu chứa
cacbon, một
phần CO sinh
học, núi lửa,
động cơ đốt
trong. Mỗi năm
có 250 triệu tấn
CO sinh ra
Khí rất độc, người và
động vật có thể chết
đột ngột khi hit phải
CO do tác dụng mạnh
với Hb (Hemoglobin)
mất khả năng vận
chuyển oxi của máu
gây ra ngat, đau đầu, ù
tai, chóng mặt, buồn
nôn, co giật.
2
Lưu
huỳnhđioxit
2
S)
Khí không
màu, mùi trứng
thối
- Tự nhiên: Chất
hữu cơ, rau cỏ
thối rữa, từ vết
núi lửa, cống
rãnh…
- Mỗi năm mặt
biển có 30 triệu
tấn; mặt đất 60 –
80 triệu tấn; sản
xuất công nghiệp
3 triệu tấn H
2
SO
4
- Tổn thương lá cây,
thực vaath giảm khả
năng sinh trưởng. Nồng
độ thấp gây nhức đầu,
mệt mỏi, nồng độ cao
gây tử vong.
- Sinh ra một lượng
đáng kể SO
2
:
2H
lần
Nhà máy sản
xuất hoá chất và
sinh ra từ sự đốt
than, giấy, chất
dẻo và nhiên liệu
trong tên lửa
- Người: thở nhiều khí
HCl đường hô hấp bị
tổn thương và có thể bị
ngạt
- Cây: Giảm độ bóng
của lá, nồng độ cao gây
chết
6
Nitơ oxit
(NO
x
)
Gồm có NO,
NO
2
, N
2
O,
N
2
O
3
… nhưng
ppm ảnh hưởng đến
tim, phổi; 5ppm ảnh
hưởng đến bộ mayshoo
hấp
7
Khói thuốc
lá
Chất gây ô
nhiễm lớn nhất
trong môi trường
không khí kín
như Cabin, ô tô
…
Gây bệnh ung thư phổi,
tim mạch và dễ dẫn đến
tử vong
8 Amôniăc Khí mùi khai Hệ thống thiết bị Lượng nhỏ sẽ kích
16
Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở trường THCS
(NH
3
) làm lạnh, nhà
máy sản xuất
phân đạm và do
sinh hoạt của
con người
thích thần kinh, cơ thể
tỉnh táo; với cây sẽ
kích thích sinh trưởng
lượng lớn sẽ gây bệnh
Một phần dùng quang
hợp nhưng nếu nồng độ
cao gây nguy hiểm đối
với con người và môi
trường: Hiệu ứng nhà
kính, phá huỷ công
trình xây dựng, đồ dùn
bằng nhôm, các loại sợi
11
Các loại bụi Là tập hợp
nhiều chất vô
cơ và hữu cơ
có kích thước
nhỏ bé tồn tại
trong không
khí
Do các nhà máy
khu công nghiệp,
xây dựng …
- Tổn thương cơ quan
hô hấp, bệnh ngoài da,
bệnh về mắt
- Đối với động thực vật
đều ảnh hưởng tới sự
sinh trưởng và phát
triển
12 Chì (Pb) Kim loại và
hợp chất của
nó đều độc
Sự đốt cháy các
14
Cadimi (Cd) Trong nước thải
nhà máy, xưởng
luyện kẽm
Cd sau khi xâm nhập
vào cơ thể sẽ thay thế
canxi trong xương làm
cho xương loãng và
giòn
15
Asen (As) Kim loại gây
độc mạnh
Có trong thuốc
trừ sâu, diệt
nấm, diệt cỏ dại
Có tác dụng tích luỹ và
gây cản trở hoạt động
của các Enzim, làm rối
loạn các quá trình trao
đổi chất và dẫn đến tử
vong
16
Chất phóng
xạ
Có trong không
khí dưới dạng
hạt α, β
Nhà máy điện
hạt nhân, nổ bom
hạt nhân …
II. TÌNH HÌNH GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG VIỆT NAM
II.1. Các quan điểm nguyên tắc GDMT trong nhà trường phổ thông
II.1.1. Trong giáo dục phổ thông nội dung GDMT là một bộ phận cấu thành của
nội dung giáo dục phổ thông nhằm góp phần hình thành nhân cách cho học sinh phát
triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ
công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước. Giáo dục môi trương là nhiệm vụ cảu các
trường phổ thông dưới sự chỉ đạo và quản lý của nhà nước, của bộ GD&ĐT, sự chỉ
19
Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở trường THCS
đạo tổ chức và quản lý trực tiếp của các cấp quản lý giáo dục địa phương và có sự
phối hợp chặt chẽ Bộ ngành có liên quan.
II.1.2. Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông cần thực hiện theo
nguyên tắc vì môi trường, về môi trường, trong môi trường
Giáo dục vì môi trường hướng tới mối quan tâm thực sự đối với chất lượng môi
trường sống và đề cao trách nhiệm của con người phải chăm sọc, giữ gìn, bảo vệ môi
trường tự nhiên góp phần xây dựng xã hội lành mạnh. Hình thành đạo đức môi trường
với những quan niệm, lối sống theo thói quen “Tiêu thụ” Thân thiện với môi trường.
Giáo dục về môi trường cung cấp những kiến thức hiểu biết về môi trường, các mối
quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa con người và giới tự nhiên trên cơ sở khai thác triệt để
các tri thức về môi trường hiện có trong nhà trường phổ thông.
Giáo dục trong môi trường là sử dụng môi trường như một nguồn lực trước các hoạt
động dạy – học và hoạt động ngoại khóa ngoài nhà trường.
Môi trường sống ở các địa phương, công đồng là phòng thí nghiệm, bảo tàng tự
nhiên phong phú, đa dạng cung cấp các nguồn thông tin, phương tiện để giáo dục môi
trường
II.1.3. Đảm bảo các điều kiện các hình thức phù hợp về môi trường cho tất cả học
sinh ở tất cả các cấp học bậc học trong giáo dục phổ thông.
Nôi dung giáo dục môi trường được lồng ghép vào những môn học của chương trình
chính khóa và các hoạt động ngoại khoa, tiến hành trong và ngoài nhà trường. Bảo
đảm sự phối hợp, liên kết chặt chẽ giữa các nội dung giáo dục môi trường với các nội
ở bậc học mầm non từ năm 1985, các trường đã tổ chức biên soạn thử nghiệm tài liệu
giáo dục môi trường theo phương thức lồng ghép, tích hợp vào các môn học hoặc
chuyển thành các môn riêng: “Làm quen với môi trường xung quanh”
II.2.2. GDMT ở bậc học phổ thông
Ngay từ những năm 1960, vấn đề bảo vệ môi trường đã được đặt ra một cáh nghiêm
túc được nghiên cứu để tích hợp vào chương trình dạy học ở các trường phổ thông
nhưng với mức độ hạn chế. Đầu thập kỉ 80, trong quá trình triển khai giáo dục và cải
21
Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở trường THCS
cách sách giáo khoa, các cơ quan chỉ đạo và nghiên cứu của bộ Giáo dục đã bước đầu
nêu ra định hướng về GDMT trong trường học, nội dung GDMT được tích hợp trong
nhiều môn học như Sinh học, Địa lí
Chương trình dạy ở bậc tiểu học và Trung học bước đầu được biên soạn và thử
nghiệm ở một số địa phương, tuy nhiên còn chưa thống nhất nặng về cung cấp kiến
thức hơn là hình thành thái độ, xúc cảm, hành vi quan tâm đến môi trường và vì môi
trường của HS. Vì vậy cần phải có chương trình thống nhất do Bộ GD và ĐT biên
soạn, phải tạo nguồn lực để thực thi chương trình này.
Các hoạt động giáo dục trong nhà trường:
+ Chương trình xanh hóa nhà trường
+ Chương trình V.A. C tập chung chủ yếu ở nông thôn và miền núi
II.2.3: Giáo dục môi trường ở bậc Đại học
Các trường sư phạm đã tiến hành đưa GDMT vào nội dung đào tạo và bồi
dưỡng với phương pháp tiếp cận cơ bản, có tài liệu bồi dưỡng cho GV các cấp.
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA DẠY HỌC
NỘI KHOÁ
III.1. Phương pháp giảng thuật
Bằng lời nói truyển cảm, những câu chuyện kể sinh động giáo viên có thể giáo
dục cho học sinh biết được các sự vất, hiện tượng về môi trường, Lo lắng về tác hại và
dần hình thành ý thức BVMT.
Ví dụ: Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng mà nhiệt độ trái đất tăng lên nên băng
Thảo luận là sự trao đổi ý kiến về một chủ đề giữa học sinh và học sinh, học
sinh và giáo viên.
Tiến hành thảo luận có 4 bước:
Bước 1: Chuẩn bị: Giáo viên chọn vấn đề thích hợp cho học sinh thảo luận, chủ đề
không khó về mặt nội dung nhưng được nhiều người quan tâm, nhiều cách giải quyết
khác nhau.
Ví dụ: Thảo luận về tình trạng ô nhiễm nước mặt tại các sông hồ ở thành phố
Hà Nội
Bước 2: Giao nhiệm vụ cho học sinh: Học sinh thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác
nhau; Sách báo, tạp chí, luận văn, luận án sau đó ghi chép lại, giáo viên chia lớp thành
các nhóm.
23
Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở trường THCS
Bước 3: Tiến hành thảo luận
Bước 4: Tổng kết thảo luận
- Giá viên ghi tóm tắt ý chính của các nhóm
- Ghi ý kiến thông nhất, chưa thống nhất để kại buổi sau.
III.6. Phương pháp đóng vai
Khi học sinh tham gia đóng vai những người có nghề nghiệp, địa vị khác nhau
để giải quyết vấn đề môi trường. Cách diễn xuất xuất phát từ thực tế cộng với ý nghĩ
có tưởng tượng, sáng tạo của học sinh tạo nên cảm xúc giúp chúng ta quan tâm đến
vấn đề môi trường đang nảy sinh. Đó là cơ sở hình thành thái độ đối với môi trường,
phương pháp này có tác dụng giúp học sinh có kinh nghiệm khi quyết định hành động
xử sự với môi trường.
III.7. Phương pháp giao bài tập về nhà cho học sinh
Ngoài việc dạy học các nội dung giáo dục môi trường theo các bài học trên lớp
còn có thể giao cho làm bài tập ở nhà. Các bài tập giúp học sinh vận dụng những kiến
thức đã học vào thực tiễn. Vì vậy nó giúp học sinh hình thành kĩ năng học tập, kĩ năng
BVMT.
Ví dụ: Tìm hiểu tình trạng ô nhiếm nước ở sông gần nhà em9nguyên nhân, tác
- Gây hiện
tượng suy giảm
tầng Ozon và
mưa axit.
- Làm cây
chậm phát
triển, nồng độ
cao thì cây
chết.
- Nhà máy sản
xuất hóa chất.
- Khi đốt cháy
giấy, than, chất
dẻo và nhiên liệu
rắn.
- Xử lí khí thải để
giảm tối đa sự thải
vào môi trường.
+ Quy trình sản xuất
an toàn.
+ Xử lý khí thải
trước khi đưa vào
môi trường.
+ Đưa nhà máy ra
ngoài khu vực dân
cư
SO
2
Điều chế
H
Bài kiểm tra trắc nghiệm và tự luận vào cuối học kỳ mỗi chương trình của mỗi
lớp học sau đó giáo viên sẽ chấm và lấy điểm 15 phút.
25