GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
I. MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay môi trường thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
ngày càng suy thoái. Môi trường Việt Nam phong phú và đa dạng nhưng rất hẹp
và dân số ngày càng đông nên sự tác động của con người tới môi trường ngày
càng mạnh mẽ. Khai thác và phá huỷ rừng đã làm giảm mức độ đa dạng sinh
học. Quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ, rất nhiều xí nghiệp lớn nhỏ
đang tận lực khai thác môi trường. Các môi trường không khí, đất, nước nhất là
ở gần các khu công nghiệp ngày càng bị ô nhiễm nặng. Mặt khác nạn cháy rừng
đã phá huỷ môi trường sinh thái, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường.
Có thể nói môi trường là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của
toàn thế giới. Môi trường là một khoa học đa ngành, nó đòi hỏi không chỉ riêng
các nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc, mà còn cần
thiết cho mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội, trẻ, già, trai gái phải hiểu đầy đủ
cơ sở khoa học của nó, để bảo vệ và xử lý một cách khoa học văn minh, bởi lẽ
trái đất là cái nôi sinh thành và phát triển của con người. Trong mấy chục năm
trở lại đây do sự phát triển kinh tế ào ạt dưới sự tác động của cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật và sự gia tăng dân số quá nhanh làm cho môi trường bị biến
đổi chưa từng thấy. Nhiều nguồn tài nguyên bị vắt kiệt, nhiều nguồn sinh thái bị
phá huỷ mạnh, nhiều cân bằng trong tự nhiên bị rối loạn. Môi trường bị lâm vào
nguy cơ khủng hoảng toàn cầu, trở thành nguy cơ thực sự đối với cuộc sống
hiện tại và sự tồn vong của xã hội trong tương lai.
Thực hiện chỉ đạo của chính phủ, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã và đang
phối hợp với các Bộ, Ngành có liên quan Xây dựng và hoàn thiện văn bản chiến
lược phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam đến năm 2010 đáp ứng yêu cầu
phát triển GD &ĐT nước ta trong thời kỳ CNH – HĐH. Một trong những quan
điểm cơ bản chỉ đạo xây dựng chiến lược GD & ĐT là phát triển GD & ĐT gắn
với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, những tiến bộ KH – CN và củng cố quốc
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
1
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
2
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
trường : Cái nôi của sự sống, nơi cung cấp nguyên liệu cho sản xuất và đời sống
và là nơi chứa đựng phế thải. Chính vì ý nghĩa, tầm quan trọng và những lý do
trên tôi đã lựa chọn đề tài “Giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Hoá học 8 ở
trường THCS”.
I.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của nền giáo dục môi trường là phổ biến cho quần chúng,
nâng cao dân trí, đặc biệt là các thầy giáo, học sinh từ mẫu giáo, tiểu học cho
đến các bậc phổ thông rồi đến sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng. với lực
lượng này vừa học tập để tự nâng cao trình độ, vừa đóng vai trò tuyên truyền
giáo dục quần chúng, vừa trực tiếp tham gia vào công việc xử lý ô nhiễm môi
trường, bảo vệ môi trường. Rõ ràng đây là một nhân tố quyết định cho sự thắng
lợi thực thi nhiệm vụ chiến lược “Bảo vệ môi trường”. Vấn đề bảo vệ môi
trường là vấn đề mang tính nhân văn, xã hội, cộng đồng, quốc gia và quốc tế.
Nó không những liên quan đến lĩnh vực kinh tế mà còn phụ thuộc vào cơ sở
chính trị, văn hoá xã hội và pháp luật. Do đó giáo dục môi trường phải làm cho
mọi người trong xã hội nhận thức đầy đủ về môi trường và nội dung bảo vệ môi
trường, có ý thức và hành động đúng ở mọi lĩnh vực hoạt động và mọi cương vị
công tác của mình.
Trong khuôn khổ cho phép của đề tài tôi muốn đưa một số kiến thức về
nội dung giáo dục, bảo vệ môi trường thông qua nhiệm vụ giảng dạy môn Hoá
học lớp 8 ở trường THCS.
I.3 Nhiệm vụ của đề tài
Từ những mục đích, yêu cầu trên đề tài nghiên cứu gồm những nhiệm vụ
sau:
I.3.1 Tìm hiểu những vấn đề cơ bản, những nguyên lý cơ sở khoa học môi
trường, là nền tảng của công việc nâng cao dân trí.
I.3.2 Xây dựng hệ thống nội dung các kiến thức về giáo dục môi trường qua
Môi trường theo nghĩa rộng là tập hợp các yếu tố tự nhiên, xã hội, nhân
tạo có quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau và qua đó ảnh hưởng đến
cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của con người và giới tự nhiên.
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển bền vững của
đất nước. Trong quá trình phát triển , con người không chỉ khai thác, chế ngự,
chinh phục thiên nhiên mà còn phải giữ gìn và bảo vệ môi trường tự nhiên, tạo
lập môi trường nhân tạo phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và sản xuất – dịch
vụ, xây dựng mối quan hệ cộng đồng xã hội tốt đẹp đảm bảo lợi ích lâu dài cho
các thế hệ hôm nay và mai sau.
Môi trường có vai trò dặc biệt đối với sự sống và chất lượng cuộc sống
của con người. Con người cần có không khí trong lành để thở, cần có nước sạch
để sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày, cần có những điều kiện tự nhiên và cơ sở
vật chất nhân tạo để sống, làm việc, nghỉ ngơi, cần có một môi trường văn hoá -
xã hội lành mạnh, văn minh để hình thành và phát triển nhân cách, nâng cao
chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần.
Đối với từng quốc gia, dân tộc, những đặc trưng về môi trường gắn liền
với vị trí và điều kiện địa lý, truyền thống lịch sử và văn hoá, xã hội của mỗi
quốc gia, dân tộc trong cộng đồng thế giới. ý thức con người , các triết lý, đạo
lý, hệ tư tưởng xã hội, không chỉ lấy cuộc sống con người làm đối tượng suy
ngẫm mà chính môi trường sống của con người cũng là đối tượng suy ngẫm để
hình thành những quan niệm, đạo lý về môi trường làm phong phú thêm ý thức
hệ và các quan niệm của con người về môi trường.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, danh nhân văn hoá thế
giới đã kết hợp truyền thống văn hoá quý báu của dân tộc với tư tưởng tiến bộ
của thời đại. Người sống giản dị, hoà mình với thiên nhiên. Người phát động
phong trào “Tết trồng cây”, mở đầu cho phong trào trồng cây để giữ gìn và làm
đẹp môi trường sống.
Có thể nói việc xác định đúng đắn, khôn ngoan về vai trò và mối quan hệ
của môi trường đối với cuộc sống con người, xây dựng mối quan hệ hài hoà
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
giải quyết ở nước ta:
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
6
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
- Tàn phá rừng tự nhiên, xuống cấp chất lượng rừng.
- Suy giảm đa dạng sinh học trên cạn và dưới nước.
- Thoái hoá môi trường đất.
- Ô nhiễm môi trường nước do do đô thị hoá và công nghiệp gây ra.
- Ô nhiễm bụi, chì và khí SO
2
trong môi trường không khí đô thị và khu
công nghiệp.
- Bão, lụt, lũ quét, hạn hán xảy ra nghiêm trọng.
- Xử lý và thải bỏ chất thải rắn.
- Nước sạch và vệ sinh nông thôn.
Đây là những vấ đề gay cấn về môi trường ở nước ta hiện nay và trong
thời gian tới có liên quan trực tiếp đến mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế – xã
hội trong đó cóa ngành giáo dục - đào tạo và tất cả các học sinh, sinh viên đang
sống, lao động và học tập trên mọi miền của đất nước.
II. MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
II.1. Môi trường
Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao
quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật. Bất cứ
một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường.
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện về hoá học, địa
hình, kinh tế, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống, phát triển của từng
cá nhân và của cả cộng đồng con người. Trong môi trường sống này luôn tồn tại
sự tương tác giữa các thành phần vô sinh và hữu sinh.
Về mặt địa vật lý trái đất được chia thành:
- Thạch quyển hoặc môi trường đất bao gồm lớp vỏ trái đất có độ dầy 60
Phát triển là quá trình nâng cao đời sống về vật chất và đời sống tinh
thần của con người bằng phát triển sản xuất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao
chất lượng hoạt động văn hoá. Phát triển là xu hướng tất yếu khách quan của
mỗi cá nhân hoặc cộng đồng con người. Các mục tiêu này thường được cụ thể
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
8
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
hoá bằng các chỉ tiêu kinh tế như tổng sản phẩm xã hội, tổng thu nhập quốc
dân, lương thực, nhà ở, giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học, công nghệ…Những
chỉ tiêu này được thực hiện nhờ các hoạt động phát triển như khai thác tài
nguyên thiên nhiên “Than, dầu mỏ, khí đốt, quặng …”, sản xuất hàng hoá, xây
dựng cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ cần thiết cho con người. Các hoạt động
phát triển này thường là nguyên nhân gây nên những sự sử dụng không hợp lý,
lãng phí tài nguyên thiên nhiên, làm suy thoái chất lượng môi trường. Đây
chính là vấn đề môi trường mà khoa học môi trường có nhiệm vụ nghiên cứu
giải quyết.
II. 3. Sự mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển.
Môi trường là tổng hợp các điều kiện sống của con người, phát triển là
quá trình sử dụng và phát triển các điều kiện đó. Môi trường và phát triển có
quan hệ hữu cơ. Môi trường là địa bàn và đối tượng của phát triển. Phát triển là
nguyên nhân tạo nên mọi biến đổi tích cực và tiêu cực đối với môi trường.
Xung quanh chúng ta, ngày càng có nhiều bằng chứng về thiệt hại do
hoạt động phát triển của con người gây ra ở nhiều khu vực của trái đất: Các ô
nhiễm trong nước, không khí, đất và sinh vật, những sáo trộn lớn và không
được mong muốn về cân bằng sinh thái, sinh quyển, phá huỷ và làm cạn kiệt
các tài nguyên không tái tạo được và toàn bộ những mất mát gây thiệt hại cho
thể chất, tinh thần và xã hội của con người trong môi trường nhân tạo, đặc biệt
trong môi trường sống và làm việc … bảo vệ và cải thiện môi trường của con
người là vấn đề lớn ảnh hưởng tới cuộc sống tốt đẹp của mọi quốc gia và phát
triển kinh tế trên toàn thế giới, đó là khát khao khẩn cấp của các dân tộc trái đất
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
10
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
nghi với điều kiện sống mới của môi trường bằng cách lai giống để tránh tình
trạng thoái hoá và giàm năng xuất.
III. 3. Tính đa dạng trong thiên nhiên
Thiên nhiên đã dành cho đất nước Việt Nam, con người Việt Nam hệ
sinh thái phong phú : Các loài động vật, tài nguyên di truyền, còn gọi là đa dạng
sinh học. Các kết quả điều tra khảo sát cho thấy: chúng ta có khoảng 9 triệu ha
rừng, có khoảng 12.000 loài thực vật (đã định tên được 7000 loài), 800 loài
chim, 275 loài thú,180 loài bò sát, 2470 loái cá, 5500 loài côn trùng… Tính độc
đáo của đa dạng sinh học khá cao: 10% số loài chim, cá và thú đã tìm được ở
Việt Nam, 40% số loài thực vật thuộc loại đặc hữu ngoài nước ta không còn
thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới.
Sự đa dạng sinh học là nguồn lợi kinh tế của đất nước. Ước tính mỗi năm
các sản phẩm từ nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản đem lại cho đất nước ta 2 tỷ
USD. Song nguồn cung cấp từ tự nhiên này không phải là bất tận. Đất nước ta
dẫu không muốn cũng đã phải gánh chịu binh lửa, sự gia tăng dân số, diện tích
rừng bị thu hẹp (mỗi năm khai thác và nạn cháy rừng mất khoảng 20 – 30 nghìn
ha). Sự sai khác bừa bãi tài nguyên biển ( sản phẩm ngư nghiệp 1 triệu tấn/năm
bằng nhiều phương pháp như lưới, thuốc nổ, điện một chiều cao thế…) và áp
dụng rộng rãi hàng loạt các giống mới trong nông nghiệp cũng là nguyên nhân
dẫn tới sự thu hẹp hoặc làm mất đi các hệ sinh thái, đe doạ, huỷ diệt (10% loài
chim, 21% loài bò sát, 28% loài thú dùng làm dược liệu, món ăn đặc sản). Sự
tuyệt chủng của một số loài đồng nghĩa với sự mất mát nguồn tài nghuyên di
truyền quí báu. Tốc độ suy giảm đa dạng sinh học của ta nhanh hơn nhiều so
với các nước trong khu vực.
Sự Huỷ diệt, thu hẹp các hệ sinh thái đa dạng của Việt Nam, có ảnh
hưởng sống còn đến sự phát triển sống còn của đất nước. Nếu tình trạng suy
giảm đa dạng sinh học còn tiếp tục tăng nhanh như hiện nay, thì những tai hoạ
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
12
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
đưa các nôi dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các
bài trong hệ thống giáo dục quốc dân:
Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông
qua ngày 27/12/1993 đã thể chế hoá một bước các chủ trương chính sách của
Đảng, nhà nước và ngành giáo dục về BVMT. Điều 4 của Luật BVMT quy định
“ Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu
khoa học và công nghệ, phổ biến kién thức khoa học và luật pháp bảo vệ môi
trường”. Luật Bảo vệ môi trường là cơ sở và hành lang pháp lý quan trọng để tổ
chức triển khai các hoạt động giáo dục và đào tạo về môi trường trong hệ thống
giáo dục quốc dân nói chung và trong trường phổ thông nói riêng. Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ số 1363/QĐ - TTg ngày 17/10/2001 về việc phê
duyệt đề án: “ Đưa các nôi dung Bảo Vệ Môi Trường vào hệ thống giáo dục
quốc dân” đã xác định rõ mục tiêu, nôi dung, phương thức giáo dục - đào tạo về
BVMT:
Đối với giáo dục mầm non: Cung cấp cho các em hiểu biết ban đầu về
môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chung, biết cách sống
tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh về cư thể và trí
tuệ.
Đối với giáo dục tiểu học: Trang bị những kiến thức cơ bản phù hợp
với độ tuổi và tâm sinh lý học sinh về các yếu tố môi trường, vai trò của môi
trường đối với con người và tác động của con người đến môi trường, giáo dục
học sinh ý thức bào vệ môi trường.
Đối với giáo dục trung học : Trang bị kiến thức về sinh thái học, mối
quan hệ giữa con người với thiên nhiên , biết cách ứng xử tích cực với môi
trường xung quanh.
Bộ Giáo dục và đào tạo đã có quyết định số 3288/QĐ - BGD và DDT
HKCN ngày 2/10/1998 phê duyệt và ban hành các văn bản về chính sách và
2
làm các giọt nước mưa
này mang tính axit (pH từ 6,5 xuống 4,2; cá biệt có khi pH =2). Những axit này
do tác dụng của gió cùng với mây di chuyển khắp nơi rồi rơi xuống mặt đất
cùng với các hạt mưa; mưa chứa axit gọi là mưa axit.
Mưa axit làm huỷ diệt rừng, mùa màng, gây nguy hại đối với sinh vật
dưới nước, người và động vật, phá huỷ các công trình, tượng đài làm bằng cẩm
thạch, đá vôi, đá phiến… Do mưa axit mà đất bị axit hoá tăng khả năng hoà tan
một số kim loại nặng trong nước gây ô nhiễm hoá học, cây cối hấp thu kim loại
nặng như Cd, Zn, Hg…đi vào nguồn thực phẩm gây độc cho người và gia súc.
Có thể thấy mưa axit có tính đa quốc gia như rừng và mùa màng ở Canađa bị
tàn phá bởi mưa axit do chất thải ô nhiễm từ các khu công nghiệp ở Bắc Mỹ
hay ô nhiễm không khí ở nước Anh. Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính
ở một số nước trên thế giới.
V.2. Hiệu ứng nhà kính
Khí CO
2
trong không khí là chất ô nhiễm không đáng kể trong môi
trường nhưng lượng CO
2
thải vào khí quyển có liên quan đến môi trường toàn
cầu. Từ trước đến nay không phải toàn bộ lượng CO
2
lưu tồn trong khí quyển
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
14
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
mà một nửa trong số đó được sử dụng vào quá trình quang hợp của thực vật và
được nước biển hấp thụ tạo kết tủa hoà tan trong nước biển. Thực vật trong
nước biển giữ vai trò quan trọng trong việc cân bằNG CO
trái đất càng tăng gây ảnh hưởng càng lớn đến cân bằng sinh thái trên trái đất.
Hiện tượng trên gọi là “Hiệu ứng nhà kính” vì lớp khí CO
2
, CH
4
, hơi nước bao
quanh trái đất có tác dụng như lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau xanh
mùa đông chỉ khác là trên quy mô toàn cầu. Bên cạnh CO
2
(chiếm 50%), CH
4
(chiếm 18%) là khí gây hiệu ứng nhà kính còn có một số khí khác như N
2
O,
CFC.
Hiệu ứng nhà kính gây tác hại: Nhiệt độ trái đất tăng là nguyên nhân làm
tan lớp băng ở Bắc cực và Nam cực, làm cho mực nước biển lên cao nên làng
mạc, thành phố ở các vùng đồng bằng thấp ở ven bờ biển sẽ chìm dưới nước
biển. Ngoài ra khi nhiệt độ tăng làm giảm khả năng hòa tan CO
2
trong nước
biển nên lượng CO
2
trong khí quyển tăng làm mất cân bằng CO
2
trong khí
quyển và đại dương, ảnh hưởng đến đời sống sinh vật trên biển và ở cạn.
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
15
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
2
tái tạo RCH
2
0
,
một số chất ô nhiễm thứ cấp ra đời như PAN, RCHO, tập hợp các khí trên gọi
là khí quang hóa. PAN là chất gây tác hại cho mắt. Muốn tránh tai họa khói
quang hóa phải khống chế sự thải NO
x
và hiđrocacbon vào khí quyển.
V.4. Tầng Ozon và lỗ thủng tầng Ozon
Qúa trình hình thành và phân hủy tầng Ozon diễn ra song song nên Ozon
có chu kỳ tồn tại trong khí quyển rất ngắn. Lượng Ozon tập chung nhiều nhất
trong tầng bình lưu, ở độ cao 25 km tạo thành tâng Ozon với nồng độ 5 – 10
ppm.
Tầng Ozon được xem là cái ô bảo vệ loài người và động vật tránh khỏi
tai họa tia tử ngoại mặt trời gây ra. Khi bức xạ mặt trời chiếu qua tầng Ozon,
phần lớn lượng bức xạ tử ngoại đã bị hấp thụ trước khi chiếu xuống trái đất.
Nếu hoạt động của con người làm suy yếu tầng Ozon trong khí quyển sẽ gây
thảm họa đối với mọi hệ sinh thái trên mặt đất. Một trong những nguyên nhân
làm suy giảm tầng Ozon là do sử dụng chất CFC (dẫn xuất halogen của metan,
etan) được dùng nhiều trong kỹ thuật và đời sống: tủ lạnh, dung môi mỹ phẩm,
chất chữa cháy chúng chơ ở tầng đối lưu nhgưng khuếch tán chậm lên tầng
bình lưu và dưới tác dụng của bức xạ tử ngoại (200 nm) sinh ra các gốc Cl
0
.
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
16
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
Một nguyên tử Cl
, NO
x
sẽ tham ra phản ứng với các gốc tồn tại ở tầng bình lưu trở
thành chất hoạt hóa và tham gia quá trình phân hủy Ozon.
Nếu xuất hiện lỗ thủng tầng Ozon thì một lượng lớn bức xạ tử ngoại từ
mặt trời sẽ tới mặt đất gây bệnh ung thư da, hủy hoại mắt, tổn hại đến nhiều
sinh vật trong đó có cả con người.
VI. Các chất độc hại với môi trường
TT Chất Đặc điểm Nguồn gốc Tác hại
1
Cacbonoxit
(CO)
Khí, không
màu, không
mùi, không vị,
tỷ trọng 0,967
Do sự cháy
không hoàn toàn
các vật liệu chứa
cacbon, một
phần CO sinh
học, núi lửa,
động cơ đốt
trong. Mỗi năm
có 250 triệu tấn
CO sinh ra
Khí rất độc, người và
động vật có thể chết
đột ngột khi hit phải
vi khuẩn
hại đến sức khoẻ người
và động vật, nếu nồng
độ cao gây tử vong
- Gây mưa axit, làm
thay đổi tính năng vật
liệu
3
Hiđrosunfua
(H
2
S)
Khí không
màu, mùi trứng
thối
- Tự nhiên: Chất
hữu cơ, rau cỏ
thối rữa, từ vết
núi lửa, cống
rãnh…
- Mỗi năm mặt
biển có 30 triệu
tấn; mặt đất 60 –
80 triệu tấn; sản
xuất công
nghiệp 3 triệu
tấn H
2
SO
4
nhiều clo người sẽ bị
xanh xao, bệnh tật và
có thể chết
5
Hiđroclrua
(HCl)
Khí không
màu, nặng hơn
không khí 1,3
lần
Nhà máy sản
xuất hoá chất và
sinh ra từ sự đốt
than, giấy, chất
dẻo và nhiên
liệu trong tên
lửa
- Người: thở nhiều khí
HCl đường hô hấp bị
tổn thương và có thể bị
ngạt
- Cây: Giảm độ bóng
của lá, nồng độ cao
gây chết
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
18
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
6
Nitơ oxit
(NO
khoảng 48 triệu
tấn NO
x
do hoạt
động của con
người (Chủ yếu
NO
2
)
- Làm phai màu thuốc
nhuộm vải, han gỉ kim
loại
- Con người: 100 ppm
gây chết người, 15 –
50 ppm ảnh hưởng đến
tim, phổi; 5ppm ảnh
hưởng đến bộ mayshoo
hấp
7
Khói thuốc
lá
Chất gây ô
nhiễm lớn nhất
trong môi
trường không
khí kín như
Cabin, ô tô …
Gây bệnh ung thư
phổi, tim mạch và dễ
dẫn đến tử vong
19
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
cháy nhiên liệu
không hết của
các động cơ
phổi, sưng mắt
10
Cacbonic
(CO
2
)
Khí không
màu, nặng hơn
không khí
Do đốt nhiên
liêu hoá thạch,
núi lửa, hô hấp
của sinh vật
Một phần dùng quang
hợp nhưng nếu nồng
độ cao gây nguy hiểm
đối với con người và
môi trường: Hiệu ứng
nhà kính, phá huỷ công
trình xây dựng, đồ dùn
bằng nhôm, các loại
sợi
11
Các loại bụi Là tập hợp
nhiều chất vô
Hơi thuỷ ngân
rất độc
Sử dụng trong
ngành công
nghiệp luyện
kim, nhà máy
pin, đèn huỳnh
quang
- Thuỷ ngân qua đường
hô hấp, tiêu hoá và
đường da. Nhiễm độc
thuỷu ngân gây khó
ngủ, dâu đầu, giảm trí
nhớ, tê liệt thần kinh
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
20
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
- Đối với nữ giới sẽ bị
rối loạn kinh nguyệt,
nếu mang thai sẽ bị
xảy thai
14
Cadimi (Cd) Trong nước thải
nhà máy, xưởng
luyện kẽm
Cd sau khi xâm nhập
vào cơ thể sẽ thay thế
canxi trong xương làm
cho xương loãng và
giòn
TRONG TRƯỜNG THCS
I. KHÁI NIỆM VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
“ GDMT là một quá trình nhận ra các giá trị và làm sáng tỏ các quan điểm để
phát triển các kĩ năng và thái độ cần thiết nhằm hiểu và đánh giá đúng đắn mối
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
21
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
tương quan giữa con người, môi trường văn hoá, môi trường bao quanh. GDMT
cũng đòi hỏi thực hành áp dụng vào thực tiễn trong việc đưa ra quyết định và tự
xây dựng quy tắc hành vi về các vấn đề có liên quan đến chất lượng môi
trường”
Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh được đưa ra ttrong bản báo cáo cuối
cùng của hội nghị GDMT ở Tbilisi, năm 1997: “GDMT là bộ phận hữu cơ của
quá trình giáo dục. Nó nên được tập chung vào những vấn đề thực tiễn và mang
tính chất liên thông nên nó nhằm vào xây dựng giá trị, đóng góp vào sự phồn
vinh của cộng đồng và liên quan đến sự sống của nhân loại. ảnh hưởng của nó ở
thời gian đầu của người học và liên quan đến môi trường của họ hoạt động. Nó
nên được hướng dẫn ở các môn học tại và tương lai có liên quan”.
Ngày nay cộng đồng quốc tế hiểu GDMT một cách đầy đủ như một quá
trình thường xuyên để tạo cho con người ý thức về môi trường, những giá trị về
tri thức, những kỹ năng, những kinh nghiệm, và quyết tâm cho phép họ giải
quyết những vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, cũng như đáp ứng những
nhu cầu của bản thân mà không làm phương hại đến thế hệ mai sau.
II. TÌNH HÌNH GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG VIỆT
NAM
II.1. Các quan điểm nguyên tắc GDMT trong nhà trường phổ thông
II.1.1. Trong giáo dục phổ thông nội dung GDMT là một bộ phận cấu thành
của nội dung giáo dục phổ thông nhằm góp phần hình thành nhân cách cho học
sinh phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước. Giáo dục môi trương
Những vấn đề trọng tâm của giáo dục môi trường phải liên quan trực tiếp đến
môi trường địa phương và trên cơ sở đó mở rộng sự hiểu biết, quan tâm của
họpc sinh đến vấn đề môi trường quốc gia, khu vực và quốc tế
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
23
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUA MÔN HOÁ HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS
II.1.5. Đảm bảo tính bền vững của giáo dục môi trường
Giáo dục môi trường cần được thực hiện phù hợp với các su hưỡng và
phương pháp giáo dục hiện đại, phải lôi cuốn các nhà lãnh đạo, các nhà quản lí
giáo dục mọi cách, giáo viên, học sinh các bậc cha mẹ học sinh và các thành
viên trong cộng đồng. Tổ chức GDMT bằng chính các hoạt động do học sinh
thực hiện dưới hướng dẫn của giáo viên và thônh qua đó mà thu được hiệu quả
thực tiễn. Thực hiên phương trâm “Học thông qua hành động”
II.1.6. Nâng cao nhận thức và sự hiểu biết.
Nâng cao nhận thức và sự hiểu biết. Của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo
viên phổ thông về tầm quan trọng và nhu cầu giáo dục môi trường trong tnhà
trường phổ thông. Ban giám hiệu và hiệu trưởng nhà trường là những người đầu
tiên có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo hoạt động này. Đội ngũ giáo viên là lực
lượng nòng cốt triển khai thực hiện các mục tiêu, nôi dung GDMT ở trường phổ
thông, hình thành giá trị đạo đức mới về môi trường. Việc BVMT, giữ gìn tài
nguyên thiên nhiên phải thể hiện trong ý thức và hành động của cán bộ quản lý,
giáo viên và học sinh nhà trường.
II.1.7. Đảm bảo sự phối hợp liên ngành đa cấp trong GDMT
Để giáo dục môi trường cần có sự hợp tác liên ngành giữ Bộ GD&ĐT,
các bộ ngành liên quan, tổ chức kinh tế xã hội, các cấp chính quyền địa phương
và cộng đồng dân cư
II.2. Giáo dục môi trường ở các bậc học
II.2.1. GDMT ở bậc học mầm non
ở bậc học mầm non từ năm 1985, các trường đã tổ chức biên soạn thử nghiệm
tài liệu giáo dục môi trường theo phương thức lồng ghép, tích hợp vào các môn
băng tan ở hai cực làm cho mực nước biển dâng cao, những nước ở ven biển và
Doãn Đình Từ THCS Đoàn Đào- Phù Cừ- Hưng Yên
25