Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
==========
NGUYỄN THỊ BÍCH ĐÀO
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH
SÁN DÂY VÀ KÝ CHỦ TRUNG GIAN CỦA SÁN DÂY Ở
GÀ THẢ VƯỜN TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Bệnh sán dây là một trong những bệnh ký sinh trùng đã gây tác hại
đáng kể cho chăn nuôi gà thả vườn. Bệnh được phân bố rộng ở hầu hết các
vùng trên thế giới. Ở nước ta, bệnh sán dây xảy ra phổ biến ở các vùng địa lý
khác nhau, trong đó vùng núi và trung du tỷ lệ nhiễm thường cao hơn vùng
đồng bằng. Sán dây gà cần ký chủ trung gian là các loài kiến, ruồi, bọ cánh
cứng (Nguyễn Thị Kim Lan và cộng sự, 1999 [7]). Đặc biệt, thời tiết nóng ẩm
mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài Ký chủ trung
gian của sán dây gà.
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, chăn nuôi
gà thả vườn vẫn chiếm phần lớn trong chăn nuôi gà. Việc phòng bệnh ký sinh
trùng, đặc biệt là sán dây còn ít được quan tâm. Đồng thời điều kiện thời tiết,
khí hậu ở Thái Nguyên thuận lợi cho kiến (một trong những loại ký chủ trung
gian của sán dây gà) phát triển. Vì vậy, người chăn nuôi gà vẫn chịu nhiều
thiệt hại do bệnh sán dây gây ra.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
2
Tuy nhiên, những nghiên cứu về bệnh sán dây gà hiện nay vẫn còn rất
ít, chưa có kết quả nghiên cứu về đặc điểm về bệnh lý, lâm sàng của bệnh sán
dây gà, về các loài kiến - ký chủ trung gian của sán dây gà, đặc điểm hoạt
động của chúng và thời gian trứng sán phát triển thành ấu trùng trong kiến.
Xuất phát từ nhu cầu khống chế dịch bệnh, thúc đẩy chăn nuôi gà thả
vườn ở tỉnh Thái Nguyên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây và ký chủ trung gian của sán dây
ở gà thả vườn tại Thái Nguyên".
2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định các loài kiến - ký chủ trung gian của sán dây gà, đặc điểm
hoạt động theo mùa và khả năng nhiễm ấu trùng sán dây của chúng ở khu vực
chuồng nuôi gà tại các nông hộ thuộc tỉnh Thái Nguyên.
Theo Phan Thế Việt và cs (1977)[28], Nguyễn Thị Kỳ (1994)[6],
Nguyễn Thị Lê và cs (1996)[11], sán dây gà có vị trí như sau:
Ngành giun dẹp (Plathelminthes)
Lớp Cestoda (Rudolphi, 1808)
Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930
Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900
Phân bộ Davaineata Skrjabin, 1940
Họ Davaineidae Braun, 1900
Giống Cotugnia Diamare, 1893
Loài Cotugnia digonopora Pasquale, 1890
Giống Davainea Blanchard, 1891
Loài Davainea proglottina (Davaine, 1860)
Giống Raillietina Fuhrmann, 1920
Phân giống Raillietina Stiles et Orleman, 1926
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
4
Loài R. echinobothrida Megnin, 1881
Loài R. penetrans Baczyncka, 1914
Loài R. penetrans novo Johri, 1934
Loài R. peradenica Sawada, 1957
Loài R. tetragona Dolin, 1858
Loài R. volzi Fuhrmann, 1905
Phân giống Raillietina (Paroniella) Fuhrmann, 1920
Loài R. (P.) macassariensis Yamaguti, 1956
Loài R. (P.) tinguiana Tubangui etMasilungan, 1937
Phân giống Raillietina (Skrjabinia) Fuhrmann, 1920
Loài R. (S.) cesticillus (Molin, 1858)Fuhrmann, 1920
1.1.1.2. Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam và đặc điểm sinh học
R. cesticillus (Molin, 1858)
Dilepidoides Spassky et
Spaskaja, 1954
Dilepidoides bauchei (Joyeux, 1924)
Echinolepis Spassky et
Spaskaja, 1954
Echinolepis carioca (Magalhaes, 1898)
Microsomacanthus Lopez-
Neyra, 1942
Microsomacanthus (Joyeux et Baer, 1935)
Staphylepis Spassky et
Oschmarin, 1954
Staphylepis cantaniana (Polonio, 1960)
Orientolepis Spassky et
Jurpalova, 1964
Orieniolepis exigua (Yoshida, 1910)
Amoebotania Cohn, 1900
Amoebotania cuneata (Linstow, 1872)
Đặc điểm sinh học của các loài sán dây gây bệnh
• Đặc điểm sinh học chung của các loài sán dây gây bệnh
Theo Phan Thế Việt và cs (1977)[28], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6],
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17], sán
dây có cơ thể dạng băng, dẹp theo hướng lưng - bụng. Cơ thể gồm có đầu
(Scolex), cổ (Neck), chuỗi đốt (Strobila) bao gồm nhiều đốt riêng biệt. Chỉ
một số ít loại đại diện của lớp là có cơ thể không phân đốt. Giai đoạn trưởng
thành chủ yếu sống ký sinh trong ruột của tất cả các lớp động vật có xương
sống, trong ruột hoàn toàn không có dạng ấu trùng của sán dây.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
7
Chuỗi đốt (Strobila) bao gồm các đốt sán, có từ một vài đốt đến hàng
nghìn đốt. Chiều dài của chuỗi đốt thay đổi từ vài milimet đến vài trăm
milimet. Các đốt thường có hình dạng và kích thước khác nhau, phụ thuộc
vào sự sinh trưởng của sán và chúng còn thay đổi ngay ở các cá thể trong một
loài. Những đốt sán thường có dạng bốn góc. Ở một số loài chiều rộng của đốt
thường lớn hơn chiều dài, ở một số loài khác thì ngược lại. Sự tương quan
giữa chiều rộng và chiều dài của đốt thường phụ thuộc vào sự kéo dài về phía
này hay phía khác của đốt.
Chiều dài của sán dây dao động từ 0,5 mm - 25 cm. Cơ thể sán dây phủ
lớp biểu bì, đến lớp hạ bì rồi đến lớp cơ vòng - cơ dọc. Phần bên trong chứa
đầy nhu mô. Nội quan gồm có hệ thần kinh, hệ bài tiết và hệ sinh dục. Không
có hệ tiêu hoá.
Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung
ương nằm ở trên đầu, từ đó các dây chạy dọc cơ thể. Có hai dây phát triển hơn
nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang.
Hệ bài tiết của sán dây theo kiểu nguyên đơn thận. Gồm 4 ống
chính chạy dọc cơ thể: 2 ống mặt lưng và 2 ống mặt bụng và nối với nhau
ở phần đầu. Ngoài ra ở mỗi đốt các ống trái và phải nối với nhau bằng các
cầu nối ngang.
Trong các đốt chứa cơ quan sinh dục phát triển ở các giai đoạn khác
nhau. Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính. Trong mỗi đốt trưởng thành
thường có một hoặc hai hệ sinh dục (mỗi hệ sinh dục gồm một cơ quan sinh
dục đực và một cơ quan sinh dục cái). Sự phát triển của hệ sinh dục theo một
thứ tự nhất định: ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình
thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ tinh, hệ
sinh dục đực teo dần, còn lại cơ quan sinh dục cái. Ở các đốt già, trứng chứa
đầy trong tử cung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
9
trong huyết tương của tế bào có nhiều khối màu tối và vàng khúc xạ ánh sáng
tạo thành những quả cầu “noãn hoàng”, những ống noãn hoàng nhỏ từ mỗi
phía của đốt đổ vào hai ống lớn hơn, sau hợp lại thành một ống, tận cùng của
ống phình rộng tạo thành tuyến noãn hoàng đổ vào Ootyp. Thể Melis đổ vào
Ootyp có chức năng tạo vỏ cho trứng.
Âm đạo có dạng một cái ống, phần đầu là lỗ sinh dục cái, phần cuối là
túi chứa tinh nằm gần Ootyp, cạnh buồng trứng. Phần đầu của âm đạo thường
nằm dưới lông gai, ít khi ở trên. Sau khi thụ tinh và chứa đầy tinh dịch trong
túi chứa tinh thì lỗ âm đạo teo lại.
Tử cung (Uterus) có cấu tạo rất khác nhau ở các loài khác nhau. Ở
nhiều sán dây tử cung kín, có nghĩa là thiếu lỗ tử cung đặc trưng (Cyclophyllidea),
tử cung là ống ngang với những nhánh bên. Tử cung của sán dây có thể có
dạng túi, dạng cành, và cả dạng nang riêng biệt, chứa từ một đến vài trứng
(Davaineidea). Trứng của sán dây có cấu tạo đa dạng, có một hoặc hai vỏ, ấu
trùng trong trứng của phân lớp Eucestoda có 6 móc. Ở những sán dây này
trứng được thải ra ngoài tuỳ theo mức độ hình thành của trứng, tử cung chứa
đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa
trứng. Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt. Quá trình
này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được
thải ra cùng với phân vật chủ.
Ấu trùng của Cyclophyllidea (Davaineata) là Cysticercoid. Đây là bào
nang có hai lớp vỏ, bao gồm cơ quan bám và tuyến đuôi (ceromera) với ba đôi
móc bào thai. Sự hình thành Cysticercoid do sự kéo dài của oncoxphera, xuất
hiện xoang cơ thể và bốn giác bám, vòi thô sơ. Sau đó phần sau hẹp lại, dài ra,
nối với đường tạo thành xoang và ở đây hình thành nang. Phần trước của cơ
thể có mầm mống của giác bám và vòi, kéo dài tới phần sau của nang, bằng
một đến vài trứng. Sán trưởng thành ký sinh ở thú và chim, ấu trùng ký sinh ở
côn trùng. (Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17]).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
11
- Đặc điểm của một số loài.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], Nguyễn
Thị Kim Lan và cs (1999) [7], Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, (2002) [10]
cho biết:
+ Loài Raillietina echinobothrida: Ký sinh ở ruột non của các loài vật
chủ là: Gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ
gà (Gallifomes).
Hình thái: Dài 250 mm; rộng 1,2 - 4 mm; trứng: 93 × 74 µ. Đường kính
đầu 0,322 - 0,483 mm, vòi dài 0,108 - 0,159 mm. Đầu có 4 giác bao gồm từ 8-
10 dãy móc; vòi của đầu có hai dãy móc khoảng 200 chiếc, dài 0,010 - 0,012
mm. Giác bám tròn có đường kính 0,113 - 0,159 mm. Bờ giác có nhiều gai
nhỏ, có hình dạng và kích thước khác nhau. Ở hàng trong cùng gai dài 0,006
mm, hàng gai ngoài cùng dài 0,016 mm. Lỗ sinh dục đực đơn tính nằm ở giữa
cạnh sườn đốt sán, có từ 20 - 30 dịch hoàn nằm ở giữa đốt. Buồng trứng có
nhiều thuỳ, noãn hoàng phân thuỳ. Trong những đốt già tử cung phân thành
100 - 130 nang trứng, mỗi nang chứa 1 - 12 trứng.
+ Loài Raillietina tetragona: Ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là:
Gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
(Gallifomes).
Hình thái: Dài 250mm; rộng 1 - 4 mm. Đường kính đầu 0,284 - 0,358
mm, vòi 0,051 - 0,058 mm, có 100 móc vòi xếp thành một vòng, móc dài 0,06
- 0,08 mm. Giác bám hình trứng kích thước từ 0,169 - 0,175 x 0,073 - 0,076
mm, có gai xếp thành 10 hàng trên bờ giác, chiều dài gai từ hàng ngoài vào
giữa giảm dần 0,08 - 0,09 mm. Nang lông gai hình trứng, kích thước 0,075 -
Mô tả: Sán dài 150 - 380 mm, rộng tối đa 3,5 mm, có 220 - 268 móc
vòi dài 0,017 - 0,023 mm, xếp thành hai hàng. Giác bám dài 0,110 - 0,179
mm, rộng 0,080 - 0,151 mm, có gai xếp trong 8 - 10 hàng, gai dài 0,008 -
0,013 mm. Cổ dài 1,3 - 3,2 mm. Lỗ sinh dục ở một phía, ít khi xen kẽ không
đều, ở một phần ba phía trên bờ bên đốt. Có 23 - 28 tinh hoàn, hơi tròn, có
đường kính 0,065 mm. Tinh hoàn xếp thành nhóm ở hai bên tuyến sinh dục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
cái. Ống dẫn tinh uốn khúc nhiều, nang lông gai dài 0,096 - 0,143 mm, rộng
0,055 - 0,096 mm. Lông gai không có gai. Buồng trứng phân thành 3 - 10
thuỳ. Noãn hoàng không phân thuỳ, dài 0,22 - 0,248 mm, rộng 0,082 - 0,110
mm, nằm ở dưới buồng trứng. Đốt già có 80 - 130 nang trứng, mỗi nang chứa
8 - 10 trứng.
+ Loài Raillietina penetrans: ký sinh ở ruột của vật chủ là gà nhà.
Mô tả: Chuỗi đốt dài 115 mm, rộng nhất 2,45 mm. Móc trên vòi phân
bố thành hai hàng, chiều dài móc hàng trên 0,017 mm, hàng dưới 0,014 mm,
có khoảng 220 móc, trên giác bám có 8 hàng gai, gai lớn nhất dài 0,014 mm .
Trong đốt lưỡng tính có 26 - 35 tinh hoàn, có kích thước 0,078 x 0,045 mm,
phần lớn tinh hoàn nằm ở phía không có lỗ. Nang lông gai có thành cơ dày
0,017 mm, có kích thước 0,190 x 0,080 mm.
+ Loài Raillietina penetrans nova: ký sinh ở ruột non của vật chủ là gà.
Mô tả: Sán dài 225 - 270 mm, rộng 1,12 - 2,5 mm, kích thước đầu
0,330 x 0,315 - 0,390 x 0,335 mm. Vòi có gần 240 móc, xếp thành hai hàng,
móc hàng trên dài 0,019 mm, hàng dưới 0,017 mm. Trong các đốt lưỡng tính
có 22 - 24 tinh hoàn, đa số nằm ở phía không có lỗ, có đường kính 0,045 -
0,055 mm. Nang lông gai có chiều dài 0,115 mm, rộng 0,050 mm, thành cơ
của nang nông gai mỏng, thấy rõ ống dẫn tinh ở trong nang lông gai. Buồng
trứng gồm nhiều thuỳ hình giọt nước nằm ở giữa đốt. Noãn hoàng hình hạt
khúc. Nang lông gai hình quả lê, kích thước 0,075 - 0,200 x 0,15 - 0,50 mm,
kích thước noãn hoàng 0,033 - 0,100 x 0,075 - 0,150 mm ở giữa và dưới
buồng trứng.
+ Loài Raillietina tinguiana: ký sinh ở ruột vật chủ là gà nhà và gà rừng.
Mô tả: Sán dài 80 - 95 mm, rộng nhất 3 mm. Đường kính đầu 0,275 -
0,394 mm, đường kính vòi 0,106 - 0,125 mm, dài 0,060 mm, vòi có gần 300
móc xếp thành hai hàng, móc dài 0,008 - 0,010 mm. Giác bám tròn có kích
thước 0,103 - 0,108 x 0,105 - 0,108 mm, có rất nhiều gai, xếp thành 15 hàng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
15
Trên bề mặt của đầu có rất nhiều gai nhỏ. Lỗ sinh dục ở một phía, kích thước
nang lông gai 0,113 - 0,121 x 0,055 mm, có túi tinh trong, có 30 - 35 tinh
hoàn phân bố xung quanh tuyến sinh dục cái. Ống dẫn tinh uốn khúc nhiều.
Buồng trứng có hai thuỳ, mỗi thuỳ phân thành nhiều thuỳ nhỏ, trong các đốt
sinh dục, buồng trứng rộng 0,330 - 0,375 mm. Noãn nang có thuỳ nhỏ, tử
cung phân thành nhiều nang trứng.
* Giống Davainea Blanchard, 1891
- Đặc điểm chung
Theo Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17], sán có kích thước nhỏ, chuỗi
đốt có ít đốt. Trên đầu có 4 giác bám nhỏ. Không có cổ. Lỗ sinh dục thường
xen kẽ, ít khi ở một phía. Tinh hoàn từ 4 - 50. Nang lông gai có kích thước
lớn, vượt qua ống bài tiết. Mỗi nang trứng có một trứng. Ở Việt Nam mới gặp
một loài thuộc giống này.
- Đặc điểm của loài:
Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11],
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân
(2002) [10], Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [17]:
Loài Davainea proglottina: ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là:
Sán dây ký sinh ở gà muốn hoàn thành vòng đời cần phải có ký chủ
trung gian, do vậy gà chỉ bị nhiễm sán dây khi nuốt phải ký chủ trung gian
chứa ấu trùng có sức gây bệnh.
Đốt sán già rụng cùng phân ra ngoài, trứng sán phân tán, ký chủ trung
gian ăn phải, vỏ trứng bị phân huỷ ở ruột ký chủ trung gian, thai 6 móc chui
vào cơ thể ký chủ trung gian tiếp tục phát triển thành ấu trùng Cysticercoid.
Gà ăn ký chủ trung gian có mang ấu trùng này vào đường tiêu hoá, ký chủ
trung gian bị phân huỷ, ấu trùng dùng giác bám bám vào niêm mạc ruột, lấy
dinh dưỡng và phát triển thành sán trưởng thành.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
17
Hình 2.1: Sơ đồ vòng đời phát triển của sán dây gà
+ Loài Raillietina echinobothrida
Vòng đời: vòng đời có sự tham gia của vật chủ trung gian là loài kiến
Pheidole pallidula, ruồi nhà Musca domestica (Akhumiam.X, 1952). Các đốt
sán già rụng chứa nhiều trứng theo phân ra ngoài. Đốt vỡ ra, giải phóng trứng,
kiến - vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, phát triển thành ấu trùng. Gà
ăn kiến có ấu trùng, ấu trùng có sức gây bệnh vào ruột non gà phát triển thành
sán trưởng thành.
thành ấu trùng Cysticercoid ở ký chủ trung gian là 4 tháng (Sengbuch H.G.
(1977) [46]).
Một số tác giả khác cho biết: thời gian từ khi gia súc nhai lại ăn cỏ lẫn
nhện mang ấu trùng Cysticercoid đến khi phát triển thành sán dây trưởng
thành là 37 - 40 ngày (Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [4], Trịnh Văn
Thịnh và cs (1982) [24], Soulsby E.J.L (19820 [45]).
1.1.2. Những hiểu biết về bệnh sán dây gà
Bệnh sán dây là bệnh thường gặp ở gà, đặc biệt là ở gà thả vườn. Bệnh
xảy ra phổ biến ở các đàn gà nuôi của nước ta và nhiều nước trên thế giới. Sán
dây ký sinh ở ruột non và ruột già, dùng giác bám bám vào niêm mạc ruột gây
tổn thương. Nếu nhiều sán sẽ làm tắc ruột, thủng ruột, viêm xoang bụng. Sán
dây lấy dưỡng chấp ở ruột non làm gà gầy yếu, còi cọc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
19
1.1.2.1. Căn nguyên gây bệnh, ký chủ và vị trí ký sinh
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7] cho biết, có nhiều loài sán dây
ký sinh ở gà, nhưng thường thấy những loài chính là: Raillietina tetragona, R.
echinobothrida, R. cesticillus, Davainea proglottina.
Ký chủ cuối cùng của loài sán dây này là gà, sán dây ký sinh ở ruột non
và ruột già.
1.1.2.2. Dịch tễ học của bệnh sán dây gà
Đã có một số tác giả đề cập đến đặc điểm dịch tễ học các bệnh do sán
dây gây ra. Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn ít và chưa hệ thống nên chưa
phản ánh đầy đủ mối quan hệ của các yếu tố ngoại cảnh với sự phát sinh và
phát triển của bệnh.
Đóng vai trò tàng trữ và truyền bá ấu trùng sán dây Raillietina spp
trong tự nhiên là một số loài kiến Pheidole spp, Tetramorium spp, ruồi nhà
Musca domestica và các loài bọ hung. Trong điều kiện nóng ẩm ở nước ta,
Gà dưới 3 tháng tuổi nhiễm 41,1%; 3 - 5 tháng tuổi nhiễm 57,1%; trên 5
tháng tuổi là 69,9%. Như vậy, tỷ lệ nhiễm tăng theo tuổi vì tuổi càng nhiều
càng có nhiều cơ hội tiếp xúc với vật chủ trung gian.
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [16] cho biết: những vùng có nhiều
kiến, bệnh sán dây gà phát triển. Do vậy, ở miền núi gà nhiễm sán dây nhiều
hơn ở đồng bằng. Tuổi gà càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng tăng. Gà bị nhiễm sán
dây rất sớm, gà 20 ngày tuổi đã thấy có sán dây. Chế độ nuôi dưỡng, vệ sinh
ảnh hưởng đến mức độ nhiễm sán dây.
1.1.2.3. Miễn dịch học bệnh sán dây gà
Những bệnh ký sinh trùng rất phổ biến, đã và đang gây ra nhiều tác hại
hơn bất cứ tình trạng nhiễm trùng nào khác, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và các
nước đang phát triển (Vũ Triệu An và Jean Claude Homberg, 1997). Việt Nam
là nước khí hậu nhiệt đới, người và động vật luôn nhiễm ký sinh trùng với số
lượng, chủng loại nhiều và cường độ nhiễm cao (Trịnh Văn Thịnh và cs (1978)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
21
[25]). Cơ thể người và động vật đáp ứng như thế nào? Đó là câu hỏi mà rất nhiều
người quan tâm tìm cách trả lời, hy vọng tìm ra những phương pháp phòng
nhiễm ký sinh trùng một cách hữu hiệu. Nói một cách tổng quát thì cơ thể có
đáp ứng miễn dịch với ký sinh trùng nhưng không có mấy hiệu quả, cuộc đấu
tranh liên tục xảy ra và đã gây những tổn thương kéo dài, ảnh hưởng đến sức đề
kháng của cơ thể vật chủ (Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [9]).
Cơ thể vật chủ là môi trường dinh dưỡng tự nhiên của vật ký sinh, vì
thế những thay đổi trong môi trường ấy đều có liên quan trực tiếp đến đời
sống của vật ký sinh. Còn bản thân vật chủ thì thường xuyên bị ảnh hưởng
trực tiếp của môi trường bên ngoài và thông qua cơ thể vật chủ ảnh hưởng đến
vật ký sinh.
Ảnh hưởng do hoạt động của vật chủ (gà) lên vật ký sinh (sán dây) thể
bệnh còn do chất độc của sán. Trong khi ký sinh, sán tiết ra độc tố làm gà bị
trúng độc. Sán dây lấy dinh dưỡng của ký chủ làm gà gầy yếu, còi cọc
(Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7]).
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [10] cho biết, 3 loài sán dây
thường gặp ở gà là R. echinobothrida; R. tetragona và R. cesticillus đều gây
ra trạng thái bệnh đường tiêu hoá tương tự ở gà, nhưng loài R. echinobothrida
có tác động gây bệnh nặng nhất.
Với số lượng lớn sống ký sinh trong ống tiêu hoá của gà, sán dây sẽ
chiếm đoạt các chất dinh dưỡng của gà, làm cho gà gầy yếu, thiếu máu, thể
hiện rõ nhất là niêm mạc vàng, nhợt nhạt, mào và tích gà xanh tái. Gà bệnh thở
khó, do đó thường vươn cao cổ. Gà bị nhiễm sán nặng sẽ giảm tăng trọng rõ rệt
đối với gà nuôi thịt và giảm sản lượng đối với gà đẻ (Skrjabin và Petrov, 1963).
Trong thời gian bị bệnh gà ăn kém hoặc có thể vẫn ăn bình thường.
Sán gây ra tác động cơ học trong ruột non của gà, thể hiện: niêm mạc
ruột bị tổn thương do các móc bám của sán, gây viêm ruột thứ phát và xuất
huyết. Gà ỉa lỏng, phân có lẫn máu. Gà con bị nhiễm sán thường thể hiện
viêm ruột cấp và chết với tỷ lệ cao (Kaufmann .J (1996) [35])
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
23
Trong quá trình ký sinh, sán dây cũng tiết ra độc tố tác động đến hệ
thần kinh làm cho gà mệt mỏi, ít vận động, thích đứng ủ rũ trong bóng tối. Gà
con bị bệnh thể cấp tính có thể bỏ ăn, hôn mê, lên cơn động kinh và chết.
Nguyễn Xuân Bình và cs (2004) [1] cho biết, thường gà từ 2 tháng tuổi
trở lên mới bị nhiễm nhiều. Khi bị nhiễm gà thường biểu hiện chậm lớn, giảm
tính thèm ăn, xù lông, còi cọc, tiêu chảy và thiếu máu, niêm mạc xanh xao,
nhợt nhạt. Ở gà đẻ thấy lông xơ xác và giảm đẻ trứng.
Chu Thị Thơm và cs (2006) [22] cũng cho biết, khi gà bị nhiễm sán
dây, nhiều con vật gầy yếu, rối loạn tiêu hoá, kiết lị, có khi táo bón, ăn ít, khát
còn non gây bệnh cấp tính trước giai đoạn sinh sản thể đốt của chúng; bệnh
kéo dài từ một đến bảy ngày.
Sán dây Railietina echinobothrida trưởng thành gây bệnh mãn tính,
trong trường hợp này bệnh kéo dài 20 ngày.
Bệnh cấp tính quan sát thấy chủ yếu ở gà con. Gà mỏi mệt, không
muốn vận động, ủ rũ trong bóng tối. Sau đó phát triển trạng thái hôn mê và
nhiều gà con bị chết. Ở gà lớn mắc bệnh mãn tính thấy rõ chứng thiếu máu, gà
vẫn ăn uống bình thường. Sau đó mào và tích bắt đầu bị xanh tím, khó thở, do
đó gà thường vươn cao cổ.
Do niêm mạc ruột bị tổn thương cơ học nên ruột viêm, lúc đầu ỉa chảy,
sau chuyển sang táo bón.
Ở gà bị chết do bệnh sán dây cấp tính, niêm mạc ruột non sưng và cã
màu đỏ máu. Lúc này chưa phát hiện được sán trưởng thành. Trên tiêu bản
chất nhày niêm mạc, người ta phát hiện được nhiều đầu sán dây .
Trong bệnh sán dây R. echinobothrida mãn tính, trên niêm mạc ruột thấy
có những chấm đen nhỏ. Từ những chấm đen này hình thành các nốt lõm ở trung
tâm to bằng hạt kê. Trong chỗ lõm thấy có sán dây dài đến 10 -15 mm.