Luận văn đông phương học sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính khiêm - Pdf 22


1
PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài:

Hiện nay, mối quan hệ Việt - Nhật không chỉ dừng lại trên lĩnh vực kinh doanh
mà còn phát triển trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, phúc lợi xã hội…Trong đó,
giáo dục là lĩnh vực được quan tâm và chú ý nhiều nhất. Bởi vì nhu cầu học tiếng
Nhật để đáp ứng chế độ tuyển dụng trong các công ty Nhật Bản ngày càng tăng. Nhu
cầu tuyển dụng thông dịch viên tiếng Nhật có trình độ chuyên môn thành thạo ngày
càng đượ
c coi trọng, vì vậy chất lượng dạy và học luôn được đặt lên hàng đầu.
Tiếng Nhật dần trở thành một ngôn ngữ được nhiều người quan tâm, yêu thích, học
tập và nghiên cứu.
Ngôn ngữ nào cũng có những nét đặc trưng vốn có thể hiện nét văn hóa độc đáo
riêng biệt. Tiếng Nhật cũng có những đặc trưng thể hiện nét văn hóa đặc sắc của xứ
sở hoa anh đ
ào. Đó là nền văn hóa coi trọng truyền thống dân tộc, những chuẩn mực
đạo đức trong các mối quan hệ xã hội. Tiếng Việt cũng vậy, đó là một loại hình
ngôn ngữ thể hiện văn hóa truyền thống tốt đẹp, những quy phạm đạo đức, những
chuẩn mực xã hội và các mối quan hệ con người trong xã hội đó. Trong đó, nổi bật
nhất phải kể
đến các hình thức thể hiện lời nói trong giao tiếp, đặc biệt là cách nói
tôn kính và cách nói khiêm nhường. Tùy vào từng đối tượng, hoàn cảnh mục đích
giao tiếp mà sử dụng những hình thức xưng hô phù hợp. Trong trường hợp trao đổi
với cấp trên, người lớn tuổi, người có địa vị xã hội…thì người nói phải sử dụng cách
nói tôn kính (Sonkeigo) nhằm thể hiện sự kính trọng với đối tượng giao tiế
p. Trong
trường hợp muốn trình bày quan điểm của bản thân hay nói về những hành động mà
người nói thực hiện thì sử dụng cách nói khiêm nhường (Kenjougo) nhằm biểu hiện

hàng, người lớn tuổi… và thể hiện sự nhún nhường, kính trọng đối tượng nói khi
người nói muốn
đề xuất ý kiến hay lối nói khiêm tốn về những hành động mà người
nói thực hiện.

3
Bằng tiếng Việt:
- Cơ sở Văn Hóa Việt Nam của GS-TS Trần Ngọc Thêm, Chu Xuân Diên khái quát
về một số loại hình văn hóa của từng vùng miền hay cách ứng xử trong giao tiếp và
những chuẩn mực trong xưng hô của người Việt Nam
- Tiếng Việt Thực Hành của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp khái quát về
những vấn đề cơ bản trong tiếng Việt như cách đặt câu, cách dùng t
ừ, cách sắp xếp
và phân tích đoạn văn, phân biệt văn nói và văn viết…
- Nhập Môn Xã Hội Học của TS Trần Thị Kim Xuyến, ThS Nguyễn Thị Hồng Xoan
làm rõ về những mối quan hệ con người, mối quan hệ xã hội, mối quan hệ cộng
đồng và thế giới…nhằm củng cố những chuẩn mực trong giao tiếp và những tình
huống cần tránh trong xưng hô để tạo mối quan hệ
tốt đẹp, hữu hảo.
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu phân tích về kính ngữ trong tiếng
Nhật và lịch sự chuẩn mực trong cách xưng hô trong tiếng Việt. Trong đề tài nghiên
cứu của mình, người viết cố gắng tìm và phân tích những điểm tương đồng và khác
biệt trong “phong cách xưng hô chuẩn mực của hai ngôn ngữ”. Từ đó phần nào giúp
người học tiếng Nhật có thể sử dụng kính ng
ữ trong tiếng Nhật tránh những nhầm
lẫn thường gặp và có thể bổ sung một số kiến thức trong giao tiếp đúng mực cho
người Việt. Công trình nghiên cứu này chắc chắn sẽ khó tránh khỏi một số sai lầm,
vì vậy người viết mong nhân được một số ý kiến đóng góp của các học giả, các nhà
nghiên cứu đi trước để bài viết của mình được hoàn chỉnh hơn.



Trong đề tài này với mục đích tìm hiểu “Sự tương đồng và khác biệt trong cách
nói tôn kính và khiêm nhường giữa tiếng Nhật và Tiếng Việt”, người viết đã sử dụng
một số phương pháp sau đây:
- Thu thập tài liệu: Phương pháp này được thực hiện bằng cách tra cứu bài viết,
bài tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng Nhật trên mạng đồng thời tìm và đọc các
công trình nghiên cứu của các tác giả
người Nhật, người Việt tại thư viện Nhật -
Việt (VJCC - HCM), các nhà sách…Ngoài ra người viết còn thu thập tài liệu thông
qua nguồn tài liệu sách vở từ giáo viên, những nhà nghiên cứu đi trước.
- Khảo sát thực tế: Để có thể đưa ra một số đề xuất liên quan đến phương pháp
dạy và học hai cách nói tôn kính – khiêm nhường trong tiếng Nhật có hiệu quả,
người viết đã tiến hành lập bảng đi
ều tra thăm dò ý kiến. Đối tượng của bảng điều
tra là 160 sinh viên năm thứ tư của các lớp 06DPN1, 06DPN2, 06DPN3, 06DPN4,

5
06DPN5, 06DPN6 ngành Nhật Bản học, khoa Đông Phương, trường Đại Học Lạc
Hồng (Biên Hòa - Đồng Nai).
- Thống kê: Sau khi phát bảng điều tra, người viết đã thống kê các ý kiến của
sinh viên về cách dạy, cách học, giáo trình và một số yếu tố khác liên quan đến hai
cách nói trên. Dựa vào tỷ lệ chênh lệch giữa các ý kiến, người viết đã tiến hành phân
tích và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượ
ng dạy và học cách nói kính
ngữ trong tiếng Nhật.
- Phân tích: Sau khi thu thập tài liệu và tiến hành thống kê người viết tiếp tục
chuyển sang bước phân tích tài liệu, tra cứu từ điển để hiểu nội dung bài viết. Phân
tích những nội dung cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu. Nói một cách cụ thể là
phân tích cách sử dụng, trường hợp giao tiếp, đối tượng nói chủ yếu của hai cách nói.
Điểm phân tích quan trọ

- Thực trạng sử dụng kính ngữ của người Việt trong công ty Nhật
- Những sai lầm thường gặp khi sử dụng kính ngữ của người Việt khi học tiếng
Nhật.

Kết cấu của đề tài:
Chương I
: Đặc trưng cơ bản của cách nói tôn kính – khiêm nhường trong tiếng
Nhật và tiếng Việt
Chương II: Sự tương đồng và khác biệt trong cách nói tôn kính – khiêm
nhường giữa tiếng Nhật và tiếng Việt
Chương III: Một số đề xuất về phương pháp dạy - học cách nói tôn kính –
khiêm nhường trong tiếng Nhật
7

PHẦN NỘI DUNG
8 CHƯƠNG I
ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN
CỦA CÁCH NÓI
TÔN KÍNH - KHIÊM NHƯỜNG
TRONG TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT
9
Giao tiếp là một trong những khả năng đặc biệt của con người. Bởi vì thông qua
giao tiếp, con người có thể thu thập thông tin, truyền đạt suy nghĩ, thiết lập các mối
quan hệ…Do đó, trên mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều có những cách giao tiếp
riêng. Trong đó, cách xưng hô đúng chuẩn
trong giao tiếp cũng là một yếu tố hết
sức quan trọng, nhất là ở hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản – hai đất nước có hệ
thống xưng hô khá phức tạp.


1.1.1 Khái quát về tiếng Nhật

Tiếng Nhật là một ngôn ngữ được hơn một trăm ba mươi triệu người sử dụng ở
Nhật Bản và những cộng đồng dân di cư Nhật Bản khắp thế giới. Đây là một ngôn
ngữ nổi bật với một hệ thống các nghi thức nghiêm ngặt và rành mạch. Trong đó,
đặc biệt là hệ thống kính ngữ phức tạp thể hiện bản chất th
ứ bậc của xã hội Nhật
Bản. Đó là những dạng biến đổi động từ và sự kết hợp một số từ vựng để chỉ mối
quan hệ giữa người nói, người nghe và người được nói đến trong cuộc hội thoại.
Nét nổi bật của tiếng Nhật là các hình thức biểu đạt theo các cấp độ khác nhau
tùy theo tình huống. Tiếng Nhật có cách nói thông thường, khiêm nhường hoặc kính
trọng tùy thuộc vào mức độ kính trọng cần thiết đối với người đối thoại, vào các dịp
và các yếu tố khác. Động từ, danh từ và các từ khác thay đổi hoàn toàn hoặc một
phần theo cấp độ được dùng.
Ngôn ngữ Nhật Bản thể hiện rất rõ ràng hệ thống cấp bậc, tôn ti trật tự trong xã
hội. Theo đó, người dưới luôn dùng cách nói tôn kính với người cấp trên mình (dù
người đó nh
ỏ tuổi hơn mình), và dùng cách nói khiêm nhường khi nói về bản thân
mình. Nếu nói không phù hợp sẽ bị xem là thất lễ và đụng chạm rất lớn đến thể diện
của người Nhật. Việc hiểu biết tiếng Nhật là chìa khóa để hiểu người Nhật và những
cảm nghĩ, thái độ, ý nghĩa trong lời nói của họ.

1.1.2 Đặc trưng cơ bản của cách nói tôn kính trong tiếng Nhật

1.1.2.1 Ý nghĩa

“Cách nói tôn kính là cách nói nhằm đề cao và biểu hiện ý kính trọng của người
nói đối với người nghe hoặc đối tượng giao tiếp. Đối tượng giao tiếp có thể là người
nghe hoặc cũng có thể là nhân vật xuất hiện trong đề tài nói. Đối tượng cần phải

(a)
,
(b)
hoặc
(c)
thì cách nói
(a)
thể hiện mức độ tôn kính cao nhất vì
động từ được chia dưới hình thức tôn kính của động từ thường (yomu) là oyomi ni
naru.

1.1.2.2 Trường hợp sử dụng:

1 Đề cao hành động của đối tượng giao tiếp
Ví dụ: Okaki ni naru – viết, Irassharu – đi / đến / ở, nasaru – làm…
Trong trường hợp này, người sử dụng thường nhầm lẫn không biết cách sử dụng.
Đó là thay vì nói khiêm tốn thì người nói lại nói tôn kính và ngược lại.
Ví dụ: - Trường hợp ông Yamada của công ty A đến công ty của người nói:
“A sha no Yamda san ga irasshatteimasu” (Ông Yamada của công ty A đang
đến)
B đây là cách sử dụng đúng vì động từ
irasshatte imasu là thể liên tiến của động từ
irassharu (tôn kính của động từ kuru - đến). Hơn nữa, hành động đến (irassharu) là
hành động của đối tượng được nhắc đến. Do đó, cách sử đúng là hình thức chia động
từ ở cách nói tôn kính. Nhưng nếu sử dụng hình thức động từ của cách nói khiêm
nhường của động từ kuru là mairu thì sai: “A sha no Yamada san ga maitte imasu”

12
2 Đề cao bản thân đối tượng giao tiếp
Ví dụ: A sha no Yamada kacho (Ngài trưởng phòng Yamada của công ty A)

13
1.1.2.3 Hình thức thể hiện:

1 Thêm vào tiếp đầu ngữ tôn kính:
Ví dụ: Onamae Goiken Omiashi Kisha Onsha
(tên) (ý kiến) (chân) (công ty) (công ty)
Kosetsu Sonfu Homei Sonmei Gorenraku
(cao kiến) (ông) (tên) (tên) (liên lạc)
2 Thêm vào tiếp vị ngữ tôn kính:
Ví dụ: Yamada san Yamada sama Tanaka shi
(Ông Yamada) (Ngài Yamada) (Ông Tanaka)
3 Sử dụng danh từ tôn kính:
Ví dụ: Yamada sensei Yamada kacho Tanaka shacho
(thầy Yamada) (trưởng phòng Yamada) (Giám đốc Tanaka)
4 Hình thức thêm O / Go vào danh từ và hình thức liên dụng của động từ:
O / Go ~ ni naru
Ví dụ: - Shikiten niwa kotaishidenka ga goshusseki ni narimashita.
(Điện Hoàng Thái Tử đã có mặt tại buổi lễ)
- Shuri ga owarimashita node, moitsu kara demo goshiyo ni naremasu.
(Vì tôi đã sửa xong nên anh có thể sử dụng bất cứ lúc nào)
O / Go ~ nasaru
Ví dụ: - Kacho ga myonichi juuji ni kochira wo gohomon nasaru so desu.
(Nghe nói vào lúc 10 giờ ngày mai ông hội trưởng sẽ viếng thăm chỗ này)
- Kono hon wo oyomi nasaru no deshitara, okashiitashimasu.
(Nếu bạn đọc cuốn sách này, tôi sẽ cho bạn mượn)
O / Go ~ desu
Ví dụ: - Okyaku sama ga kochira de omachi desu.
(Quý khách vui lòng chờ ở chỗ này)
- Gakucho wa honjitsu no kaigi ni wa gokesseki desu
(Ông hiệu trưởng sẽ vắng mặt trong buổi hội nghị ngày hôm nay)

naru (đến) 15
- Taniguchi sensei ga Tokyo e irasshatta no wa sannen mae desu.
(Thầy Taniguchi đã đến Tokyo cách đây ba năm)
- Okyaku sama ga omie ni narimashitara, kochira e okoshishite kudasai.
(Nếu quý khách đến, xin hãy đi qua lối này)
Iu  Ossharu (nói)
- Sensei no osshatta torini itasu tsumori desu.
(Tôi định làm theo như thầy giáo nói)
- Sensei wa kyo kenkyushitsu ni yorazu ni chokusetsu kaeru to osshaimashita.
(Thầy giáo nói hôm nay ông ấy về thẳng, không ghé vào phòng nghiên cứu)
Ngoài ra còn có một số cách biểu hiện của các động từ khác như: iru  irassharu /
oide ni naru (có / ở); taberu / nomu  agaru / meshiagaru (ăn / uống)…

1.1.3 Đặc trưng cơ bản của cách nói khiêm nhường trong tiếng Nhật

1.1.3.1 Ý nghĩa

“Cách nói khiêm nhường là cách nói nhằm thể hiện ý lịch sự của người nói một
cách gián tiếp đối với người nghe hoặc nhân vật được nhắc đến trong đề tài nói
bằng cách khiêm nhường (hạ thấp) những hành động của chính bản thân người nói
hoặc những người cùng nhóm với người nói.”
[12;1988:14]

Ví dụ: Tình huống: Kyaku no nimotsu wo, eki kara ie made dare ka ga korobu
koto wo kyaku ni iu. (Nói với khách về việc ai sẽ đảm nhận vai trò mang hành lý
của khách từ nhà ga về đến nhà)
1 Onimotsu wa watashi ga onimochishimasu. (Tôi sẽ mang hành lý)

3 Khiêm nhường những vật sở hữu và những sự việc liên quan đến người nói
Ví dụ: Heisha / Shosha: công ty chúng tôi

1.1.3.3 Các loại

1 Cách nói khiêm nhường loại I: “Là cách nói khiêm nhường biểu hiện ý kính
trọng và lịch sự với người nghe thông qua việc hạ thấp bản thân mình khi người nói
hay những người thuộc nhóm người nói là nhân vật xuất hiện trong đề tài nói”.
[12;1988:15]

Đó là những động từ như: itasu (làm), mairu (đi), oru (ở, có mặt)…

17
Ví dụ: Watakushi wa ashita shuccho de osaka he mairimasu. (Tôi sẽ đi công tác
Osaka vào ngày mai)
 Chủ ngữ tôi được chuyển sang hình thức thể khiêm nhường là watakushi còn
động từ đi được chuyển thành mairu (ở hình thức lịch sự sẽ là ikimasu,
irasshaimasu)。
2 Cách nói khiêm nhường loại II: “Là cách nói đề cao phía đối tượng bằng cách
hạ thấp phía người nói khi những hành động của phía người nói (bản thân người
nói, những người thuộc nhóm người nói) có liên quan
đến đối tượng cần biểu hiện
thái độ kính trọng, lịch sự (người không thân thiết, người ngoài nhóm…)”

[12;1988:15]
Theo đó, sẽ không thể sử dụng cách nói khiêm nhường trong trường hợp mà sự sở
hữu hay những hành động của người nói không liên quan đến đối tượng cần biểu
hiện thái độ lịch sự.
Ví dụ: - Densha ga mairimasu. (Xe điện tới)
D Trong ví dụ này, cho dù động từ “tới” (kuru) được chia thành hình thức của cách

O / Go ~ moshiageru
Ví dụ: - Oyorokobi moshiagemasu.
(Xin chúc mừng)
- Hisaisha no kata niwa kokoro kara omimai moshiageru to tomo ni. Ichi
nichi mo hayaku seijou na seikaku ni modoremasu yo gokinen moshiagemasu.
(Cùng với việc đi thăm những người bị tai nạn hỏa hoạn, tôi cầu nguyện cho
học sớm trở lại với cuộc sống bình thường)
O / Go ~ itadaku
Ví dụ: - Chotto omochi itadakereba, sugu onaoshiitashimasu.
(Nếu được anh chờ cho một chút, tôi sẽ sửa liền)
- Shizen kankyo wo hogo suru tame no undo ni gosando itadakereba saiwai
ni zonjimasu.
(Chúng tôi rất là sung sướng nếu được anh tán thành cho cuộc vận động bảo
vệ môi trường thiên nhiên)
O / Go ~ negau
Ví dụ: - Machigai wa nai to omoimasu ga, nen no tame oshirabe negaimasu.
(Tôi nghĩ là không có gì sai, nhưng để cho chắc xin ông hãy kiểm tra)

19
- Myocho gozen shichi ji kara gozen juuji made, denki kouji no tame teiden
shimasu kara gochuui negaimasu.
(Từ 7 giờ đến 10 giờ sáng ngày mai sẽ cúp điện vì công trình sửa điện, xin
mọi người hãy chú ý)
5 Những biểu hiện khiêm nhường khác:
O / Go ~ ni azukaru
Ví dụ: - Honjitsu wa sensei no otaku e omaneki ni azukarimashita.
(Hôm nay tôi được mời đến nhà thầy giáo)
- Honjitsu wa goshotai ni azukari, arigato gozaimasu.
(Tôi rất cám ơn khi được ông mời ăn hôm nay)
O / Go ~ wo sashiageru

1.1.4 Cách nói thêm O / Go vào danh từ và tính từ:

1.1.4.1 Cách sử dụng O / Go:

1 Sử dụng O / Go khi nói đến trạng thái, đồ vật, hành động của người nghe,
người lớn tuổi và người được tôn kính (cách nói tôn kính)
Ví dụ: - Goryoshin mo gokyodai mo ogenki da tonokoto, nanyori to zonjimasu.
(Nghe nói rằng song thân và huynh đệ của ông đều khỏe mạnh, thật không
còn gì bằng)
B Từ nguyên gốc trong ví dụ trên là: Ryoshin (song thân - cha mẹ); kyodai (anh chị
em); genki (khỏe mạnh): đây là những từ chỉ người than và những sự việc liên quan
đến người nghe nên sử dụng cách nói tôn kính bằng cách thêm O / Go vào phía
trước.
- Oisogashi chu wo wazawaza oide itadakimashite, arigato gozaimasu.
(Trong lúc bận rộn mà được ông đến cho, tôi thành thật cám ơn)
B Từ nguyên gốc của ví dụ trên là tính từ Isogashi (bận rộn). Khi muốn thể hiện ý
kính trọng và biết ơn với người nghe thì sẽ thêm tiếp đầu ngữ O vào phía trước tính
từ này. Vì đây là tính từ chỉ trạng thái của người nghe nên được thể hiện bằng cách
nói tôn kính.
2 O / Go được sử dụng khi những đồ vật, hành
động của người nói có liên
quan đến người nghe, người lớn tuổi hơn và người đáng tôn kính (cách nói khiêm

21
nhường).
Ví dụ: - Sensei no atatakai goshido no okage de, kodomo mo buji waseda daigaku ni
nyugaku dekimashite, orei no moshiage yo mo gozaimasen.
(Nhờ sự chỉ bảo tận tình của thầy mà con tôi đã có thể vào trường đại học
Waseda, tôi thành thật cám ơn thầy)
B “Orei” là cách nói thể hiện sự kính trọng người nghe của từ gốc “Rei” (cảm ơn,

Ocha (trà), otaku (nhà), obon (lễ vu lan), oniku (thịt)
Những từ được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày, cho dù là từ Hán cũng thêm O
Ví dụ: Oryori (món ăn), obento (cơm hộp), oshokuji (thức ăn), odenwa (điện thoại),
ojikan (thời gian), ofuro (nhà tắm), osewa (sự giúp đỡ, chăm sóc)…
Lưu ý: Hai từ sau được dùng cả O và Go
Ohenji / Gohenji: hồi âm, trả lời
Okazoku / Gokazoku: gia đình
Theo nguyên tắc thì không được thêm O / Go vào từ ngoại lai (từ nước ngoài) nhưng
cũng có tr
ường hợp ngoại lệ.
Ví dụ: Osoosu (nước sốt), ozubon (cái quần), obiru (bia)…

1.1.4.3 Những trường hợp không thêm O / Go

Đối với những từ ngoại lai:
Ví dụ: Oerebeta (thang máy), okurisumasu (lễ Noen), obata (bơ)…
Đối với những từ dài:
Ví dụ: Ojagaimo (khoai tây), okomorigasa (cây dù), ohorenso (rau bina)…
Đối với những từ bắt đầu là O
Ví dụ: Oomoshiroi (thú vị), Ooishi (ngon), oojisan (chú), oookii (to, lớn)…
Đối với những vật công cộng, hiện tượng tự nhiên.
Ví dụ: Oame (mưa), oyuki (tuyết), o / go eki (nhà ga), o / go kaisha (công ty)…
Đối với những từ mỉa mai, khinh miệt và có phẩm chất xấu
Ví dụ: Omanuke (ngu dốt), oguzu (rác, phế thải)…

1.1.5 Cách nói lịch sự:

1.1.5.1 Khái quát:
Cách nói lịch sự là cách nói diễn đạt ý tôn kính với người nghe thông qua cách
nói sự vật, sự việc một cách lịch sự. Cách nói lịch sự còn được kết hợp với cách nói

Ví dụ: - Korekara dekakemasu.
(Từ bây giờ tôi sẽ đi ra ngoài)
- Yamdasan wa totemo shinsetsu desu.
(Ông Yamada rất tử tế)

24
Dùng động từ “degozaru” thay vì “dearu” hay “desu”

Ví dụ: - Watakushi ga Yamada degozaimasu.
(Tôi là Yamada)

Sử dụng hình thức từ lịch sự:

Ví dụ: Tadaima (bây giờ), ainiku (xin lỗi), honjitsu (hôm nay), hai (vâng), osore
irimasu (xin lỗi), shitsurei shimasu (xin thất lễ), makoto ni (rất, thật sự),
hajimemashite (lần đầu tien được gặp ông bà)…
B Những từ lịch sự này sẽ được dùng chung với cách nói tôn kính, khiêm nhường
để làm tăng tính trang trọng, lịch sự cho câu nói.

1.1.6 Đối tượng sử dụng kính ngữ

1.1.6.1 Mối quan hệ trong – ngoài:
Nguồn gốc ý thức về mối quan hệ trong – ngoài trong xã hội Nhật Bản có từ rất
lâu. Nếu xét về phương diện địa lý thì có thể nói Nhật Bản là một đảo quốc nằm
cách xa đất liền, xung quanh được bao bọc bởi biển. Chính vì thế trong suốt một thời
gian dài, mọi hoạt động trong xã hội Nhật Bản đều không giao lưu với thế giới bên
ngoài. Do đó, trong hoàn cảnh này đã hình thành nên tính cộ
ng đồng mạnh mẽ một
cách tự nhiên. Từ đó tạo nên ý thức về mối quan hệ bên trong – bên ngoài. Từ
những phân tích trên đây, có thể thấy rằng đối với người Nhật thì:

trong tiếng Việt

1.2.1 Khái quát về tiếng Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức
tại Việt Nam. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt
Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây
dùng chữ Hán để viết, sau đó được cải biên thành chữ Nôm, tiếng Việt vẫn được coi
là một trong số các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á có số người nói nhiều nhất.
Ngày nay tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc Ngữ, cùng các dấu
thanh để viết.
Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt giao tiếp của dân thường từ khi lập
quốc. Có sáu âm sắc chính là: không sắc, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng . Bắt đầu từ khi
Trung Quốc có ảnh hưởng tới Việt Nam, tiếng Việt có rất nhiều âm mà không có

Trích đoạn Hình thức biểu hiện: Sự khác biệt trong cách nói khiêm nhường 1 Đối tượng giao tiếp Cách dạy của giáo viên: Cách học của sinh viên: Những yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng học của sinh viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status