nghiên cứu hiệu quả sử dụng phốt pho của gà broiler (ross 508) với khẩu phần có tỷ lệ phốt pho ở dạng phytin khác nhau có và không bổ sung men phytase - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VŨ QUANG

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHOSPHO CỦA
GÀ BROILER (ROSS 508) VỚI KHẨU PHẦN
CÓ TỶ LỆ PHOSPHO Ở DẠNG PHYTIN KHÁC NHAU
CÓ VÀ KHÔNG BỔ SUNG PHYTASE
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP



Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thanh Vân Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

i
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào. Mọi
sự giúp đỡ đều đƣợc cảm ơn. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đƣợc chỉ rõ
nguồn gốc. Tác giả Nguyễn Vũ Quang
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 09 năm 2011
Tác giả Nguyễn Vũ Quang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANG MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ viii
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 1
3. Điểm mới của đề tài 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4.1. Ý nghĩa khoa học 2
4.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 30
3.1. TỶ LỆ NUÔI SỐNG CỦA GÀ THÍ NGHIỆM QUA CÁC TUẦN TUỔI 30
3.2. ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PHYTASE ĐẾN KHẢ NĂNG SINH
TRƢỞNG CỦA GÀ THÍ NGHIỆM 31
3.2.1. Ảnh hƣởng của việc bổ sung Phytase đến sinh trƣởng tích luỹ của gà
thí nghiệm 31
3.2.2. Ảnh hƣởng của việc bổ sung Phytase đến sinh trƣởng tuyệt đối của gà
thí nghiệm 32
3.2.3. Ảnh hƣởng của việc bổ sung Phytase đến Sinh trƣởng tƣơng đối của
gà thí nghiệm 33
3.3. ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PHYTASE ĐẾN KHẢ NĂNG SỬ
DỤNG VÀ CHUYỂN HÓA THỨC ĂN CỦA GÀ THÍ NGHIỆM 34
3.3.1. Ảnh hƣởng của việc bổ sung Phytase đến hhả năng thu nhận thức ăn của
gà thí nghiệm 34
3.3.2. Ảnh hƣởng của việc bổ sung Phytase đến tiêu tốn thức ăn cho tăng
khối lƣợng (kg) 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

v
3.3.3. Tiêu tốn protein cho tăng khối lƣợng (g/kg) 36
3.3.4. Ảnh hƣởng của việc bổ sung Phytase đến tiêu tốn năng lƣợng trao đổi
cho tăng khối lƣợng của gà thí nghiệm 37
3.4. ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PHYTASE ĐẾN CHỈ SỐ SẢN
XUẤT CỦA GÀ THÍ NGHIỆM 38
3.5. ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PHYTASE ĐẾN NĂNG SUẤT THỊT 39
3.6. ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG MEN PHYTASE ĐẾN KẾT QUẢ
KHOÁNG HOÁ XƢƠNG CỦA GÀ THÍ NGHIỆM 41
3.7. TỶ LỆ TIÊU HÓA CA, P CỦA GÀ THÍ NGHIỆM 42
3.7.1. Tỷ lệ tiêu hóa phốt pho 42

NC & PT: Nghiên cứu và phát triển
EV: Đa enzyme tiêu hóa
EPV: Probiotic + đa enzyme
SSF: Allzyme SSF
NSP: Chất xơ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

vii
DANG MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Nhu cầu Ca, P đối với gia cầm (tính trong 1 kg thức ăn hỗn hợp) 8
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 24
Bảng 2.2. Các nguyên liệu sử dụng phối trộn thức ăn của gà thí nghiệm 25
Bảng 2.3. Thành phần giá trị dinh dƣỡng cho gà thí nghiệm 26
Bảng 2.4. Lịch sử dụng vác-xin cho gà thí nghiệm 26
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm 30
Bảng 3.2. Sinh trƣởng tích luỹ của gà thí nghiệm 31
Bảng 3.3. Sinh trƣởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 33
Bảng 3.4. Sinh trƣởng tƣơng đối của gà thí nghiệm 34
Bảng 3.5. Tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm 35
Bảng 3.6. Tiêu tốn thức ăn cộng dồn/kg tăng khối lƣợng của gà thí nghiệm 36
Bảng 3.7. Tiêu tốn protein cộng dồn/kg tăng khối lƣợng của gà thí nghiệm 37
Bảng 3.8. Tiêu tốn năng lƣợng cộng dồn/kg tăng khối lƣợng của gà thí nghiệm 37
Bảng 3.9. Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 38
Bảng 3.10. Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm lúc 84 ngày tuổi 40
Bảng 3.11. Kết quả phân tích hàm lƣợng khoáng tổng số, can xi và phốt pho trong xƣơng
ống chân của gà thí nghiệm lúc 49 ngày tuổi 41
Bảng 3.12. Tỷ lệ tiêu hoá phốt pho toàn phần của gà thí nghiệm 42
Bảng 3.13. Tỷ lệ tiêu hoá Canxi toàn phần của gà thí nghiệm 44
Bảng 3.14. Sơ bộ hoạch toán kinh tế (đ/kg tăng khối lƣợng) (n = 3 đàn) 45

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong chăn nuôi động vật, protein thức ăn đóng vai trò quyết định cho sự tăng
trƣởng và phát triển của vật nuôi. Hiện nay protein đƣợc sử dụng chủ yếu là protein có
nguồn gốc từ thực vật sẵn có, rẻ tiền nhƣng không làm thay đổi sức tăng trƣởng của
vật nuôi. Tuy nhiên, vấn đề trở ngại lớn nhất là khả năng tiêu hoá và hấp thu các chất
dinh dƣỡng trong thức ăn chứa nhiều protein thực vật.
Các protein thực vật nhƣ bã dầu nành, bã dầu phộng… có chứa một số chất kháng
dinh dƣỡng ức chế enzyme trypsin… ngăn cản khả năng tiêu hoá của động vật. Đặc biệt
là phốt pho ở dạng phytic acid có nhiều trong thực vật liên kết chặt chẽ với Zn
2+
tạo phức
hợp phytic-Zn gây bệnh lý thiếu kẽm ở vật nuôi. Ngoài kẽm phytic acid còn liên kết với
các ion hoá trị 2 nhƣ Fe
2+
hay liên kết với các amino acid và các chuỗi cacbon trong
cacbohydrates tạo ra một phức hệ phytate khó tiêu hoá và hấp thu cho động vật.
Để bù đắp sự thiếu hụt phốt pho trong thức ăn do khả năng tiêu hoá thấp phốt
pho trong protein thực vật, các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi thƣờng bổ sung 1
– 2% Dicanxi phosphate (DCP) hoặc Monocanxi phosphate (MCP), kết quả là làm
tăng lƣợng phốt pho trong thức ăn lên 2-3 lần, tuy nhiên các sản phẩm này không sử
dụng hết sẽ bài tiết ra 30-50 % phốt pho trong phân thải gây ô nhiễm môi trƣờng.
Để giảm sự ô nhiễm môi trƣờng và đảm bảo nhu cầu phốt pho của vật nuôi thì
việc gia tăng độ hữu dụng của phốt pho trong thức ăn thông qua sử dụng các enzyme

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
Có cơ sở khoa học để làm sáng tỏ hiệu quả của Phytase tới hiệu quả sử dụng phốt
pho và khả năng sản xuất thịt của gà Broiler trong khẩu phần có các mức phytin khác nhau.
Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để phục vụ cho các nghiên cứu
tiếp theo.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá đƣợc hiệu quả của Phytase đối với từng loại khẩu phần trong chăn nuôi
gà broiler.
Có cơ sở khoa học để khuyến cáo ngƣời chăn nuôi sử dụng Phytase trong sản
xuất nhằm nâng cao năng suất, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng, phát triển nông nghiệp
bền vững.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Chất khoáng trong thức ăn và nhu cầu chất khoáng của gia cầm
1.1.1.1. Chất khoáng
Chất khoáng không có vai trò cung cấp năng lƣợng cho cơ thể con vật nhƣng nó
có vai trò rất lớn trong đời sống của động thực vật. Ngƣời ta đã chứng minh đƣợc vai
trò không thể thiếu của hơn 40 nguyên tố khoáng đối với sự trao đổi chất của gia súc,
gia cầm.
Dựa vào hàm lƣợng các nguyên tố khoáng có mặt trong cơ thể vật nuôi hay
khối lƣợng các nguyên tố khoáng mà cơ thể vật nuôi cần cung cấp hàng ngày ngƣời ta
chia ra thành 2 nhóm: Khoáng đa lƣợng và khoáng vi lƣợng.

4
)
6
(OH
-
)
2
(H
3
O
+
)
2x
; Trong đó x có thể 0 đến 2. Khi x = 0 thì hợp
chất trên gọi là octacanxiphotphat; khi x = 2 thì gọi là hydroxyapatit.
Ca còn có trong máu (chủ yếu trong huyết tƣơng) với nồng độ 10 mg/dl và ở 3
dạng: ion tự do (66 %), kết hợp protein (35 %) hoặc tạo phức hợp với axit hữu cơ nhƣ
citrat hay với axit vô cơ nhƣ photphat (5-7 %).
Chức năng: Chức năng chủ yếu nhất của Ca là thành phần cấu trúc của xƣơng.
Bộ xƣơng có cấu trúc rất phức tạp, thành phần vật chất khô của bộ xƣơng xấp xỉ nhƣ
sau: chất khoáng chứa 460 g/kg, 360 g protein/kg và 180 g mỡ/kg. Tuy nhiên hàm
lƣợng này thay đổi tùy theo tuổi và tình trạng dinh dƣỡng. Ca và P là hai thành phần
rất phong phú trong xƣơng ở dƣới dạng hydroxy apatit 3Ca
3
(PO
4
)
2
.Ca(OH)
2

thành các phức hợp không tan Ca-oxalat và Ca-phytat.
Ở gia súc sinh trƣởng Ca tích lũy trong xƣơng và các tổ chức khác nhiều hơn
lƣợng mất qua phân, nƣớc tiểu và mồ hôi. Ở gia súc trƣởng thành không mang thai,
không nuôi con lƣợng Ca ăn vào bằng mất đi nếu nhu cầu trao đổi đƣợc thỏa mãn.
Triệu chứng thiếu Ca: Thức ăn thiếu Ca ở động vật non: Ca không đủ để tạo tổ
chức xƣơng đƣa đến bệnh còi xƣơng (Rickets - xƣơng cong vẹo, khớp to, què và cứng).
Thức ăn thiếu Ca ở động vật trƣởng thành: Ca ở xƣơng bị huy động mà không
đƣợc thay thế tạo nên tình trạng gọi là nhão (xốp) xƣơng (Osteomalacia - xƣơng yếu
dễ gãy; ở gà đẻ: mỏ và xƣơng trở nên xốp, chân cong, vỏ trứng mỏng và đẻ ít). Các
triệu chứng còi và xốp xƣơng không chỉ đặc hiệu do thiếu Ca mà có thể còn do thiếu P
hoặc thiếu vitamin D.
Sốt sữa (bại liệt sau đẻ - Parturien Paralysis): thƣờng xảy ra ở bò sữa sau sinh
con (Ca trong máu hạ, bại liệt chân và có khi bất tỉnh). Nguyên nhân hạ Ca kết hợp với
sốt sữa vẫn còn chƣa rõ, tuy nhiên ngƣời ta cho rằng Ca trong máu hạ thấp là do tuyến
phó giáp trạng không đủ sức tiết hormôn để thích ứng với lƣợng sữa ban đầu tiết quá
nhiều. Ngƣời ta cho rằng nên tránh cung cấp cho con vật quá liều Ca trong khi mức độ
P ở mức duy trì trong giai đoạn cạn sữa sẽ làm giảm chứng sốt sữa. Cung cấp vitamin
D
3
trƣớc khi con vật đẻ rất có lợi
Nguồn canxi: Sữa, lá cây bộ đậu chứa nhiều Ca, trong khi đó hạt cốc và cây lấy
củ rất nghèo Ca. Trong các sản phẩm động vật: xƣơng, bột cá, thịt, máu… rất giàu Ca.
Nếu sử dụng đá Canxi photphát thì phải loại ngay fluorin, nếu không có thể bị ngộ
độc. Nếu khẩu phần của gia súc dạ dày đơn chứa nhiều mỡ thì hình thành xà phòng
Ca-axit béo làm giảm hấp thu Ca.
Phốt pho (P)
Chức năng: P là một chất khoáng có nhiều chức năng hơn bất kỳ chất khoáng
nào khác. P ngoài nhiệm vụ tạo xƣơng còn có nhiệm vụ quan trọng khác nhƣ tham gia
vào liên kết cao năng của ATP, trong quá trình tổng hợp phốt pholipit của màng tế bào,
của tổ chức thần kinh, trong RNA và DNA và trong quá trình tổng hợp protein và di

Ca và P phải đủ, tỉ số Ca/P phải thích hợp và phải đủ vitamin D. Vitamin D có tác dụng
làm tăng hấp thụ Ca và huy động Ca vào máu đƣa đến các tổ chức trong cơ thể để
cung cấp số lƣợng Ca cần thiết.
1.1.1.3. Nhu cầu chất khoáng
Việc xác định nhu cầu chất khoáng trong cơ thể động vật gặp không ít khó
khăn. Mitchell H. H. đã nêu ra 5 biện pháp đo nhu cầu hoặc mức độ cung cấp chất
khoáng cho động vật trong thức ăn duy trì. Đa số thí nghiệm đều xác nhận rằng các
phƣơng pháp vẫn chƣa đủ độ tin cậy.
- Phương pháp dựa trên cơ sở hao hụt nội sinh
- Thí nghiệm cân bằng
- Phân tích cơ thể động vật

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

7
- Phương pháp nuôi dưỡng.
- Phương pháp phân tích cơ quan
- Những phương pháp khác: Cùng với việc xác định trực tiếp lƣợng chất
khoáng tích luỹ trong những mô khác nhau, còn có những phƣơng pháp gián tiếp
nghiên cứu việc cung cấp chất khoáng cho cơ thể. Nhƣ việc xác định độ cứng của
xƣơng, hoạt tính của một số enzyme, kiểm tra trạng thái chức năng của những cơ quan
khác nhau, nghiên cứu về tổ chức học, sản lƣợng trứng…
Kiểm tra hàm lƣợng chất khoáng trong thức ăn và so sánh với nhu cầu tiêu
chuẩn cho phép đánh giá một cách chính xác mức độ cung cấp thức ăn cho động vật
nông nghiệp. Tuy nhiên cần tính đến tác dụng tƣơng hỗ giữa các chất khoáng. Cung
cấp thừa một loại chất khoáng nào đó sẽ làm tăng nhu cầu về loại chất khoáng khác.
Giữa chất khoáng và các thành phần khác trong thức ăn cũng tồn tại một tác dụng
tƣơng hỗ nhƣ vậy. Vì vậy, cần bổ sung trong phân tích khẩu phần bằng cách xác định
mức đảm bảo chất khoáng cho cơ thể trong những giai đoạn còn nghi ngờ.
Con đƣờng đó rất quan trọng vì có thể điều chỉnh đƣợc những rối loạn trao đổi

0,6
3,25
2,75
0,7
0,4
0,5
0,5
Ngỗng 0 - 8 tuần
Ngỗng ST 8 - 16T
Ngỗng sinh sản
1,2
0,8
2,25
0,8
0,7
0,7
Vịt 0 - 3 tuần
Vịt 4 tuần → giết thịt
Vịt sinh sản
0,7
0,8
2,25
0,4
0,38
0,70
Ngan khởi động
Ngan sinh trƣởng
Ngan sinh sản
0,8 - 0,9
0,7 - 0,8

Khi phân giải thuỷ phân, dƣới tác động của các enzyme, các axit hoặc bazơ,
protein bị phân huỷ thành các axit amin riêng biệt. Trong khoang tuyến của dạ dày,
dƣới ảnh hƣởng của enzyme pepsin, các protein thức ăn đƣợc phân giải thành các sản
phẩm chƣa hoàn toàn gọi là các pepton. Tiếp theo, dƣới sự trà sát của dạ dày cơ, tác
động của enzyme pepsin vẫn tiếp tục, trong tá tràng, các pepton và các phân tử protein
nguyên vẹn nhờ các enzyme tripsin, chimotripxin và cacboxipolipeptidaza có ở tá
tràng, nên chúng bị phân giải đến polipeptit, peptit và các axit amin. Các axit amin
đƣợc thành ruột non thu hút và thâm nhập vào máu, mạch bạch huyết (lympho), nhờ
dòng máu và bạch huyết chúng đƣợc đƣa đến tất cả các mô trong cơ thể. Nhiều axit
amin đƣợc giữ lại ở gan, ở đây chúng đƣợc tổng hợp thành các protein-albumin và
globulin của máu và có thể cả các protein của cơ, protein của trứng. Trong cơ thể gia
cầm các axit amin đƣợc sử dụng không chỉ để tổng hợp protein, mà chúng còn trải qua
quá trình phức tạp của sự khử amin hoá, sự khử cacboxil hoá, kết quả của quá trình
này là chúng bị chuyển hoá thành các axit amin thay thế khác (Sing K. S. và Panda,
1988 [14]).
1.1.3. Tổng quan về enzyme
1.1.3.1. Cấu tạo hoá học của enzyme
Enzyme là chất xúc tác sinh học, nhờ có enzyme mà các phản ứng sinh hóa học xảy
ra với một tốc độ rất nhanh, chính xác, nhịp nhàng, hiệu qủa cao và tiết kiệm năng lƣợng.
Bản chất của enzyme là protein vì cũng đƣợc cấu tạo từ các axit amin. Nó là thành
phần cấu trúc của màng, trong ty lạp thể, trong máu, trong sinh dịch
Trong cuộc sống sinh vật xảy ra rất nhiều phản ứng hóa học, với một hiệu suất
rất cao, mặc dù ở một điều kiện bình thƣờng về nhiệt độ, áp suất, pH. Sở dĩ nhƣ vậy vì
nó có sự hiện diện của chất xúc tác sinh học đƣợc gọi chung là enzyme.
Nhƣ vậy, enzyme là các protein xúc tác các phản ứng hóa học. Trong các phản
ứng này, các phân tử lúc bắt đầu của quá trình đƣợc gọi là cơ chất (substrate), enzyme
sẽ biến đổi chúng thành các phân tử khác nhau. Tất cả các quá trình trong tế bào đều
cần enzyme. Enzyme có tính chọn lọc rất cao đối với cơ chất của nó.
1.1.3.2. Tính đặc hiệu của enzyme
Đa số các enzyme có tính chọn lọc đối tƣợng tác động một cách rõ rệt, mỗi loại

hóa rồi mới cho động vật ăn.
Thành phần thức ăn của nhiều động vật chủ yếu là ngũ cốc, có bổ sung các
nguyên liệu giàu protein nhƣ đậu tƣơng hoặc nguyên liệu giàu lipit. Nhiều thức ăn
thực vật chứa khoảng 30 % là cellulose, hemi cellulose, pectin là những chất mà nhiều
động vật không hấp thu đƣợc. Mặc dù trong hệ tiêu hóa của động vật cũng có các
enzyme phân giải các chất dinh dƣỡng trong thức ăn (tinh bột, protein, lipit) nhƣng
không đủ để tiêu hóa toàn bộ thức ăn. Hơn nữa trong một số nguyên liệu còn có các
chất kháng dinh dƣỡng. Sử dụng enzyme trong chăn nuôi đem lại những lợi ích nhƣ:
- Phân giải các chất kháng dinh dƣỡng có trong nguyên liệu, làm cho việc tiêu
hóa thức ăn tốt hơn.
- Phân giải các thành phần cấu trúc của ngũ cốc, do đó các chất dinh dƣỡng dễ
tách ra hơn, làm tăng hệ số sử dụng thức ăn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

11
- Phân giải các chất dinh dƣỡng ở dạng polymer phân tử lớn thành các sản
phẩm phân tử thấp dễ tiêu hóa, dễ hấp thụ, tăng hiệu qủa hấp thụ thức ăn.
- Giảm ô nhiễm môi trƣờng.
* Vai trò của enzyme trong chăn nuôi
Trong chăn nuôi hàng hoá, nhà sản xuất khai thác tối đa khả năng sinh lợi,
mang lại hiệu quả kinh tế của vật nuôi. Để giúp vật nuôi tiêu hóa tốt thức ăn, tăng khối
lƣợng nhanh, hạn chế các tác động bất lợi có trong nguyên liệu thức ăn thì xu hƣớng
chung hiện nay ngƣời ta bổ sung thêm vào thức ăn các enzyme công nghiệp. Có rất
nhiều công trình nghiên cứu cho thấy vai trò tích cực của enzyme trong ngành chăn
nuôi, đặc biệt là đối với chất xơ, phytate có trong cám gạo và ảnh hƣởng tích cực đối
với môi trƣờng.
* Đối với chất xơ
Việc sử dụng các enzyme có tác dụng trên chất xơ (NSP), giúp vật nuôi tiêu hóa
tốt hơn thức ăn; vừa hạn chế các tác hại của bản thân những NSP gây ra, vừa giải

enzyme phân hủy NSP (nhƣ endo-xylanase và  glucanase-glucanase) và phân hủy
phytate (nhƣ phytase) chứa nhiều trong cám gạo, lúa mì, lúa mạch đƣợc ứng dụng
rộng rãi trong những khẩu phần ăn không chỉ do vấn đề môi trƣờng, mà vì nó còn có ý
nghĩa về mặt kinh tế. Trong tự nhiên, khoảng 60 - 75 % phốt pho có trong hạt ngũ cốc
đƣợc liên kết hữu cơ dƣới dạng phytate, đây là dạng rất khó hấp thu đối với lợn, gia
cầm. Giá trị sinh học của phốt pho ở hạt ngũ cốc rất biến động từ dƣới 15 % ở bắp cho
tới khoảng 50 % ở lúa mì. Trong khẩu phần bắp - khô dầu đậu nành có hai phần ba
lƣợng phốt pho bị liên kết dƣới dạng axít phytic. Lợn, gia cầm không thể tiêu hóa
lƣợng phốt pho này. Lƣợng phốt pho bị thải này sẽ giảm đáng kể nếu bổ sung Phytase
vi sinh vào khẩu phần, enzyme này sẽ giải phóng một số mạch liên kết phốt pho làm
cho lợn, gia cầm tiêu hóa dễ dàng. Do đó lƣợng phốt pho vô cơ phải bổ sung thêm để
đáp ứng nhu cầu sẽ giảm, lƣợng phốt pho thải ra có thể giảm 30 - 50 %.
Hiệu quả của việc bổ sung Phytase thay đổi theo từng loại lợn, gia cầm, khối
lƣợng, khẩu phần, mức ăn, tần suất cho ăn, nguồn Phytase, lƣợng Phytase bổ sung và
tình trạng sinh lý của vật nuôi. Không có mức chuẩn cho việc bổ sung Phytase cho tất
cả các loại khẩu phần bởi vì mức phốt pho tổng số và phốt pho phytate của các loại
khẩu phần thay đổi. Enzyme Phytase không chỉ làm gia tăng khả năng tiêu hóa phốt
pho mà còn làm tăng khả năng tiêu hóa những chất khoáng và các axít amin khác.
Cũng theo nhóm tác giả trên, công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc có thể tiết kiệm trên
8 EUR/tấn thức ăn cho gà thịt và 2 EUR/tấn thức ăn cho lợn khi mức phốt pho trong
khẩu phần đƣợc giới hạn.
* Đối với môi trường
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã và đang nỗ lực tìm cách làm giảm ô
nhiễm từ các chất thải ra trong chăn nuôi. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã
xác định đƣợc rằng cần cải thiện khả năng sử dụng các dƣỡng chất trong khẩu phần của vật
nuôi để hạn chế tối đa lƣợng thải ra qua phân thải. Trƣớc đây, do ít quan tâm đến lƣợng chất
dinh dƣỡng bị thải ra ngoài nên hậu quả của việc cho ăn quá nhiều chất dinh dƣỡng nhằm
tối đa hóa năng suất đã dẫn đến hậu quả là lƣợng chất dinh dƣỡng thải ra quá nhiều qua
phân và nƣớc tiểu (chủ yếu là hàm lƣợng protein, phốt pho và canxi).
Ở các khẩu phần có bổ sung enzyme tiêu hóa thì lƣợng nitơ thải ra giảm một

1.1.5. Những hiểu biết về enzyme Phytase
Theo Cao Ngọc Điệp,Viện NC&PT Công nghệ sinh học - Đại học Cần Thơ
tổng hợp của một số tác giả nƣớc ngoài (2010) [1], Phytate là một dạng phốt pho hữu
cơ chiếm từ 1 đến 5% (w/w) của đậu hạt, ngũ cốc, hột chứa dầu, phấn hoa và hạnh
nhân (Cheryan, 1980); hầu hết thực phẩm có nguồn gốc thực vật chứa từ 50% đến
80% phốt pho tổng là phytate (Harland và Morris, 1995 [25]) và dĩ nhiên phytate chứa
khoáng liên kết với acid amin và protein. Theo Posternak, 1902 là ngƣời đầu tiên phát
hiện ra phytin, ông dùng phytin để chỉ một chất phốt pho trong các loại hạt mà ông
khám phá ra và xem nó nhƣ sản phẩm trung gian trong quá trình tổng hợp diệp lục tố
nhƣng Pfeffer tìm ra acid phytic từ năm 1872.
Trong tự nhiên, acid phytic tồn tại chủ yếu trong các dạng muối phytate dƣới
dạng phức hợp với các cation quan trọng cho dinh dƣỡng nhƣ Ca
2+
, Zn
2+
và Fe
2+

phytate chứa 14 - 25 % phốt pho, 1,2 - 2 % Canxi, 1 - 2 % kẽm và sắt. Lƣợng phytate

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

14
cao nhất trong các loại ngũ cốc, bắp (0,83 - 2,22 %) và trong các loại hạt đậu (5,92 -
9,15 %) (Reddy, et al., 1989 [40]).
Phytate làm giảm khả năng tiêu hóa protein, tinh bột và lipit vì phytate tạo phức
với protein làm protein kém tan và kháng lại đƣợc sự phân giải protein. Acid phytic có
thể ảnh hƣởng đến sự tiêu hóa tinh bột thông qua sự tƣơng tác với enzyme amylase
(Kerovuo, et al., 2000 [33]). Ở pH thấp, acid phytic có điện tích âm mạnh vì các nhóm
phosphate phân ly không hoàn toàn. Dƣới điều kiện này, acid phytic có ảnh hƣởng xấu

đƣờng tiêu hóa của chúng, do đó phần lớn phytate P đƣợc bài tiết ra ngoài mà không
hấp phụ. Phytate là nguồn P chủ yếu trong lúa mì, ngô, khô dầu đỗ tƣơng và có khoảng
75 % tổng P trong hạt cốc đƣợc đính trong các phân tử phytate mà vật nuôi không sử
dụng đƣợc. Thực tế, trong lúa mì và lúa mạch cũng có Phytase, nhƣng Phytase thực
vật này bị vô hoạt trong quá trình xử lý nhiệt, nhất là khi đạt nhiệt độ từ 80
0
C trở lên.
Để đáp ứng đủ nhu cầu về P cho cơ thể lợn và gia cầm, trƣớc đây ngƣời ta phải
bổ sung bằng những nguồn P vô cơ dễ tiêu (nhƣ mono - canxium phosphate, di -
canxium phosphate, mono - sodiumphosphate) vào trong thức ăn hỗn hợp để vật nuôi
sinh trƣởng và phát triển bình thƣờng. Do đó, có một lƣợng lớn P đƣợc bài tiết theo
phân vật nuôi vào môi trƣờng.
Mặt khác, các phosphate vô cơ có thể bị nhiễm fluorin và dƣ cặn kim loại nặng
ngay trong quá trình sản xuất. Những fluorin và dƣ cặn kim loại nặng trong thực phẩm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

15
là độc hại cho vật nuôi và nguy hiểm cho con ngƣời. Phytase cũng có thể giải phóng
kẽm ra khỏi phytate. Kẽm tự do này ngăn ngừa hấp thụ cadmium.
P cũng là nguồn chất dinh dƣỡng cần thiết cho cây trồng và P từ nguồn phân
chuồng hoặc phân hóa học có thể dùng bón cho cây trồng. Hơn nữa, những phần tử P
đƣợc gắn vào đất một cách bền vững với mức độ quá mức rồi tích tụ trong đất. Nƣớc
tràn và đất xói mòn của những cánh đồng có nhiều P có thể làm cho suối, sông và hồ
chứa nhiều P. Trong những điều kiện nhƣ vậy, P trở thành chất ô nhiễm môi trƣờng
nhiều hơn là giữ vai trò của một chất dinh dƣỡng cho cây trồng.
Nhƣ vậy, bản thân vật nuôi dạ dày đơn không thể tự phân hủy phytate nên cần có
sự hỗ trợ của Phytase. Phytase tự nhiên chủ yếu có trong lúa mì hoặc phụ phẩm của lúa
mì, nhƣng hàm lƣợng thấp, nếu dùng Phytase loại này thì phải cung cấp một lƣợng thức
ăn quá nhiều, gây mất cân đối về khẩu phần. Vì vậy, ngƣời ta cung cấp Phytase ngoại sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status