Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:
MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Tình huống 6 : Diebold và chiến lược kinh doanh quốc tế
GVHD : Nguyễn Thanh Trung
Nhóm thực hiện : Nhóm 5
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
1
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
PHẦN A: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Kinh doanh Quốc tế:
Kinh doanh quốc tế là gì?
Là những giao dịch kinh doanh giữa các chủ thể thuộc hai hay nhiều quốc gia nhằm đạt được
những mục tiêu của mình.
Những giao dịch nào?
Là những giao dịch thương mại như xuất khẩu, nhập khẩu, BOT, licencing, franchising và đầu
tư cho những hoạt động ở nước ngoài
2. Công ty đa quốc gia - MNC:
Một công ty đa quốc gia là bất kỳ một doanh nghiệp nào có hoạt động sản xuất kinh doanh ở
hai hay nhiều hơn hai quốc gia.
2.1 Đặc điểm của MNC
Những công ty con của MNC phải chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố môi trường: đối thủ cạnh
tranh, khách hàng, nhà cung ứng, định chế tài chính và chính phủ
Những công ty con có chung nguồn tài trợ, bao gồm tài sản, văn bằng bảo hộ, nhãn hiệu hàng
hóa và nhân lực
Những công ty con có chung chiến lược.
2.2 Các hình thức hoạt động của công ty đa quốc gia bao gồm - MNC:
a. Sở hữu 100% vốn:
Đối với nhiều MNC giải pháp lập một chi nhánh 100% vốn là một giải pháp được nghĩ
đến khi tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp. Điều này xuất phát từ một số lý do.
−Sở hữu 100% vốn thông qua thôn tính đơn vị sẵn có ( mua lại công ty).
•Ưu điểm :
+Xâm nhập nhanh vào thị trường nước ngoài
+ Nhãn hiệu và vị trí thị trường đã được thiết lập
+Thôn tính được bí quyết công nghệ,hệ thống và nguồn nhân lực
+Không tạo ra năng lực tăng thêm nên không làm cho cạnh tranh căng thẳng hơn
+Có ảnh hưởng cộng đồng rất lớn
+Tiềm năng lợi nhuận cao
+Tiết kiệm chi phí vận tải
+Tránh được hàng rào thương mại
+Tránh được những rủi ro của biến động tỷ giá
•Nhược điểm
+Đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn nhất
+Rủi ro cao nhất
+Rắc rối thôn tính và sát nhập
+Đánh động các nhà cạnh tranh
+Bán lại công ty sau khi mua là điều rất khó khăn
+Thường không đủ thời gian để kiểm tra công ty bị thôn tính
+ Những rắc rối về sự chấp nhận về mặt chính trị
•Điều kiện sử dụng :
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
3
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
+Xâm nhập vào thị trường đã bão hòa
+Đối tượng thôn tính được bán dưới giá
+Xâm nhập vào những thị trường khó khăn với rào cản xâm nhập cao
+Khi muốn tiếp cận những công nghệ quan trọng, vị trí, địa điểm hoặc những năng lực
nghiên cứu phát triển
b. Liên minh chiến lược :
♦ Khái Niệm :
−Ưu điểm:
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
4
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
•Có được những kỹ năng, nguồn lực bổ sung, tiếp cận tới hiểu biết thị trường, thực hiện được
mục tiêu chiến lược của mình thông qua tận dụng lợi thế của nhau.
•Chia sẻ rủi ro và đầu tư khi tiến hành kinh doanh tại thị trường mới
•Tránh được hàng rào thương mại
•Giảm được chi phí vận tải
•Được sự ủng hộ của nước sở tại
•Tạo được hình ảnh đẹp với nước sở tại. Liên doanh cho phép MNC có thể thiết lập mối quan
hệ tốt với nhà nước và các tổ chức sở tại (ví dụ công đoàn,các tổ chức tài chính). Đặc biệt
những liên doanh được thiết lập giữa một MNC với một doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước
thì liên doanh này càng có những thuận lợi như được hưởng những ưu đãi về tài chính, sự hỗ
trợ của chính phủ.
−Nhược điểm :
•Sự không ổn định về lâu dài
• Những xung đột thường xuyên về quyền lợi, phân phối lợi nhuận, mối quan hệ truyền thông
giữa các đối tác không tốt, tầm nhìn chiến lược khác nhau, sự mâu thuẫn về phương diện văn
hóa
•Khó khăn cho việc chấm dứt
•Cần một sự phối hợp ở mức độ cao
•Phải phơi bày những thông tin cho phía thứ ba
•Mở rộng hoạt động quốc tế chậm do phải quản lý nhiều
♦Khuyến cáo khi thiết lập liên doanh :
•Phải tìm đúng đối tác để thiết lập liên doanh
•Xác định rõ mục tiêu của liên doanh và thời hạn kéo dài của nó
•Giải quyết và xác định rõ ràng quyền sở hữu, kiểm soát và quản lý
•Xác định rõ cấu trúc tài chính và chính sách tài chính
•Xác định chính sách sử dụng nhân sự và đào tạo
mới.
•Thứ hai, bằng hình thức này, công ty có thể ngăn cản các đối thủ cạnh tranh, nhất là trong các
thị trường toàn cầu hoá nhanh chóng.
•Thứ ba, công ty mua lại có thể tăng hiệu quả các công ty được mua lại bằng cách chuyển giao
công nghệ, vốn và kinh nghiệm quản lý.
•Cuối cùng, M&As có thể ít rủi ro hơn đầu tư mới và có thể tận dụng được các tài sản giá trị
của công ty được mua như mối quan hệ khách hàng, hệ thống phân phối, nhãn hiệu, hệ thống
sản xuất.
−Tuy nhiên, hình thức M&As có nhược điểm là bên mua lại có thể đánh giá công ty được mua
với giá quá cao, thường là do họ quá lạc quan về lợi ích do sự cộng hợp giữa công ty đi mua và
công ty được mua. Ngoài ra sự khác biệt về văn hoá tổ chức và cách vận hành sẽ tạo ra sự mâu
thuẫn dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Ngược lại, đầu tư mới có lợi thế hơn so với M&As là công
ty có thể linh hoạt hơn để có thể tạo ra một côngty theo ý muốn; xây dựng văn hoá tổ chức cho
một công ty mới dễ hơn là thay đổi văn hoá từ công ty khác
−Để mua một doanh nghiệp một cách hiệu quả, công ty đi mua phải chú ý cả 3 giai đoạn: lựa
chọn công ty mục tiêu, lựa chọn chiến lược mua lại thích hợp và hòa nhập hai tổ chức thành
một. Lựa chọn công ty mục tiêu thường dựa vào (1) tình hình tàichính, vị trí sản phẩm của công
ty đó trên thị trường, (3) môi trường cạnh tranh, (4)năng lực quản lý và (5) văn hóa doanh
nghiệp
2.3 Các giai đoạn xâm nhập thị trường quốc tế
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
6
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
3. Các chiến lược kinh doanh quốc tế
Có 4 chiến lược kinh doanh quốc tế cơ bản để thâm nhập và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Mỗi chiến lược có thuận lợi và bất lợi riêng.
Sự lựa chọn chiến lược của công ty tùy thuộc vào áp lực giảm phí và áp lực đáp ứng yêu cầu
của địa phương.
- Chiến lược quốc tế
- Chiến lược đa địa phương
ứng nhu cầu địa phương còn áp lực về chi phí thì thấp.
Lý thuyết tham khảo thêm về Chiến lược đa địa phương (Multidomestic strategy)
Các công ty theo đuổi chiến lược đa nội địa sẽ định hướng bản thân hướng về việc đạt được sự
đáp ứng nội địa lớn nhất. Các công ty đa nội địa sẽ phục vụ theo yêu cầu của khách hàng cho cả
sản phẩm mà họ cung cấp và chiến lược marketing của họ phải thích nghi với các điều kiện
quốc gia khác nhau. Họ cũng hướng đến việc thiết lập một tập hợp hoàn chỉnh của các hoạt
động tạo ra giá trị, bao gồm sản xuất, marketing và R& D tại mỗi thị trường mà họ kinh doanh
- Các công ty thường bị thất bại bởi việc tạo ra lợi ích kinh tế của đường cong kinh
nghiệm và tính lợi ích nên vài công ty đa nội địa có những cấu trúc chi phí khá cao
- Chiến lược đa nội địa sẽ có ý nghĩa nhất khi mà có nhiều sức ép về sự đáp ứng nội địa
và ít sức ép về việc cắt giảm chi phí
- Chiến lược này không thích hợp trong các ngành công nghiệp mà sức ép về chi phí là
khắc nghi
- Chiến lược này các công ty cũng thường gặp phải là mất sự tập trung, không còn hướng
đến hạt nhân của công ty mẹ.
Các hình thức địa phương hóa
• Địa phương hóa sản phẩm
Địa phương hóa sản phẩm là một khía cạnh của chiến lược địa phương hóa, nó đòi hỏi
các công ty phải không ngừng hoàn thiện và cải tiến sản phẩm để thích nghi với nhu cầu đặc
thù của người tiêu dùng tại địa phương. Sản phẩm ngoài những công dụng, đặc tính còn có
những công dụng, đặc tính riêng để phù hợp với nhu cầu của từng địa phương khác nhau, nên
việc nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm là cực kỳ quan trọng. Sản phẩm tạo ra ngoài
“phần cứng” còn phải có thêm “phần mềm”, đó là giá trị, cảm nhận mà khách hàng kỳ vọng
khi mua một sản phẩm. Các công ty thường thành công trong việc sản xuất sản xuất sản phẩm
đáp ứng nhu cầu khách hàng trong nước nên khi mở rộng thị trường ra các nước khác thì họ
thường gặp khó khăn, nhu cầu ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi địa phương là khác nhau. Ví
dụ người tiêu dùng ở Bắc Mỹ thường sử dụng xe gắn máy như là một phương tiện thể thao và
giải trí, do đó họ tìm kiếm những sản phẩm có công suất lớn và tốc độ nhanh. Còn ở Châu Á
thì xe gắn máy thường sử dụng như một phương tiện vận chuyển nên họ đòi hỏi giá phí phải
rẻ và dễ dàng sửa chữa, bảo trì.
thành tốt nhiệm vụ của mình.
3.3 Chiến lược chuẩn toàn cầu
Các công ty sẽ tập trung việc gia tăng lợi nhuận bằng việc cắt giảm chi phí.
Công ty không biến đổi sản phẩm đề nghị và chiến lược marketing theo điều kiện của từng địa
phương bởi vì sự biến đổi này làm tăng chi phí. Thay vào đó, công ty đưa ra thị trường sản
phẩm tiêu chuẩn toàn cầu để gặt hái lợi nhuận tối đa nhờ qui mô và đường cong kinh nghiệm.
Chiến lược toàn cầu sẽ đạt ý nghĩa cao nhất tại nơi mà áp lực cao về sự cắt giảm chi phí và nơi
mà các yêu cầu địa phương là thấp nhất.
3.4 Chiến lược xuyên quốc gia
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
9
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
Chiến lược xuyên quốc gia được áp dụng khi các công ty phải đối mặt với áp lực lớn về việc
cắt giảm chi phí và các yêu cầu địa phương cao.
Các công ty phải khai thác lợi ích kinh tế nhờ qui mô và hiệu ứng của đường cong kinh
nghiệm, họ phải làm tất cả để tập trung vào áp lực đáp ứng yêu cầu địa phương.
Họ duy trì dòng chảy của kỹ năng lao động và sản phẩm đề nghị không chỉ trong một cách thức
từ công ty nước chính quốc sang công ty con ở nước ngoài mà hơn nữa dòng chảy này cũng sẽ
từ công ty con đến chính quốc và từ công ty con này sang công ty con khác.
4. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh
Khi phân tích các đối thủ theo mô hình áp lực cạnh tranh, các công ty sẽ thấy được lợi thế so
sánh của mình, từ đó sẽ tìm ra được chiến lược kinh doanh, sao cho hiệu quả mang lại là cao
nhất
5. Các hình thức xâm nhập thị trường quốc tế
Quyết định chọn lựa hình thức xâm nhập cũng là một vấn đề quan tâm đặc biệt của các công ty
khi tiến hành kinh doanh quốc tế. Quyết định này bị chi phối bởi luật lệ của nước sở tại (Host
Country), và nước chủ nhà (Home Country), loại hình kinh doanh của công ty, tiềm lực và các triết
lý quản lý của công ty, đồng thời phụ thuộc vào ưu điểm của từng dạng sở hữu xâm nhập.
Các hình thức hoạt động kinh doanh Quốc tế bao gồm:
a. Xuất khẩu:
- Bị ảnh hưởng mạnh bởi tỷ giá hối đoái
- Bị phụ thuộc vào các nhà phân phối ở nước ngoài
- Thu được ít những hiểu biết về thị trường
- Thời gian phân phối dài
- Lợi nhuận ít nhất
Đặc điểm của các công ty xuất khẩu:
- Khi các công ty là nhỏ
- Có thiên hướng né tránh rủi ro
- Khi có lợi thế so sánh tại nước chủ nhà
- Khi nằm trong khu vực mậu dịch tự do
- Khi chưa sử dụng hết năng lực sản xuất
- Và khi mới bắt đầu làm quen với kinh doanh quốc tế.
b. Cấp phép nhượng quyền kinh doanh (Licensing):
Khái Niệm:
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
11
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
Việc chuyển nhượng bản quyền được thực hiện bởi một hợp đồng trong đó người được chuyển
nhượng mua quyền được sản xuất, kinh doanh sản phẩm hoặc dịch vụ với một giá cả thỏa thuận nào
đó.
Ưu điểm:
- Tránh được hàng rào thương mại
- Thu tiền ngay
- Không phải tiến hành hoạt động đầu tư mới nên rủi ro thấp
- Bảo vệ chống sự bắt chước
- Xâm nhập nhanh,bao phủ rộng với tốc độ sản sinh lợi nhuận có thể nhanh hơn
- Ít nỗ lực quản lý
Nhược điểm:
- Phải chuyển giao bí quyết công nghệ.
- Gặp các rắc rối với vấn đề luật pháp
- Đạt tới lợi thế kinh tế theo quy mô trong marketing, huấn luyện và thu mua nguyên liệu (tiêu
chuẩn hóa cao)
Nhược điểm:
- Các nhà đại lý tồi sẽ phá hủy khái niệm chung
- Sự nhầm lãn của nước sở tại
- Khó khăn trong việc chấm dứt hợp đồng
- Có thể xảy ra xung đột về địa bàn giữa các nhà đại lý
- Sự thích ứng của sản phẩm và dịch vụ bị hạn chế
- Khi sản phẩm và dịch vụ được cung cấp từ nước ngoài sẽ gặp khó khăn do hàng ràothương
mại và rủi ro về tỷ giá hối đoái
- Bí quyết công nghệ được chuyển giao tối đa có thể dẫn tới những nhà đại lý bỏ hợp đồng và
như vậy tạo ra các nhà cạnh tranh mới
Điều kiện sử dụng:
- Khi cần mở rộng nhanh nhưng vốn đầu tư bị hạn chế
- Khi các khái niệm quản lý thành công và nhãn hiệu hàng hóa được vốn hóa
- Khi các sản phẩm và dịch vụ là đơn giản và dễ hiểu
- Khi muốn lợi nhuận cao hơn và muốn kiểm soát chặt hơn so với xuất khẩu và bản quyền.
d. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):
Khái Niệm:
- Đặc trưng cơ bản của hình thức này đó là cơ sở sản xuất được dịch chuyển ra nước ngoài, chứ
không phải chỉ là sản phẩm.
Các hình thức để đầu tư FDI:
- Sản xuất theo dự án (Projects) : Trong trường hợp này công ty kinh doanh quốc tế sẽ phái
những đơn vị di chuyển đến nước ngoài để thực hiện những hợp đồng ngắn hạn.
- Hợp đồng sản xuất tại chỗ (Contract product) : Đối với dạng này, công ty kinh doanh quốc tế
sẽ tiến hành hợp đồng với công ty nội địa để sản xuất các mặt hàng mang thương hiệu của mình.
- Thiết lập cơ sở sản xuất mới tại nước ngoài: Đơn vị mới này có thể thuộc sở hữu 100% vốn
của công ty kinh doanh quốc tế hoặc ở dạng liên doanh.
- Mua cổ phần: theo hình thức này, công ty kinh doanh quốc tế sẽ tiến hành việc mua cổ phần
của một công ty nội địa hiện đang có sẵn. Thông qua việc nắm cổ phần chi phối, công ty kinh doanh
riêng mình.
Dieboth mua lại 30% cổ phần của IBM trong lien doanh Interboth và hàng loạt công ty ở
nước ngoài.
- Năm 1999: Dieboth mua lại công ty Procomp Amazonia Industria Electronica của
Braxin (công ty kinh doanh máy ATM & máy bỏ phiếu điện tử), công ty Groupe Bull
của Pháp, công ty Getronics của Hà Lan & thiết lập liên doanh sản xuất mà Dieboth nắm
giữ quyền sỡ hữu tại Trung Quốc.
- Năm 2001: Dieboth mua lại công ty Global Election Systems: công ty chuyên cung cấp
công nghệ kỹ thuật bầu cử điện tử cho các tiểu bang.
- Năm 2002: Dieboth có những dây chuyền sản xuất tại Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ la
Tinh, Hoa Kỳ và có mạng lưới phân phối ở 80 quốc gia,đa số là Dieboth làm chủ.
- Năm 2003: Dieboth là người đi đầu trong thị trường toàn cầu về máy bầu cử điện tử với
doanh thu trên 100 triệu đô la.
2. Giới thiệu về công ty Diebold
2.1 Giới thiệu chung
• Tên công ty: Tập đoàn Diebold
• Trụ sở chính: Green, Ohio, Mỹ
• Điện thoại: 84-4-3936 4361
• Fax: 84-4-3936 4362
• Ngày thành lập: 1859
• Sản phẩm chính: Cung cấp hệ thống bảo mật từ điện tử cho tới bảo mật vật lý. Nhà sản
xuất ATM số 1 thế giới được thành lập năm 1859, trụ sở chính tại Canton, Ohio, Hoa Kỳ
với hơn 17.000 nhân viên, hoạt động tại hơn 90 quốc gia trên khắp thế giới với tên giao
dịch tại thị trường chứng khoán New York là DBD.
Tầm nhìn
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
15
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
Để được công nhận là đối tác quan trọng trong việc tạo ra và thực hiện những ý tưởng hiệu quả
tối ưu, tiện lợi và an ninh.
• 1996: Diebold hỗ trợ thế vận hội mùa hè ở Atlanta, với 75 máy ATM tại nơi diễn
raOlympic, khái niệm Internet ATM được công bố
• 1997: Nhà chế tạo giới thiệu thẻ Source Plus ; Diebold mua lại phần còn lại trongliên
doanh InterBold của IBM
• 19 99 : Di eb ol d ra m ắ t m áy A TM đ ầu tiên n hậ n dạn g b ằn g mắ t tạ i
Hoa Kỳ ; mu a Procomp Amazon của Brazil và mở rộng sự hiện diện toàn cầu của
mình thông qualiên doanh , liên kết
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
16
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
• 2000: Công ty mở rộng ở châu Âu với việc mua Getronics và Groupe Bull;
Procompthắng hợp đồng lớn cung cấp các máy bỏ phiếu ở Brazil
2.3 Chức năng
Ngày nay tập đoàn Diebold Hoa Kỳ là nhà sản xuất các loại máy thanh toán tiền tự động
ATM và là nhà cung cấp các giải pháp và công nghệ hiện đại cho các ngân hàng, được thành
lập và đi vào hoặt động trên 152 năm. Tại Việt Nam, Diebold có đại diện là Công ty Diebold
Việt Nam, được thành lập và hoặt động từ ngày 1/10/2007, là công ty con trực thuộc tập đoàn
Diebold Hoa Kỳ, có văn phòng tại Hà Nội và TP.HCM và các trung tâm dịch vụ trải dài trên
khắp các tỉnh thành.
Để được công nhận là đối tác quan trọng trong việc tạo ra và thực hiện những ý
tưởnghiệu quả tối ưu, tiện lợi và an ninh. Sứ mệnh của Diebold là cung cấp công nghệ tiên tiến
và dịch vụ mà làm cho các doanh nghiệp tốt hơnthông qua sự kết hợp mạnh mẽ của:
• Tư duy sáng tạo
• Cộng tác chu đáo
• Kiến thức khách hàng
Khẩu hiệu”Innovation Delivered “(Đạt được sự đổi mới)“: Nơi có những thách thức, chúng
tôi đã gặp chúng. Khi những thị trường đã thayđổi, chúng tôi đã thay đổi với chúng. Khi những
giải pháp sáng tạo, đổi mới được yêucầu, chúng tôi đã phát triển chúng”“Cống hiến không mêt
mỏi của chúng tôi cho khách hàng, kết hợp với cải tiến côngnghệ và sự khéo léo , cho phép
chúng tôi cung cấp đến khách hàng những giải phápthiết thực cho những nhu cầu của ngày
cho việc mua và cài đặt khiêm tốn của một tòa nhà, nhà máy có sản phẩm nào trong
Eindhoven, nơi Philips bắt đầu sản xuất các bóng đèn dây tóc carbon và các sản phẩm
điện kỹ thuật khác vào năm 1892. Đây là nhà máy đầu tiên đã được chuyển thể và được
sử dụng như là một bảo tàng dành cho các tác phẩm điêu khắc ánh sáng
Năm 1895, sau những năm tháng khó khăn đầu tiên và phá sản gần, Philipses mang lại Anton,
em trai của Gerard mười sáu năm. Mặc dù ông đã giành được bằng kỹ sư, Anton bắt đầu
làm việc như một đại diện bán hàng, ngay sau đó, tuy nhiên, ông bắt đầu đóng góp nhiều
ý tưởng kinh doanh quan trọng. Với đến Anton, gia đình kinh doanh bắt đầu mở rộng
nhanh chóng, kết quả là thành lập vào năm 1907 của các Metaalgloeilampfabriek Philips
NV (Philips kim loại Filament đèn Nhà máy Inc) tại Eindhoven, sau đó vào năm 1912 bởi
nền tảng của NV Philips Gloeilampenfabrieken (Philips Lightbulb nhà máy Inc .) Sau khi
Gerard và Anton Philips thay đổi doanh nghiệp gia đình của họ bằng cách thành lập thành
lập công ty Philips, họ đã đặt nền móng cho các thiết bị điện tử sau đó công ty đa quốc
gia.
Trong những năm 1920, công ty bắt đầu sản xuất các sản phẩm khác, chẳng hạn như ống chân
không. Năm 1939, họ đã giới thiệu dao cạo điện, Philishave (thị trường Mỹ bằng cách sử
dụng tên thương hiệu Norelco). "Chapel" là một đài phát thanh với loa tích hợp, được
thiết kế trong đầu những năm 1930.
3.1.3 Sản phẩm : Các sản phẩm điện điện tử gia dụng, y tế, điện thoại và máy tính
3.2 Công ty IBM
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
18
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
IBM, viết tắt của International Business Machines, là một tập đoàncông nghệ máy tính đa
quốc gia có trụ sở tại Armonk, New York, Mỹ. IBM được thành lập năm 1911 tại Thành phố
New York, lúc đầu có tên là Computing Tabulating Recording (CTR) và đổi thành
International Business Machines vào năm 1924.
IBM là nhà sản xuất và bán phần cứng, phần mềm máy tính, cơ sở hạ tầng, dịch vụ máy chủ và
tư vấn trong nhiều lĩnh vực từ máy tính lớn đếncông nghệ na nô.
Với hơn 350.000 nhân viên, IBM là công ty tin học lớn nhất thế giới. IBM có đội ngũ kỹ sư và
cách thức này là gì?
Trả lời.
Vì mới xâm nhập vào thị trường nước ngoài, do đó Diebold đã thực hiện tuần tự các giai đoạn
xâm nhập thị trường quốc tế. Diebold chưa đủ nguồn lực để thiết lập hệ thống phân phối cho
riêng mình trên toàn thị trường thế giới. Mới bắt đầu gia nhập thị trường nước ngoài nên còn
thiếu kinhnghiệm, thiếu am hiểu kiến thức về thị trường nước ngoài, không hiểu rõ nhu cầu
cũng như thị hiếu người tiêu dùng, văn hóa và những quy định của những nước sở tại, cáchthức
tiếp cận quản trị nên Diebold xâm nhập thị trường quốc tế bằng hình thức xuất khẩu gián tiếp
thông qua các hợp đồng phân phối với Philips và xuất khẩu trực tiếp thông qua liên doanh với
IBM.
Ban đầu thì Diebold thực hiện liên minh chiến lược bằng hình thức hợp đồng với Philips nhưng
sau đó đã chuyển sang hình thức mua cổ phần tại IBM để đảm bảo sự ràng buộc về lợi ích lớn
hơn giữa Diebold và IBM.
−Ưu điểm:
• Đơn giản, ít tốn kém hơn so với các hình thức khác và mang lại tính chất tuần tự trong phát
triển
•Giúp công ty có thể thực hiện tập trung hóa sản xuất tại một quốc gia
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
20
Xuất khẩu gián tiếp
Cho thuê công nghệ
Dây chuyền lắp ráp
Xuất khẩu trực tiếp
Mức độ xâm nhập
Thời gian
Sản xuất tại chỗ
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
•Ít rủi ro vì hoạt động của công ty ở nước ngoài là ít (như DieBold chỉ xuất khẩu máyATM đến
khách hàng ở nước ngoài sau khi Philips thực hiện việc giao dịch máy), vàchia sẻ bớt rủi ro với
IBM trong liên doanh InterBold.
hệ thống phân phối ở nước ngoài cho riêng mình.
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
21
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
Diebold cảm thấy họ có thể chiếm được một thị phần lớn hơn nếu họ nắm quyền điều khiển
trực tiếp toàn bộ hệ thống phân phối. Diebold cũng cảm thấy rằng trong suốt 15 năm qua,
Diebold đã tích luỹ đủ kinh nghiệm kinh doanh quốc tế bảo đảm cho việc kinh doanh một
mình.
Diebold tin rằng việc đặt các cơ sở sản xuất gần với những thị trường then chốt sẽ làm dễ
dàng việc đáp ứng yêu cầu khác biệt của địa phương và làm gia tăng doanh số.
2/ Diebold thích sử dụng hình thức mua lại làm phương thức xâm nhập thị trường tại vì hình
thức mua lại có những lợi ích như sau:
Công ty có thể nhanh chóng hiện diện tại thị trường nước ngoài bằng việc tận dụng những
cơ sở hạ tầng, nhà cung ứng, nguồn lực địa phương, mạng lưới phân phối đã sẵn có.
Công ty có thể tăng hiệu quả của công ty được mua lại bằng cách chuyển giao công nghệ,
vốn và kinh nghiệm quản lý.
Mua lại có thể có ít rủi ro hơn đầu tư mới và có thể tận dụng được các tài sản giá trị của
công ty được mua như mối quan hệ khách hàng, hệ thống phân phối, nhãn hiệu, hệ thống sản
xuất, không phải đối mặt với những rào cản xâm nhập…
Câu 3: Diebold xâm nhập vào thị trường Trung Quốc bằng hình thức liên doanh, ngược với
hình thức xây dựng cơ sở sản xuất riêng bên ngoài quốc gia. Bạn nghĩ tại sao công tynày lại
làm như vậy?
Trả lời:
−Để có những bước nhảy vọt trong kinh doanh quốc tế, Diebold tiến hành hàng loạt hoạt
độngmua lại các công ty ở nước ngoài. Năm 1999, Diebold mua lại công ty Procomp
AmazoniaIndustria Electronica của Bra-xin, một công ty điện tử ở Châu Mỹ La Tinh với doanh
số 400triệu đô la và tham gia sâu rộng trong lĩnh vực máy ATM. Kế tiếp, Diebold mua lại công
tyGroupe Bull của Pháp và công ty Getronics của Hà Lan, đây là hai công ty chính trên thị
trường Châu Âu với doanh số 160 triệu đô la.
−Ta nhận thấy rằng, mua lại một doanh nghiệp có sẵn là sự đầu tư ít rủi ro hơn và mang lại lợi
+ Về mặt sản xuất: Công ty đã tự đầu tư xây dựng nhà máy mới ở khu vực mà nó tiến hành
hoạt động kinh doanh, nó tiến hành mua lại các công ty sản xuất cùng măt hàng như nó ở
các quốc gia khác nhau và sản xuất các mặt hàng của nó.
+ Về mặt quản trị: Công ty liên minh với Philips và liên doanh với IBM nhằm mục đích tận
dụng các nhà quản trị địa phương của các công ty này. Như vậy sản phẩm của nó sẽ dễ
dàng thâm nhập các thị trường quốc tế. Bên cạnh đó Diebold cũng muốn tận dụng cơ hội
này để giúp các nhà quản trị của nó học hỏi văn hóa của các địa phương đó ( thông qua sự
hợp tác với các nhà quản trị thuộc IBM phụ trách việc phân phối máy ATM cho nó). Một
khía cạnh nữa là hoạt động mua lại các công ty là đối thủ cạnh tranh với nó, với việc mua
lại nó thể tận dụng được nguồn nhân lực hiện có của công ty đó và giúp các nhà quản trị từ
công ty mẹ học hỏi, hiểu biết hơn về văn hóa nơi công ty hoạt động.
2. Mối quan hệ giữa chiến lược địa phương hóa và việc lựa chọn hình thức thâm nhập:
− Có thể nói rằng chiến lược địa phương hóa sẽ là yếu tố định hướng cho việc lựa chọn hình
thức thâm nhập. Nó thể hiện qua hoạt động thâm nhập thị trường quốc tế của Diebold:
− Khi công ty Diebold muốn mở rộng thị trường ra nước ngoài, giai đoạn đầu, lúc chưa hiểu
biết gì về thị trường quốc tế nó đã sử dụng hình thức liên minh ( hợp đồng phân phối) với
Philips. Sau khi hợp tác với Philips mà Diebold vẫn thấy chưa đat được hiệu quả mong
muốn ( các nhân viên của nó không học hỏi được gì về kinh nghiệm làm việc quốc tế, đó là
nhược điểm của hình thức liên minh) thì nó lại tiếp tục liên doanh với IBM với mục đích mở
rộng thị trường và tạo điều kiện cho nhân viên, các nhà quản trị của nó am hiểu về văn hóa,
nhu cầu, cách làm vệc quốc tế…
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
23
Bài tập môn Quản trị kinh doanh quốc tế GVHD: Thầy Nguyễn Thanh Trung
− Sau khi đã am hiểu và có kinh nghiệm về hoạt động kinh doanh quốc tế nó đã dừng việc
liên doanh với IBM, và chuyển sang hình thức thâm nhập là mua lại mua lại các công ty nôi
địa ở thị trường Châu Mỹ La Tinh và Châu Âu như : Procomp Amazon Industria Electronica
đã tham gia sâu rộng trong lĩnh vực máy ATM, và 2 công ty( Groupe Bull của
Pháp,Getronics của Hà Lan), sử dụng nguồn nhân lực địa phương, sản xuất sản phẩm phù
hợp với nhu cầu của đại phương đó. Ở những nước mà chưa có đối thủ, thì nó tiến hành liên
- Ngoài việc kinh doanh máy ATM, Procomp kinh doanh máy bỏ phiếu điện tử
- Năm 2001, Diebold mở rộng hoạt động kinh doanh của mình vào lĩnh vực này bằng
cách mua lại công ty Global Election Systems, một công ty của Hoa Kỳ chuyên cung cấp các
công nghệ kỹ thuật bầu cử điện tử
- Đến năm 2003, Diebold là người đi đầu trong thị trường toàn cầu về máy bầu cử điện tử
mới xuất hiện này
DIEBOLD chấp nhận chia sẻ lợi nhuận trong thời gian đầu để tìm kiếm cơ hội kinh doanh quốc
tế do chưa có kinh nghiệm là một tấm gương cho các doanh nghiệp Việt Nam trên bước đường
hội nhập kinh tế quốc tế. khi mà chúng ta còn có mức xuất phát thấp hơn DIEBOLD đi chăng
nữa thì với việc tiến hành con đường quốc tế hoá từng bước, thận trọng thì tin chắc thành công
của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đến trong một tương lai không xa. Minh chứng là Công ty
Hoàng Anh Gia Lai, giai đoạn đầu nó hoạt động chủ yếu trong lĩnh và chế biến gỗ xuất khẩu.
Nó lấy nguồn từ Lào, Việt Nam đưa về nhà máy chế biến ở Việt Nam. Sau khi trở thành MNC
nó tiến hành thành lập nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh tại Lào. Tiến hành khai thác, chế biến để
tiêu thụ ở Lào và xuất khẩu ra các nước khác. Từ đó cho thất cơ hội hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam là hết sức khả quan đặc biệt là sau cột mốc gia nhập WTO.
Thực hiện: Nhóm 5 lớp VB14QT002
25