RÈN kĩ NĂNG đọc DIỄN cảm văn học TRONG dạy học văn TIẾNG VIỆT - Pdf 22

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ TÂY
LÊ MINH THU
TÊN ĐỀ TÀI:
RÈN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM
VĂN BẢN VĂN HỌC TRONG DẠY HỌC VĂN
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN
NĂM HOC 2009 - 2010
1
MỤC LỤC trang
Phần mở đầu 4
1. Lí do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Môc ®Ých và nhiệm vụ nghiªn cøu 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của đề tài 8
7. Bố cục của đề tài 8
Phần nội dung
Chương 1. Cơ sở lí luận 9
1.1. Khái niệm và đặc trưng của văn bản văn học 9
1.1.1. Quan niệm về văn bản văn học - Văn bản văn học trong nhà trường 9
1.1.1.1. Nhận diện văn bản văn học 9
1.1.1.2. Nhận diện văn bản trong nhà trường 14
1.1.2. Hoạt động giao tiếp và ứng dụng vào đọc hiểu văn bản văn học 15
1.1.3. Cơ sở lí luận của đọc diễn cảm 19
1.1.3.1. Cơ sở ngôn ngữ 22
1.1.3.2. Cơ sở sinh lí học - tâm lí học 27
1.1.3.3. Cơ sở giao tiếp 27
1.1.3.4. Cơ sở nghệ thuật 30
1.1.4. Vai trò của đọc diễn cảm với việc tiếp nhận văn bản văn học của
người đọc trong nhà trường 31

3.2.2. Luyện đọc diễn cảm với các kĩ năng đọc diễn cảm 73
3.2.2.1. Kĩ năng hiểu và truyền đạt ngụ ý 74
3.2.2.2. Tưởng tượng và làm cho người nghe như nhìn thấy
những cảnh tượng như mình hình dung 74
3.2.2.3. Phân tích thể hiện 77
3.2.2.4. Giao tiếp với người nghe 79
3.3. Đọc diễn cảm theo đặc trưng loại 80
3.1. Đọc tác phẩm trữ tình 80
3.2. Đọc tác phẩm tự sự 87
3.3. Đọc tác phẩm kịch 92
3.4. Đọc văn bản nghị luận 96
3.5. Đọc văn bản nhật dụng 99
Chương 4: Dạy học thực nghiệm 103
4.1. Mục đích dạy học thực nghiệm 103
4.2. Thời gian và địa điểm thực nghiệm 103
4.3. Đối tượng thực nghiệm và đối tượng đối chứng 103
4.4. Nội dung thực nghiệm 103
4.5. Kết quả thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm 103
4.5.1. Kết quả thực nghiệm 103
4.5.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm 104
Phần kết luận 106
1. Khái quát kết quả nghiên cứu của đề tài 106
2. Kiến nghị đề xuất 107
Tài liệu tham khảo 108
Phần phụ lục 109
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đọc diễn cảm trở thành một phương pháp đặc thù không thể thiếu được trong
dạy học Văn và tiếng Việt ở nhà trường. Ở khoa Xã hội trường Cao đẳng Sư phạm,

Nhiều SV, GV THCS hiện nay chưa được trang bị đầy đủ kiến thức lí luận
về đọc diễn cảm trong dạy học Văn nên còn nhiều lúng túng khi ứng dụng. Có hai
khó khăn nổi lên hàng đầu là GV đọc diễn cảm (đọc mẫu của GV) như thế nào, GV
hướng dẫn HS đọc diễn cảm như thế nào?
4
Nhiều GV chỉ hiểu chung chung về tác dụng của đọc diễn cảm trên lí thuyết
nhưng không chỉ ra được một cách cụ thể ở từng bài với cách đọc khác nhau hiệu
quả sẽ khác nhau và đâu là cách đọc tối ưu.
Tài liệu tham khảo về vấn đề này chưa đáp ứng yêu cầu của thực tế dạy học.
Qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy nhất thiết phải có thêm tài liệu tham
khảo về rèn kĩ năng đọc diễn cảm theo đặc trưng thể loại cho GV và HS vì:
Đọc diễn cảm là một phương pháp đặc thù. Đọc diễn cảm được coi là sự
phân tích tác phẩm văn học bằng âm thanh đã trở thành một nhiệm vụ lớn lao đặt
ra trước các nhà sư phạm.
Từ những lí do cơ bản trên, với tư cách là những GV phương pháp trực tiếp
tham gia giảng dạy bộ môn Ngữ văn cho SV Văn trường CĐSP, chúng tôi thực
hiện đề tài này với mong muốn có thêm một tài liệu thiết thực để rèn đọc diễn cảm
cho SV Văn cũng như GV Ngữ văn phổ thông.
Tài liệu Rèn kĩ năng đọc diễn cảm văn bản văn học trong dạy học Văn sẽ
là một tài liệu học tập của SV văn trường CĐSP, đồng thời cũng có thể dùng làm
tài liệu tham khảo và học tập cho SV cho SV các khoa Tiểu học, Mầm non, các lớp
Liên kết, tại chức có các bộ môn Văn - Tiếng Việt. Tài liệu này cũng có thể dùng
bồi dưỡng chuyên đề cho GV dạy Ngữ văn ở các trường phổ thông.
2. Lịch sử vấn đề
Đọc diễn cảm ở Việt Nam mặc dù không có sách lí luận nghiên cứu sâu như
trên thế giới nhưng ngay từ thời nhà nước phong kiến Việt Nam tự trị (thế kỉ XI),
việc đọc văn (đọc diễn cảm) đã được tiến hành song song với việc học chữ Hán.
Tác phẩm “Nam quốc sơn hà” được Trương Hống, Trương Hát đọc trên Sông
Bạch Đằng, “Dụ chi tì tướng hịch văn” được Trần Quốc Tuấn đọc trước tướng sĩ,
“Bình Ngô đại cáo” được đọc trước dân chúng. Sau này, trong thời kì Pháp thuộc,

* Về phương pháp đọc sáng tạo và biện pháp đọc diễn cảm ở lớp 6 và lớp 7
CCGD, Nguyễn Quốc Tuý, Báo Giáo viên nhân dân số 27, 30 ngày 13/7/1987.
* Phương pháp dạy đọc hiểu văn bản, Taff E.Raphael - Efieda H. Hiebert,
người dịch Lê Công Tuấn (nhóm),NXB ĐHSP 2007. Tài liệu này chủ yếu là hướng
dẫn đọc hiểu văn bản dành cho tiểu học.
* Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ, M. K. Bôgliupxkaia,
V.V.Septsenkô, Lê Đức Mẫn dịch, NXB GD năm 1976. Tài liệu này chủ yếu dành
cho đọc và kể chuyện ở lứa tuổi vườn trẻ, mẫu giáo.
Tuy đã có một số tài liệu về đọc diễn cảm nhưng ít người biết đến những
cuốn sách đó.
Điểm qua các sách tham khảo có liên quan đến vấn đề rèn kĩ năng đọc diễn
cảm có thể nhận thấy:
- Tài liệu chủ yếu dùng cho Mầm non hoặc Tiểu học rèn kĩ năng đọc thành
tiếng.
- Tài liệu dành cho THCS chỉ nói chung chung về tác dụng của phương pháp
đọc diễn cảm.
- Tài liệu dịch lại thiên về đọc hiểu văn bản văn học ở tiểu học.
Nhìn chung chưa có tài liệu nào hướng dẫn cụ thể về rèn đọc diễn cảm,
hướng dẫn cách đọc diễn cảm văn bản văn học trong dạy học Văn, đúng như giáo
sư Phan Trọng Luận đã nhận xét chưa có một bài báo hay cuốn sách nào đề cập
đến vấn đề đọc diễn cảm như một phương pháp.
3. Môc ®Ých và nhiệm vụ nghiªn cøu
3.1. Môc ®Ých nghiªn cøu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài hướng tới xây dựng biện pháp rèn kĩ năng
đọc diễn cảm (gồm cả hai mặt của hoạt động đọc diễn cảm là đọc thành tiếng và
đọc hiểu) cho SV Văn trường CĐSP Hà Tây nói riêng và GV THCS nói chung,
giúp cho họ có thêm tư liệu tham khảo để rèn kĩ năng đọc diễn cảm. Trang bị cho
sinh viên Văn những kĩ năng đọc diễn cảm ở hai vị trí người học hôm nay và người
6
thy sau ny. Ngoi ra, ti liu ny cng cú th dựng tham kho v hc tp cho

ti cng ch khai thỏc c din cm theo th loi cú trong chng trỡnh
Ng vn THCS, cỏc th loi khụng cú trong chng trỡnh cha c cp trong
ti ny.
5. Phng phỏp nghiờn cu:
5.1. Phng phỏp iu tra kho sỏt.
Chỳng tụi thc hin iu tra kho sỏt tỡnh tỡnh thc hin c din cm trờn
a bn H Ni mt s trng CSP v THCS. T ú cú c nhng ỏnh giỏ
chung v cỏc mt c v cha c, nhng khú khn v yờu cu, kin ngh ca
SV, GV trc tip thc hin c din cm bn bn vn hc trong dy hc Vn. õy
chớnh l c s thc tin cho vic thc hin ti.
5.2. Phng phỏp nghiờn cu lớ lun v c din cm, ti liu c din cm.
7
Lí luận về đọc diễn cảm là cơ sở lí thuyết cho việc thực hiện đề tài. Đồng
thời để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tinh thần đổi mới
phương pháp dạy học, nghiên cứu SGK Ngữ văn mới ở THCS với các kiểu văn bản
cụ thể có trong chương trình. Từ đó có thể đề xuất được các phương án đọc diễn
cảm nói chung và đọc diễn cảm theo loại thể có tính khả thi.
5.3. Phương pháp đối chiếu so sánh, phân tích, tổng hợp.
Các phương pháp đối chiếu so sánh, phân tích, tổng hợp rất cần thiết cho
việc nghiên cứu của đề tài. Đây đồng thời là các thao tác để chúng tôi có thể nghiên
cứu kĩ lường từng khía cạnh của vấn đề rồi tổng hợp lại theo mục đích mà đề tài đặt
ra.
5.4. Phương pháp dạy học thực nghiệm.
Dạy học thực nghiệm là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đề tài, để
đánh giá tính khả thi của những đề xuất mà đề tài đưa ra. Trong đề tài này, chúng
tôi đã tiến hành thực nghiệm trên các đối tượng là SV và GV ở trường CĐSP và
THCS trên địa bản Hà Nội.
6. Đóng góp của đề tài:
Xây dựng được kĩ thuật đọc diễn cảm, phương pháp đọc diễn cảm theo loại
thể, phục vụ dạy học môn Phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường CĐSP.

Văn bản là một cấu trúc mời gọi, có khoảng trống về ý nghĩa hoặc những
điểm không xác định. Khoảng trống và điểm không xác định dành cho người đọc
cụ thể hoá và đồng sáng tạo. Văn bản là một cấu trúc mở, tự nó chưa đầy đủ, chờ
sự lấp đầy của người đọc để tự thực hiện mình.
Quan niệm về văn bản văn học (VBVH): là một tổ hợp có trật tự, nhiều tầng
bậc, dùng ngôn ngữ để truyền đạt tư tưởng, tình cảm, có giá trị thẩm mĩ. Văn bản
văn học có tính lập thể, không đơn giản là tính hình tuyến, nó có nhiều tầng bậc.
Tầng ngôn từ với ngữ âm, nghĩa từ, nghĩa câu đoạn, chương, toàn thể văn bản.
Tầng thế giới hình tượng với các chi tiết, sự kiện, nhân vật, hình ảnh. Tầng ý nghĩa
với đề tài, chủ đề, tư tưởng. Văn bản có mặt thấy được (hữu hình) và mặt không
thấy được (vô hình).
Văn bản là sản phẩm sáng tạo của tự thân nhà văn, chưa tính đến sự hành chức
xã hội thẩm mĩ, là đối tượng của sự phân tích khép kín về mặt giải thích học.
Văn bản nảy sinh trong không gian quan hệ giữa người đọc và con chữ, nó là
một nơi sản sinh. Với tư cách là hoạt động sản sinh, nó sản sinh ra không phải là
sản phẩm, mà là nơi có sự gặp gỡ giữa tác giả và người đọc, người diễn xuất, nơi
tiến hành các trò chơi chữ. Do đó văn bản không phải là sự kết thúc sinh sản, mà là
quá trình sinh sản. Tư liệu sinh sản của nó là ngôn ngữ, là thứ ngôn ngữ dùng để
giao tiếp, tái hiện, biểu đạt. Văn bản giải cấu trúc ngôn ngữ ấy và tạo thành ngôn
ngữ khác, cứ thế tuần hoàn không dứt.
Tác phẩm văn học là sản phẩm sinh nghĩa và tạo nghĩa của văn bản, là sự thống
nhất có tính quá trình giữa văn bản nghệ thuật với khách thể thẩm mĩ hình thành
trong quá trình tiếp nhận của người đọc. Đó là một thế giới nghệ thuật sống động
mang giá trị tư tưởng thẩm mĩ do người đọc khám phá ra.
Sự phân biệt văn bản và tác phẩm cho thấy sự khác biệt giữa sáng tạo của
nhà văn và sức đọc, sức cảm thụ, sáng tạo của người đọc. Đồng thời sự phân biệt
đó cho thấy đặc trưng văn học chủ yếu thuộc về văn bản văn học vì nó mở ra một
thế giới mới, các điểm nhìn nhân vất đều được mã hoá trong văn bản. Từ một văn
bản mà các người đọc với năng lực, kinh nghiệm, thị hiếu khác nhau có thể tạo
9

năng lực tâm lí đặc biệt. Trong đó, vai trò của tưởng tượng quan trong đặc biệt:
“Người kể chuyện luôn luôn phải dùng đến trí tưởng tượng để thấy những hình ảnh
của sự vật và khác nào vẽ lại những hình ảnh ấy bằng tiếng nói do đó mà truyền
đạt vào trí tưởng tượng của người nghe những hình ảnh như dang sống thực, có
sức cuốn hút và làm lay động cả trí tuệ và tình cảm của người nghe” (Nguyễn Đình
Thi).
Sức mạnh của văn bản văn học chính là mối liên hệ giữa VBVH và bạn đọc.
Không có bạn đọc sẽ không có văn bản văn học. Mối liên hệ ấy được biểu diễn như
sau:
10

Hiện thực khách quan là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà văn, nhà thơ. Thông
qua lăng kính chủ quan của mình, những nghệ sĩ sáng tạo nên văn bản văn học của
mình, gửi gắm vào văn bản tư tưởng, tình cảm, thái độ đối với cuộc sống, hiện thực
thông qua các hình tượng văn học. Văn bản văn học đến với bạn đọc, tác động vào
bạn đọc một cách toàn diện: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ. Các văn bản văn học
chân chính sẽ tác động toàn diện tới bạn đọc, làm bạn đọc phát triển. Từ nhận thức
về cuộc sống do văn bản khêu gợi lên, bạn đọc xác định được thái độ, tiến tới có
hành động thiết thực góp phần cải tạo cuộc sống làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn lên.
Như vậy Hiện thực khách quan I đã thay đổi thành Hiện thực khách quan II. Cứ
như vậy, mối liên hệ với bạn đọc đã làm cho văn bản văn học thực sự hữu ích, góp
phần cải tạo cuộc sống phát triển theo chiều xoáy trôn ốc.
Đặt văn bản trong mối quan hệ với bạn đọc không những phù hợp với ý định
sáng tác của nhà văn mà còn thể hiện sự nhận thức đúng đắn về con đường vận
động khách quan của văn bản văn học đến với cuộc sống. Đích sáng tác là cuộc
đời. VBVH đến với cuộc đời thông qua bạn đọc. VBVH có hai sinh mệnh: bản thân
VBVH do nhà văn sáng tạo nên với hình tượng văn học luôn luôn tồn tại một cách
khách quan; VBVH đến với cuộc đời thông qua bạn đọc bằng con đường tái tạo
trong lòng độc giả. Nói cách khác, tôn trọng bản thân VBVH như một tồn tại khách
quan của hình tượng do nhà văn sáng tạo nên đồng thời cần nhấn mạnh mối liên hệ

quan niệm, nhất là trong phương pháp của các lí thuyết nói trên để bổ sung cho
quan niệm về văn học và văn bản văn học. Tiếp nhận nhưng phải tuân thủ nguyên
tắc là: không thể vì nhấn mạnh đến một chức năng hay yếu tố nào đó của văn học
và văn bản văn học mà coi nhẹ nội dung và ý nghĩa thẩm mĩ (thông tin nghệ thuật)
của bản thân tác phẩm.
Nhìn chung, có thể hiểu khái quát về văn bản văn học là:
- Mỗi văn bản văn học bao giờ cũng là những lời nhắn gửi trực tiếp hoặc
gián tiếp, kín đáo hoặc công khai của nhà văn về cuộc đời và cuộc sống.
- Bằng sự sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật theo phong cách riêng của mình, nhà
văn tạo nên một hình thức độc đáo của VBVH chứa đựng một nội dung nhất định
bao gồm hai yếu tố khách quan phản ánh và chủ quan biểu hiện chuyển hoá thâm
nhập vào nhau nhằm gây được một tác động đặc biệt đến tâm hồn và tình cảm của
bạn đọc, đối tượng tạo nên mối liên hệ sinh mệnh của VBVH đối với đời sống.
Từ đó, văn bản văn học mang những đặc trưng cơ bản sau:
- Văn bản văn học là một chỉnh thể toàn vẹn sinh động: VBVH có sự thống
nhất đặc biệt giữa nội dung và hình thức văn bản, trong lôgic của ý thức nghệ thuật
và việc vận dụng các phương tiện nghệ thuật cụ thể tiêu biểu, biểu hiện trong mở
đầu và kết thúc văn bản, biểu hiện trong tưởng tượng thi ca được phát triển nhất
quán với hình tượng văn học.
Nội dung của văn bản văn học gồm các thành tố: đề tài, chủ đề, cảm hứng, tư
tưởng, nhân vật, tính cách, các sự kiện…
Hình thức nghệ thuật của văn bản văn học gồm các thành tố: yếu tố tạo hình,
ngôn từ, kết cấu, thể loại, phong cách, tình cảm yêu ghét, cảm hứng thẩm mĩ…
- Văn bản mang đặc điểm nhiều nghĩa, đặc điểm mở. Nguyên nhân dẫn đến
tính nhiều nghĩa của văn bản:
Tính biểu cảm của ngôn ngữ và quá trình tạo nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật
bằng hình thức liên kết trong văn bản.
Do sức khái quát cao của hình tượng văn học, do khả năng tìm thấy những
nét tương đồng của nhiều kiểu người trong hình tượng văn học.
Do sự di chuyển những hiện tượng cụ thể và hình thức sinh động của cuộc

- kết thúc, nhân vật thì có sinh - tử, lưu lạc – gặp gỡ,…có mối tương quan giữa
chủ thể kể chuyện với nhân vật, nhân vật với môi trường, có tương quan không
gian, thời gian,… Các quan hệ đó làm thành cấu trúc tạo nghĩa của hình tượng.
Xét tác phẩm văn học ở phương diện kí hiệu học, với tư cách là một sáng tạo
có tính kí hiệu, thì tác phẩm có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, văn bản
và ý nghĩa. Nội dung tác phẩm văn học được mã hoá vào các phương tiện biểu đạt
là ngôn từ và hình tượng văn học, làm thành ý nghĩa của chúng. Người đọc giải mã
ngôn từ và hình tượng dể nắm bắt ý nghĩa của tác phẩm. Do đó, nội dung của tác
phẩm được thực hiện và mở ra qua ý nghĩa mà người đọc phát hiện, nội dung tác
phẩm là tổng hoà mọi ý nghĩa của tác phẩm do hoạt động đọc mở ra. Nội dung tác
phẩm và ý nghĩa văn bản thống nhất trong đời sống lịch sử của tác phẩm văn học.
- Văn bản văn học được lựa chọn, trau chuốt, được tổ chức đặc biệt với
nhiều phương thức tu từ. Văn bản văn học luôn luôn sử dụng ngôn từ “lạ hoá”,
tức là gọi sự vật đã quen bằng những cách gọi khác lạ, do nhà văn tạo ra nhằm kích
thích, gây chấn động cho người đọc, đem đến cho họ một cách nhìn mới, cảm giác
mới, ý nghĩa mới, không bằng phẳng, sáo mòn như lời nói thông thường.
- Văn bản được hiểu ở tính độc lập, tách rời tác giả, là đối tượng thưởng
thức, phê bình của bạn đọc, là một hoạt động sản sinh ý nghĩa, qua đó người đọc
13
có thể khám phá ý nghĩa theo cách riêng của mình. Và đó là phương thức tồn tại
của tác phẩm văn học.
1.1.1.2. Nhận diện văn bản văn học trong nhà trường.
Văn bản văn học trong nhà trường là những văn bản văn học được chọn lọc,
tuyển lựa từ tinh hoa văn hoá văn học của dân tộc và nhân loại theo những tiêu chí
phù hợp với nhà trường, phù hợp cấu trúc chương trình giảng dạy của bộ môn. Vì
thời lượng học tập trên lớp và mục tiêu giáo dục, một VBVH hay và tốt nhiều khi
không thể và không có điều kiện giữ nguyên vẹn khi đi vào sách giáo khoa.
Như trên đã nói đến mối quan hệ giữa văn bản văn học và bạn đọc hay nói
cách khác, đó chính là vòng đời của văn bản văn học. Đó là một vòng khép kín kết
dệt nhiều quá trình và nhiều quan hệ: cuộc sống - nhà văn - văn bản - bạn đọc -

giáo dục, giảng dạy là nội dung cấu tạo củaVBVH.
14
Văn bản văn học có hai bình diện lớn là cái biểu hiện và cái phản ánh. Cái
biểu hiện bao giờ cũng lớn hơn cái phản ánh, hình tượng lớn hơn tư tưởng. Người
giáo viên thông hiểu bản chất của cấu tạo VBVH sẽ xác định được nội dung khai
thác, phân tích và giảng dạy. Điều nhà văn muốn nói, cần nói là cái quan trọng nhất
cần truyền đạt đến cho HS. Nhiệm vụ và công việc của người GV văn học gần gũi
nhưng không đồng nhất với nhiệm vụ và công việc của nhà phê bình, nghiên cứu
văn học. Người GV cần khai thác tác phẩm đáp ứng tthế giới tinh thần của HS để
giờ dạy ngày càng có hiệu quả hơn.
Những hiểu biết về mục đích, ý định sáng tác về cơ cấu nội dung, về sức
mạnh riêng của tác phẩm cùng mối liên hệ giữa nhà văn và bạn đọc, là những cơ sở
quan trọng để xác định đúng phương hướng chủ yếu và cơ bản cho việc khai thác
và giảng dạy một tác phẩm văn chương. Dạy một bài văn theo ý nghĩa trên bao giờ
cũng phải làm công việc vang dội lên trong tâm trí người HS tiếng nói tâm tình tha
thiết của nhà văn. Sức thuyết phục của tiếng nói tình cảm, của những rung động sâu
xa trong lòng người nghệ sĩ đến tận đáy lòng người HS. Cơ sở để giáo dục, giảng
dạy là nội dung cấu tạo của tác phẩm. Cái biểu hiện bao giờ cũng lớn hơn cái phản
ánh. Thường khi hình tượng lớn hơn tư tưởng.
Trong nhà trường, sức mạnh của tác phẩm văn học đối với HS luôn luôn
được nhân lên bởi tài ba của người GV. Tác phẩm văn chương trong nhà trường
không chỉ là một phương tiện nhận thức mà còn là một đối tượng thẩm mĩ, đồng
thời còn là một cơ sở để hình thành những hiểu biết về lịch sử văn học, là một công
cụ giáo dục đặc biệt giúp HS tự phát triển một cách hiểu toàn diện và cân đối.
1.1.2. Hoạt động giao tiếp và ứng dụng vào đọc hiểu văn bản văn học
* Dạy đọc hiểu là dạy một hoạt động.
Đọc là một hoạt động tâm lí nhằm giải mã văn bản. Một là để chuyển văn
bản kí hiệu văn tự thành văn bản ngôn ngữ (dạng thành tiếng hoặc dạng biểu
tượng âm thanh - đọc thầm) tương ứng với văn bản chữ viết. Hai là giải mã văn
bản để tìm ý nghĩa.

cá thể hoá cao độ, gắn với trình độ, cá tính, trí tuệ của người đọc. Đọc hiểu là tự
hiểu không ai hiểu hộ được cho ai. Sự kiến tạo ý nghĩa xác định khi đọc là một hoạt
động sáng tạo. Hoạt động tìm nghĩa là quá trình đối thoại với tác giả và cộng đồng
lí giải, nên nó mang tính liên chủ thể, tính hợp tác. Trong quan niệm này, văn bản
không phải là đối tượng, khách thể của sự đọc, mà là một chủ thể của đối thoại.

* Đọc hiểu văn bản văn học
Đọc hiểu văn bản văn học là hoạt động đọc, được xác định thông qua đối
tượng thẩm mĩ và hướng vào chủ thể.
Đọc hiểu văn bản văn học là tìm hiểu những khả năng vận dụng ngôn ngữ
âm thanh khác nhau để lĩnh hội lí giải tính chân thực của văn bản văn học.
Đọc hiểu văn bản văn học là một hoạt động phân tích, tổng hợp phức tạp,
thông qua hoạt động đó nội dung ý nghĩa chứa đựng trong ngôn ngữ nghệ thuật
được thể hiện tập trung vào hình tượng văn học.
Đọc hiểu văn bản văn học là một hoạt động thể hiện năng lực tái tạo âm
thanh, năng lực nhận ra những đơn vị thống nhất về cú pháp tạo nên âm hưởng,
điệu tính thích hợp, đúng đắn với văn bản. Đọc văn bản nghệ thuật bao gồm những
kĩ năng đọc gắn liền với hiểu biết, ý nghĩa nội dung, những dấu hiệu đặc điểm ngôn
ngữ nhất định trong chức năng nghệ thuật của nó.
Đọc hiểu văn bản văn học không chỉ là việc tái tạo lại tài giỏi nguyên bản mà
còn cùng suy nghĩ tới mức tốt nhất để giữ lại những đặc sắc về nội dung và hình
thức nghệ thuật của nguyên tác VBVH bằng ngữ điệu và những đặc điểm ngữ âm
của người đọc. Cần lưu ý hình thành và xây dựng nhiều cách đọc, phát huy khả
năng sáng tạo của người đọc.
Như vậy đọc hiểu văn bản văn học chính là hoạt động đọc để giải mã các lớp
cấu trúc văn bản: giải mã lớp cấu trúc ngôn từ, lớp cấu trúc hình tượng và lớp cấu
trúc ý nghĩa. Trong quá trình giải mã đó, người đọc đã tiến hành hoạt động tìm
16
nghĩa. Nghĩa là cái không hiển thị rõ ràng trên câu chữ nên người đọc phải kết hợp
hoạt động cảm thụ với hoạt động tư duy nhằm kiến tạo ý nghĩa của văn bản. Đây

Hiểu là hội ngộ, gặp gỡ, là hội thông, giao tiếp, cảm thông, hội nhập.
Từ đó, hiểu có một nội hàm rất rộng, nghĩa là sống, là ý thức của chủ thể
đang tác động tới cuộc sống. Hiểu văn tức là hiểu người, hiểu đời với tất cả mọi
khía cạnh của nó.
Đọc hiểu văn bản văn học được xem xét ở các mặt sau:
Về mặt kĩ thuật, ở phương diện khách quan của đọc hiểu, người đọc phải
nhận biết, hiểu được từ ngữ, câu, đoạn, các phương tiện tu từ, các mối liên kết văn
bản, làm nền tảng để hiểu văn bản. Người đọc phải biết phát hiện hệ thống kí hiệu
thẩm mĩ chung, truyền thống và đặc thù do nhà văn sáng tạo ra trong văn bản làm
17
cơ sở để hiểu ý tứ của văn bản. Đồng thời người đọc cũng phải tìm hiểu ngữ cảnh
của văn bản (văn cảnh và tình huống phát ngôn) để hiểu văn bản.
Ở phương diện chủ quan của đọc hiểu, vì văn bản có khoảng trống về ý
nghĩa, buộc người đọc phải kiến tạo ý nghĩa, do đó tính chủ quan rất đậm. Cơ sở để
suy đoán, là tầm đón nhận, tiền nhận thức, sự chờ đợi quy định cách hiểu nên mỗi
người đọc đều có cái riêng, cái chủ quan của mình khi đọc hiểu văn bản văn học.
Về mặt tâm lí, hiểu là người đọc cảm nhận được ý nghĩa của những kích
thích mà văn bản gợi lên cho mình, là tìm thấy câu trả lời mà mình đặt ra khi tiếp
xúc với văn bản, tự giải đáp được các nghi vấn do văn bản gợi lên. Hiểu là một quá
trình từ hiểu bộ phận tời hiểu được toàn thể, từ hiểu bề mặt tới hiểu được bề sâu.
Nói cách khác, đó là quá trình hiểu nghĩa và ý nhĩa của văn bản văn học.
Nghiã của bài thơ, câu thơ, câu văn là nội dung khách quan toát ra từ lời thơ,
lời văn. Đây là cái nền tảng của hình tượng nghệ thuật ngôn từ. Nói đến nghĩa tức
là nói đến phần thuần tuý văn bản.
Ý nghĩa của bài thơ là nói đến ý nghĩa khái quát, điển hình tức là nói đến quan
hệ của tác phẩm với những yếu tố ngoài tác phẩm.
Ý nghĩa phải toát ra từ nghĩa. Không hiểu nghĩa thì không nắm bắt được ý
nghĩa.
Thế giới hình tượng tác phẩm được xây dựng bằng nhiều chi tiết, nhưng không
phải chi tiết nào cũng có giá trị như nhau. Có những chi tiết quan trọng được xem

- Loại người đọc đặc biệt: Các nghệ sĩ sáng tạo như nghệ sĩ đọc, nghệ sĩ
ngâm thơ. Người đọc này dựa vào trực giác nghệ thuật mạnh, dựa vào thiên tư, vào
năng khiếu là chính.
- Loại người đọc là học sinh: Loại bạn đọc phát triển, tức là thông qua đọc
văn, nhân cách của học sinh hình thành và phát triển. Với loại bạn đọc này, nhà
trường cung cấp từng loại tác phẩm theo các cấp học.
Dấu hiệu phát triển ở học sinh được thể hiện ở hai xu hướng vận động trong
quá trình đọc: Xu thế hướng vào khám phá thế giới nội tâm của chủ thể đọc là học
sinh; xu thế hướng vào sự nắm vững đối tượng thẩm mĩ (tác phẩm văn học). Cả
hai sự vận động này tác động qua lại lẫn nhau và trở thành dấu hiệu văn học ở học
sinh. Người đọc học sinh thể hiện sự cụ thể hoá và khái quát hoá hình tượng nghệ
thuật. Đó là biểu hiện khách quan đặc trưng của hoạt động đọc văn.
Đọc hiểu tác phẩm văn học là quá trình thâm nhập một bài văn. Qúa trình
thâm nhập một bài văn có thể khái quát lại như sau:
- Người đọc sử dụng tư duy tổng hợp để cảm thụ, nghĩa là vận dụng tổng
hoà những năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát trong quá trình đi từ
thấp đến cao, từ sai đến đúng, từ hiện tượng đến bản chất để xác định được chủ
đề và phát hiện ra đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm.
- Người đọc vận dụng nhiều năng lực tâm lí cảm thụ trong quá trình đi
vào tác phẩm. Qúa trình đó diễn ra qua nhiều giai đoạn mà bước cao nhất là xác
định được chủ đề tác phẩm.
- Người đọc tái hiện dần hình ảnh ở các bình diện 1,2,3,4 trong quá trình
đi đến bước xác định chủ đề và ý nghĩa khái quát về cuộc sống do tác phẩm đặt
ra. Hình ảnh này xuất hiện sớm muộn do năng lực chủ quan của người đọc.
- Để thâm nhập tác phẩm cần vượt qua bước khai thác, phân tích những yếu
tố hữu hình để nắm cho được những yếu tố vô hình của tác phẩm như một chỉnh
thể. Cần lĩnh hội tác phẩm bằng sức mạnh của cả kĩ thuật lẫn tâm hồn người
đọc.
- Người đọc luôn luôn phải loại trừ những ấn tượng chủ quan sai lệch về tác
phẩm, phân biệt được yếu tố trung hoà và yếu tố then chốt để xác định đúng đắn

c mt cỏch rt khỏi quỏt. Ngi c khi c phi l thuc vn bn, khụng
c thờm bt cõu, ch, du chm, du phy. Tuy vy, s l thuc y khụng hn
ch kh nng sỏng to ca ngi c din cm. Bi vỡ ch vit khụng ghi c
ng iu, khụng ghi c hm ý ca cõu, on.
Vớ d khi c hai cõu th sau ca Nguyn ỡnh Thi:
Ngời ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lng thềm nắng lá rơi đầy
Câu thơ dựng chân dung ngời đi, bốn chữ đầu không ngoảnh lại khắc tả
một t thế, khắc tả một thái độ quyết dứt áo ra đi vì nghĩa lớn, phảng phất cái khẩu
khí hào hùng mà hào hoa của các tráng sĩ thuở trớc Nhất khứ hề bất phục hoàn
(một đi không trở lại). Câu thơ khoẻ mà mộng.
20
Câu dới lại dựng một bức tranh thu tuyệt tác giữa hồn ngời: Sau lng thềm
nắng lá rơi đầy. Sắc vàng thu nhuộm vàng cả câu thơ. Có nhiều cách cảm nhận
nhạc điệu của câu thơ này. Có ngời tách câu thơ theo nhịp 3/4 (Sau lng thềm/ nắng
lá rơi đầy). Nhịp thơ gợi hình ảnh bóng nắng, bóng lá trộn vào nhau

. Cái vô hình
hữu hình quyện vào nhau một cách h ảo, ớp vàng thềm phố Hà Nội. Nguyễn Đình
Thi lại tâm sự rằng ông chỉ muốn ngắt câu theo nhịp 4/3 (sau lng thềm nắng/ lá
rơi đầy). Cách ngắt nhịp này đã làm giảm đi rất nhiều vẻ thơ mộng của hình ảnh
bởi vì câu thơ hiện ra rõ ràng quá. Có ngời lại ngắt câu thơ này theo nhịp 2/2/3
(Sau lng/thềm nắng/ lá rơi đầy). Câu thơ gợi lên hình ảnh rất sinh động của một
chiếc lá thu đang bứt khỏi cành thu, khẽ xoay rồi chao nghiêng chao nghiêng
rồi nhẹ nhàng đặt khẽ lên hè phố

. Những câu thơ hay thờng cảm thụ khác nhau.
Đây là một câu thơ nh thế. Mùa thu vàng trong câu thơ bâng khuâng, ngập ngừng
rơi giữa tất cả các cách ngắt nhịp, ớp vàng lên thềm phố Hà Nội nh một mảnh hồn
tình vàng cô đơn mà đầy mơ mộng, gợi ta nhớ tới bức danh hoạ Mùa thu vàng

thiên tư, những phẩm chất cá nhân của người đọc.
Đọc diễn cảm chính là một hình thức đọc đặc biệt của đọc văn, nó có sự
tham gia, hỗ trợ của những yếu tố phi ngôn ngữ như điệu bộ, tâm thế, dáng vẻ,
giọng điệu, ngữ điệu, âm sắc, màu sắc cảm xúc cá nhân. Những văn bản được đưa
vào chương trình phân môn Văn là văn bản văn học mà hệ thống ngôn ngữ của nó
được tổ chức chặt chẽ theo các quy luật của tư duy nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ
thuật. Tác phẩm văn học là tác phẩm nghệ thuật. Vì vậy, đọc diễn cảm tác phẩm
văn học là bước vào lĩnh vực nghệ thuật - nghệ thuật trình tấu hệ thống hình
tượng, âm thanh của tác phẩm văn học. Do đó, đọc diễn cảm là một nghệ thuật.
Khái quát lại, bản chất của đọc diễn cảm là một hoạt động lao động sáng
tạo, là một hoạt động mang tính nghệ thuật cao để truyền đạt mọi cái hay của tác
phẩm văn học cho người nghe, phát huy được mọi khả năng tiềm ẩn của tác phẩm
cũng như trí ttưởng tượng phong phú của người nghe, gây xúc động cả người
nghe lẫn người đọc. Đọc diễn cảm là một phương pháp sư phạm, một khoa học.
* Phân biệt đọc diễn cảm trong nhà trường với đọc nghệ thuật (trình diễn)
Đọc nghệ thuật (trình diễn) thiên về biểu diễn, tác động cùng lúc vào thính
giác, vào thị giác của người nghe

: Đọc không nhìn vào văn bản, có sử dụng nhiều
yếu tố phi ngôn ngữ: động tác, cử chỉ nhiều. Đọc trình diễn có rất nhiều trường
phái, da dạng. Người nghe không chỉ được nghe mà còn được nhìn để thưởng
thức cách trình diễn. Không khí trình diễn cũng hỗ trợ người đọc người xem.
Trong khi đó, đọc diễn cảm lại có nhìn vào văn bản, sử dụng ngữ điệu là chính,
các yếu tố phi ngôn ngữ là phụ, chỉ hỗ trợ, biểu hiện chủ yếu qua nét mặt, ánh mắt
khoé miệng.
Đọc diễn cảm chủ yếu là sử dụng ngữ điệu, tác động vào thính giác của
người nghe

. Đọc diễn cảm có đối tượng riêng là học sinh học Văn trong nhà
trường. Phương pháp đọc diễn cảm được xem xét đồng thời từ góc độ thích hợp

T duy khỏi nim v t duy hỡnh tng cú mi liờn h vi nhau, nú cú liờn
quan ti mt quỏ trỡnh hon rt quan trng trong quỏ trỡnh sỏng to, ú l s tng
tng. c din cm, ngi c v ngi nghe cn hiu sõu sc, cú trớ tng
tng phong phỳ xõu chui cỏc khỏi nim m liờn tng, tng tng.
Vớ d:
đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi
đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền
Hai chữ về - lên tập trung năng lợng nghệ thuật của đoạn thơ ngắn. Về
gợi ra một chiều dài không gian. Chiều dài ấy có thể là từ Nam chí Bắc, từ Đông
sang Tây, từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau. Lên gợi ra một chiều cao: từ đáy
thung lũng hay đáy biển sâu lên đến những đỉnh núi ngất thiêng của đất nớc.
Trông về là cái thế đứng của ngời từ xa, xuyên suốt muôn dặm đờng xa dài theo
đất nớc. Nhìn lên là cái thế đứng của những ngời dới đáy vơn lên đến những tầm
cao bay bổng tuyệt vời.
23
Hai câu thơ đã bao quát cả không gian, có bề sâu, bề rộng, bề dài, bề cao.
Đó mới là cái lớn lao, sâu sắc của hình tợng Việt Bắc trong tấm lòng ngời dân Việt
Nam ở khắp mọi miền.
Từ hình tợng Việt Bắc ấy gợi liên tởng. Trong phạm vi bốn câu này, vấn đề
liên tởng lại không nằm ở địa điểm Việt Bắc mà là ở những nơi xa Việt Bắc.
Những nơi ấy lại hiện ra trớc mắt ta cả bề mặt lẫn bề sâu. U ám quân thù là
quang cảnh hiện hữu, là những vùng trời đất tối tăm, bóng dáng kẻ thù che lấp
cuộc đời và ánh sáng. Đau đớn giống nòi lại là một hình ảnh sâu lắng một cái gì
không nhìn ra đợc cụ thể nhng lại thấm thía cả một nỗi niềm. Chỉ bằng một số
hình ảnh, nhà thơ đã đa ta vào cả một thế giới vừa bao la vừa sâu rộng có cả cuộc
sống bên ngoài và cuộc sống bên trong.
Hình tợng Việt Bắc đợc xây dựng trong bốn câu thơ này tht giu ý ngha:
Việt Bắc là thủ đô kháng chiến là trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến chống

trọng hơn là sợ làm lộ đề và hẹp nghĩa. Còn lại Tây Tiến chắc, khoẻ, hào hùng và
nỗi nhớ cứ dâng sóng khắp bài thơ.
Bốn câu mở đầu là lớp sóng đầu tiên của nỗi nhớ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sơng lấp đoàn quân mỏi
Mờng Lát hoa về trong đêm hơi .
Nỗi nhớ mở ra bằng một tiếng gọi bâng khuâng da diết, âm ơi đợc láy lại
ba lần và ba chữ ơi, vơi, chơi nối tiếp nhau tạo thành một chuỗi âm hởng vọng
dài, toả lan vời vợi. Có cảm giác tiếng gọi vọng ra từ những vách đá núi rừng Tây
Bắc, nhấc bổng thi sĩ khỏi hiện tại, để lửng lơ trong nỗi nhớ khôn cùng.
Những tên địa danh cũng làm cồn lên nỗi nhớ. Trong bài thơ Tây Tiến, những
địa danh cũng có một sức gợi cảm đặc biệt mang một chất thơ bí ẩn mà hoang dại
của Tây Bắc. Những địa danh này không phải là những cái tên vô hồn, vô cảm mà
là xơng máu đời lính, tâm hồn ngời lính. Đúng nh một nhà thơ đơng thời đã viết:
Những tên làng, tên núi, tên sông
Những cái tên đọc lên nghe muốn khóc
Thơ Quang Dũng cũng thế sông Mã , Tây Tiến , Sài Khao , M ờng Lát đã đột
ngột đánh thức kí ức, dựng kí ức thành những ấn tợng cụ thể, sinh động và Tây
Bắc hiện lên, quá khứ hiện lên từ hai phía. S ơng lấp là những gian khổ buốt giá,
hoa về là phía mơ mộng, dịu dàng. Hình ảnh hoa lại trôi trong câu thơ năm
thanh bằng liền mạch gợi một nét nhạc quyến rũ, lâng lâng làm dịu đi cái mệt mỏi
trong tâm hồn ngời lính. Quả là ngòi bút Quang Dũng có một năng lực hồi sinh
quá khứ. Nói đúng hơn chính là nỗi nhớ mãnh liệt đã tái sinh quá khứ trong hiện
tại. Nhà thơ trực tiếp đối diện với Tây Bắc. Ngời đọc thơ trực tiếp đối diện với Tây
Tiến. Ngôn ngữ nghệ thuật của Quang Dũng đã có năng lực đồng biến giữa quá
khứ và hiện tại.
Và Tây Bắc đã hiện lên trong những câu thơ tiếp theo. Nỗi nhớ của thi nhân
cũng vơn theo một vùng núi non hùng vĩ:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status