vận dụng quan điểm giáo dục về chủ nghĩa nhân đạo của a.x.makarenko trong công tác giáo dục tại trường giáo dưỡng số 2 ninh bình - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


NGUYỄN THỊ MAI LY

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC VỀ CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO
CỦA A.X.MAKARENKO TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC TẠI
TRƢỜNG GIÁO DƢỠNG SỐ 2 NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC Th¸i Nguyªn, n¨m 2010
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn DANH MỤC KÍ TỰ VIẾT TẮT

CNXH
Chủ Nghĩa Xã Hội
GD
Giáo dục
TGD
Trường Giáo Dưỡng
HS
Học sinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC
Trang
PHẦN: MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu. 2
3.1. Khách thể nghiên cứu 2
3.2. Đối tượng nghiên cứu 2
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phạm vi nghiên cứu 3
7. Cơ sở phƣơng pháp luận 3
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 4
9. Đóng góp của đề tài 4

2.2.3.1. Nhận thức của học sinh TGD số 2 53
2.2.3.2. Đặc điểm về tình cảm 56
2.2.3.3. Đặc điểm về hành vi 57
2.2.3.4. Hoàn cảnh gia đình học sinh TGD số 2 60
2.2.4 Đặc điểm cán bộ giáo viên TGD số 2 63
2.3 Đặc điểm những hoạt động giáo dục trong TGD số 2 66
2.3.1. Hoạt động học tập văn hoá 66
2.3.2. Hoạt động lao động hướng nghiệp 68
2.3.3 Hoạt động bổ trợ giáo dục 70
2.4. Tìm hiểu sự tiếp cận của các cán bộ và giáo và giáo viên TGD
số 2 với quan điểm giáo dục về chủ nghĩa nhân đạo của
A.X.Makarenko 71
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 79
CHƢƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM GIÁO
DỤC VỀ CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO CỦA A.X.MAKARENKO
TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC TẠI TRƢỜNG GIÁO DƢỠNG 81
3.1 Các biện pháp 81
3.1.1. Biện pháp kết hợp đúng đắn lòng tin và sự tôn trọng đối với
học sinh trong quá trình giáo dục 81
3.1.1.1 Mục đích, ý nghĩa của biện pháp 81
3.1.1.2 Nội dung và cách thực hiện biện pháp 82
3.1.2 Biện pháp tiến hành giáo dục đồng bộ ( dạy văn hoá, hướng
nghiệp và dạy nghề, vui chơi, thể dục thể thao, văn nghệ) 88
3.1.2.1 Mục đích và ý nghĩa của biện pháp 88
3.1.2.2 Nội dung và cách thực hiện biện pháp 89
3.1.3 Biện pháp giáo dục bằng tình cảm 96
3.1.3.1 Mục đích, ý nghĩa biện pháp 96
3.1.3.2 Nội dung và cách thực hiện biện pháp 97

liên quan đến ma tuý (145 em), trộm cắp (2.112 em), gây rối trật tự công cộng
(765 em), cố ý gây thương tích (124 em), hiếp dâm (69 em), giết người (12
em), cướp giật (54 em), cưỡng đoạt tài sản (79 em), lừa đảo (48 em), các hành
vi khác (40 em). [3. Tr6]
Chính sự gia tăng cả về số lượng và tính chất của những tệ nạn xã hội
cộng với số lượng trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ngày càng nhiều đòi hỏi
xã hội cần phải quan tâm nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm giáo dục lại nhằm
từng bước hạn chế sự gia tăng của các tệ nạn xã hội, tạo cơ hội cho trẻ em vị
thành niên được có cơ hội làm lại cuộc đời và hòa nhập với xã hội. Hiện nay
công tác giáo dục lại đối với trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật đang là vấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
đề quan tâm của nhiều ban ngành trong xã hội. Đây là một vấn đề phức tạp,
khó giải quyết, đòi hỏi sự tham gia của tất cả xã hội.
Trong lĩnh vực giáo dục nói chung, giáo dục lại nói riêng những
phương pháp giáo dục phù hợp là một yếu tố quan trọng góp phần làm tăng
hiệu quả của quá trình giáo dục. Trong kho tàng tri thức giáo dục lại, lý luận
và thực tiễn giáo dục của A.X. Makarenko là một trong những di sản quan
trọng có ảnh hưởng trên phạm vi thế giới. Việc nghiên cứu và vận dụng lý
quan điểm giáo dục lại của A.X.Makarenko sẽ góp phần tăng hiệu quả của
công tác giáo dục lại hiện nay.
Vận dụng lý luận giáo dục của A.X. Makarenko, nhất là những tư
tưởng về phương pháp giáo dục lại trong hoàn cảnh xã hội ta hiện nay là một
việc làm cần thiết để tăng cường tính chất xã hội chủ nghĩa và tính nhân văn
trong giá dục xã hội của nhà nước ta. Đồng thời để chứng minh sức sống của
tư tưởng giáo dục Makarenko cùng với tất cả những cơ sở khoa học của nó.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, tôi chọn vấn đề: “Vận dụng quan điểm
giáo dục về chủ nghĩa nhân đạo của A.X.Makarenko trong công tác giáo dục tại
trường giáo dưỡng số 2 Ninh Bình” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.

Đề tài nghiên cứu sự vận dụng quan điểm giáo dục về chủ nghĩa nhân
đạo của A.X.Makarenko tại trường Giáo dưỡng số 2.
7. Cơ sở phƣơng pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên các quan điểm phương pháp luận sau:
- Quan điểm hệ thống – cấu trúc
- Quan điểm lịch sử – lôgic
- Quan điểm thực tiễn
- Phép biện chứng duy vật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Hệ thống các phương pháp lý thuyết: gồm các phương pháp phân tích,
tổng hợp, khái quát hoá để làm cơ sở lý luận cho việc xây dựng các biện
pháp vận dụng quan điểm giáo dục về chủ nghĩa nhân đạo của
A.X.Makarenko vào công tác giáo dục tại trường giáo dưỡng số 2 Ninh Bình.
- Hệ thống các phương pháp thực tiễn: quan sát, điều tra bằng ankét, phỏng
vấn, nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh, xin ý kiến chuyên gia
- Hệ thống các phương pháp xử lý số liệu: gồm các phương pháp
toán học.
9. Đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ hơn quan điểm giáo dục về chủ nghĩa
nhân đạo của Makarenko trong Giáo dục học hiện đại.
Đề xuất được các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục trong
trường Giáo dưỡng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC VỀ CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO CỦA

ông tại các cơ sở giáo dục này. Sau ngày A.X.Makarenko mất (1/4/1939) việc
nghiên cứu di sản giáo dục của ông được tiếp tục diễn ra nhằm đáp ứng những
yêu cầu cấp thiết của nhân loại.
Các nước như Pháp, Anh, Italia có rất nhiều nhà khoa học giáo dục quan
tâm nghiên cứu về sự nghiệp giáo dục của A.X.Makarenko nhằm khẳng định
tính đúng đắn của hệ thống những quan điểm và thực tiễn giáo dục của ông.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, việc quảng bá tư tưởng giáo
dục của A.X.Makarenko thường được tiến hành trên cả hai mặt: nghiên cứu lý
thuyết và tổ chức vận dụng trong thực tiễn. Do ý nghĩa cấp thiết của vấn đề
giáo dục lại trẻ em ở lứa tuổi vị thành niên vi phạm pháp luật mà việc nghiên
cứu di sản giáo dục của Makarenko được tiến hành hầu hết trong các nước xã
hội chủ nghĩa trong đó có Trung hoa và Cuba.
Trong lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh của A.X.Makarenko, đông đảo các
nhà nghiên cứu từ nhiều nước đã tham dự một cuộc hội thảo về những vấn đề
phương pháp luận và phương pháp cụ thể của việc nghiên cứu, vận dụng di
sản của A.X.Makarenko tại các nước ngoài Liên Xô.
Như vậy, trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học giáo dục học
nghiên cứu về di sản giáo dục của A.X.Makarenko. Cho đến nay việc nghiên
cứu và vận dụng những di sản giáo dục của ông vẫn được nhiều thế hệ các
nhà khoa học giáo dục học trên thế giới quan tâm nghiên cứu và ứng dụng.
1.1.2. Tại Việt Nam
Hệ thống quan điểm giáo dục và thực tiễn giáo dục của
A.X.Makarenko được quảng bá tại Việt Nam từ những thập niên 50 – 80 của
thế kỉ XX. Ban đầu lý luận đó được giảng nhiều trong các trường sư phạm,
sau đó được tuyên truyền rộng rãi ngoài xã hội, nhất là vận dụng nhiều trong
công tác giáo dục trẻ em hư.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
Tại các cơ sở giáo dục trẻ em hư - các trường Phổ thông Công Nông

tập thể, giáo dục lao động và hướng nghiệp của ông đã được những nhà giáo
dục áp dụng rất hiệu quả trong công tác giáo dục trẻ em hư tại nhiều trường
Giáo dưỡng hiện nay.
Có thể kể đến một số tác phẩm nghiên cứu về di sản giáo dục của
A.X.Makarenko như: “Từ bài ca sư phạm đến Xuân An” (1987) và “Muốn trẻ
em hư thành công dân tốt” (1991) của tác giả Võ Quang Phúc, tác giả Hà Thế
Ngữ với bài viết “A.X.Makarenko và việc đổi mới tổ chức quá trình sư
phạm”, tác giả Nguyễn Sinh Huy với bài viết “Chủ nghĩa nhân đạo cao cả -
cơ sở của mọi sự sáng tạo” hay trong cuốn “Lịch sử giáo dục thế giới” hai tác
giả Đào Thanh Âm và Hà Nhật Thăng đã dành một chương để giới thiệu về
những cống hiến to lớn của Makarenko đối với nền giáo dục của thế giới.
Như vậy, ngay tại Việt Nam đã có rất nhiều nhà khoa học giáo dục
nghiên cứu về những di sản giáo dục của A.X.Makarenko nhằm vận dụng có
hiệu quả những di sản giáo dục đó vào công tác giáo dục nước ta.
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của A.X.Makarenko
Antôn Xêmiônôvich Makarenko là một nhà lý luận sư phạm tiên phong
xuất sắc đồng thời ông cũng là một nhà hoạt động thực tiễn sư phạm lỗi lạc
của nền giáo dục Xô Viết cũng như của thế giới.
Ông sinh ngày 13/3/1888 trong một gia đình công nhân ở Kharkop
thuộc nước cộng hoà Ucraina. Cha của ông làm đốc công thợ sơn ở công
xưởng sản xuất toa xe lửa cho ngành đường sắt. Tuy ông sống trong một gia
đình nghèo khó nhưng những mối quan hệ đều hoà thuận, kín đáo và đượm
một tình yêu thương lớn đoàn kết mọi thành viên trong gia đình, người nào
người nấy đều có những nhiệm vụ phân định rất rõ rệt. Sự ngay thẳng, ý thức
bổn phận, cảm quan về phẩm cách con người là những đức tính mà ông tiếp
thu được ngay từ hồi thơ ấu trong gia đình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
Năm 12 tuổi Makarenko được vào học một trường cao đẳng tiểu học là

điều động vào công tác giáo dục lại những trẻ em hư, đưa chúng trở lại cuộc
sống bình thường và trở thành những người công dân tốt đóng góp vào công
cuộc xây dựng xã hội mới.
Năm 1920, ông được lệnh của ti giáo dục Pontava giao cho tổ chức một
cái trại để dạy dỗ những đứa trẻ phạm tội. Từ đó, ông thôi làm hiệu trưởng
trường cao đẳng tiểu học mà nhận nhiệm vụ làm giám đốc trại giáo dục trẻ vị
thành niên phạm pháp – trại sau này được gọi là “Trại lao động Gorki”. Đây
cũng chính là nơi ông bắt đầu sự nghiệp giáo dục lại của mình.
Những ngày đầu ở trại là thời gian căng thẳng và bất lực, cơ sở vật chất
thiếu, nhân lực hầu như không có. Nhưng đó cũng là những ngày mà ông tìm
đọc nhiều sách sư phạm, nghiên cứu tìm tòi những phương pháp, hướng đi
cho riêng mình – xây dựng lý luận từ thực tiễn hoạt động mà ông và các nhà
giáo dục đang tiến hành.
Ngày 4/12/1920, sáu trẻ nuôi đầu tiên được đưa đến trại với những
thành tích phạm pháp đáng sợ - ăn cướp có vũ khí. Chúng bước chân vào trại
với thành tích như vậy cho nên chúng rất tự do, coi khinh những người quản
lý, thô lỗ, tục tĩu và lười biếng. Trước tình hình như vậy đặt Makarenko vào
một tình huống rất khó khăn hầu như tuyệt vọng.
Cuối cùng sau bảy năm với cương vị là giám đốc trại ông đã trải qua
biết bao khó khăn, tuy nhiên nhờ có những phương pháp giáo dục đầy sáng
tạo, ông đã thành công một cách vẻ vang và đưa trại trở thành một cơ sở giáo
dục kì diệu.
Năm 1926, ông đưa 120 trẻ ở trại Gorki họp với 280 trẻ em mới ở
Cu-ri-a-giơ, gần Kharkop, thành một trại có 400 trẻ: 300 nam và 100 nữ.
[15.Tr.175].
Năm 1927, ông phải bỏ trại giáo dục ở Cu-ri-a-giơ để đến nhận trách
nhiệm tại một cơ sở giáo dục khác gọi là Công xã F.Dzerjinski. Từ năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11

trên đỉnh tháp” và ông có viết một tác phẩm mang tên “Sách dành cho các bậc
cha mẹ” Trong những tác phẩm đó ông đã nêu lên những tư tưởng giáo dục
của mình, mang đậm chủ nghĩa nhân đạo, tình yêu thương con người và tin
tưởng vào sự tiến bộ của con người.
Toàn bộ bộ sự nghiệp thực tiễn và lý luận giáo dục của Makarenko là
một bài ca sư phạm vĩ đại, thấm đượm tình người cộng sản, có tính chiến đấu
cao và mang ý nghĩa thời đại sâu sắc.
Ngày 1/4/1939 vì bệnh đau tim, ông đột ngột từ trần trên chuyến tàu đi
từ một nơi an dưỡng của các nhà văn ở gần Mạc tư khoa về thủ đô. Tuy nhiên
những gì ông để lại cho nhân loại là một hệ thống những quan điểm giáo dục
đậm tính nhân văn mà đến ngày nay chúng ta vẫn đang tiếp tục tìm hiểu và
vận dụng nó một cách hiệu quả trong công tác giáo dục nói chung và giáo dục
lại nói riêng.
Như vậy, cuộc đời và sự nghiệp giáo dục của A.X.Makarenko là một
chuỗi dài những hoạt động nghiên cứu và thực hành giáo dục có hiệu quả.
Ông đã chứng minh sự đúng đắn trong giáo dục của mình bằng thực tiễn công
tác giáo dục trẻ em vị thành niên vi phạm pháp luật tại trại Gorki và Công xã
Dzerjinski. Điều đó cho thấy những di sản giáo dục của ông có tính khách
quan đúng đắn và khoa học, nó có thể được vận dụng có hiệu quả trong công
tác giáo dục nói chung và giáo dục lại nói riêng trên toàn thế giới.
1.3 Quan điểm giáo dục về chủ nghĩa nhân đạo của A.X.Makarenko
Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì chủ nghĩa nhân đạo
được hiểu như sau: “Chủ nghĩa nhân đạo là hệ thống quan điểm coi trọng
nhân phẩm, yêu thương con người, coi trọng quyền của con người được phát
triển tự do, coi lợi ích của con người là tiêu chuẩn đánh giá quan hệ xã hội” [
16. Tr.278 ]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa là tư tưởng văn hóa của nhân loại,

quan điểm về chủ nghĩa nhân đạo của Makarenko. Trước hết đó là cái nhìn,
cách đánh giá đúng đắn đối với con người, nhất là con người trong trường hợp
phạm tội bất hạnh. Makarenko cho rằng “không có thái độ đúng đắn, khoa
học đối với con người thì cũng có nghĩa là không có được điều kiện chủ quan
cơ bản để thành công trong công tác giáo dục” [22. Tr.13]. Theo ông, mọi tội
lỗi ở con người đều không phải là hiện tượng bẩm sinh. Tội lỗi ở con người
phản ánh tội lỗi của xã hội. Tội lỗi ở người lớn đã như vậy, tội lỗi ở trẻ em lại
càng như vậy. Chính vì thế Makarenko đã nhiều lần nói rằng, ông không đồng
ý dùng từ “Trẻ hư” với nghĩa bản chất của nó như thế, mới sinh ra nó đã như
thế. Ông cho rằng trong trường hợp ấy, “trẻ hư” là tên gọi vô nghĩa. [11. Tr.5]
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác về quy luật hình thành và
phát triển nhân cách, về sự làm lại, rèn lại nhân cách trong quá trình con
người tham gia tích cực vào hoạt động cải tạo xã hội. Makarenko đã đấu tranh
không khoan nhượng với các quan niệm và học thuyết phản khoa học trong
giáo dục, điển hình là phái nhi đồng học. Họ đề cao ảnh hưởng của di truyền
và môi trường một cách giáo điều, máy móc, hạ thấp giá trị của giáo dục, làm
cho các nhà giáo dục không tin vào trẻ em. Makarenko đã chứng minh bằng
những thành công xuất sắc trong hoạt động giáo dục thực tiễn một mệnh đề
quan trọng: Trẻ hư, khi có quá trình phấn đấu tốt có thể trở thành người bình
thường (với nghĩa là được đánh giá trung bình về mặt tư tưởng, chính trị đạo
đức) và người tốt được.
Makarenko đã chứng minh bằng cả thực tiễn lẫn lý luận rằng, trong
thực tế, không hề có một ranh giới tuyệt đối giữa những người được gọi là
bình thường với những người hư. Ranh giới ấy là tương đối. Một người tốt
hôm nay, ngày mai có thể là một người xấu thực sự, nếu quá trình phấn đấu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
rèn luyện ở anh ta không còn nữa. Ngược lại, một người hôm nay bị xếp vào
hạng xấu, kém, nếu biết và có quyết tâm phấn đấu làm lại cuộc đời, ngày mai

sẽ cất ngay vào tủ. Các đồng chí đến thẳng với các em, gần gũi giúp đỡ các
em học tập, lao động, sống tập thể. Khi nào các đồng chí đã trở thành người
gần gũi với các em rồi, các đồng chí hãy đọc thêm hồ sơ của các em. Lúc ấy
các đồng chí thấy việc đọc hồ sơ sẽ làm cho các đồng chí yêu mến các em
hơn.” [11. Tr.18-19].
Những kinh nghiệm và những biện pháp giáo dục của Makarenko đã
được những nhà giáo dục trong trại Gorki áp dụng một cách rộng rãi, công tác
giáo dục tại trại Gorki từ đó đã trở nên sâu sắc hơn. Điều đó trở thành một
trong hàng loạt những biện pháp giáo dục có tác dụng khơi dậy những yếu tố
tích cực trong nhân cách của học sinh, phát huy được tính năng động chủ
quan của các em trong quá trình học tập, lao động và xây dựng tập thể, đồng
thời những biện pháp giáo dục đó có tác dụng chống lại lối giáo dục cửa
quyền, xúc phạm nhân cách của các em.
Theo dòng tư tưởng giáo dục như vậy, Makarenko và tập thể các nhà
giáo dục của trại đã phấn đấu đề cuối cùng chấm dứt hiện tượng nhắc lại quá
khứ bất hạnh của trẻ trước mặt các em. Ông và các nhà giáo dục coi đó như là
một sai lầm trong việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng nhân cách của các em.
Cách đánh giá về con người của ông còn được duy trì trong suốt quá
trình giáo dục trẻ em. Trong công tác giáo dục của mình, Makarenko thường
xuyên làm công việc đánh giá học sinh, nhất là sau những đợt thử thách,
những đợt thi đua. Như vậy đánh giá học sinh không chỉ để khẳng định học
sinh đã đạt những gì mà còn có tác dụng giúp học sinh tự nhận thức về bản
thân mình một cách chính xác hơn, tự đánh giá mình đúng đắn hơn và có kế
hoạch hành động sát hợp hơn.
Như vậy, trong quan điểm về chủ nghĩa nhân đạo của Makarenko thì
việc đánh giá con người trở thành một vấn đề quan trọng. Nhìn nhận con
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
người một cách khách quan và khoa học, không được phép duy trì những định

Thực chất việc giáo dục của ông là ông đã tổ chức các hoạt động cho
học sinh của mình một cách phù hợp, giúp các em được học tập, lao động và
tham gia những hoạt động của tập thể từ đó giúp các em phát huy hết
những năng lực của mình, cùng nhau học tập và rèn luyện thành những người
công dân có ích cho xã hội. Vấn đề này được thể hiện trong những tác phẩm
nổi tiếng của ông như “Bài ca sư phạm” và “Những ngọn cờ trên tháp”. Ở
trong các tác phẩm đó, chúng ta thấy tồn tại một tập thể chính thức, họ hoạt
động trong nhiều lĩnh vực như học tập, lao động sản xuất, rồi những cuộc hội
họp của tập thể Họ sống một cách thoải mái và hăng say trong mọi công
việc. Đó chính là thể hiện quan điểm về chủ nghĩa nhân đạo của Makarenko,
nó xuất phát từ tình yêu thương con người của ông. Chính tình yêu thương
con người là động lực giúp ông hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục mà nhà
nước Xô viêt giao phó, trong suốt mười sáu năm hoạt động giáo dục ông
không có thời gian lo cho bản thân, không nghỉ phép mà ông dành hoàn toàn
những thời gian đó cho các em, mong muỗn uốn nắn các em thành những
công dân có ích.
Trong cách đánh giá con người ông cũng đã thể hiện tình yêu thương
của mình với các em. Ông cảm thông với các em, với những lỗi lầm của các
em. Theo ông, không có kẻ phạm pháp nào hết, chỉ có những người rơi vào
hoàn cảnh khó khăn. “Tôi hiểu rất rõ rằng nếu thời thơ ấu, tôi cũng rơi vào
một hoàn cảnh như vậy thì tôi cũng trở thành một người như các em. Và bất
kì một đứa trẻ nào bị ném ra đường phố, không có người giúp đỡ, không có
xã hội, không có tập thể, không có bạn bè, không có kinh nghiệm, không có
tương lai, thần kinh lại bị kiệt sức và mệt mỏi Mọi đứa trẻ bình thường
cũng sẽ xử sự như các em đó” [22.Tr.15].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
Chính tình yêu thương con người đã giúp ông kiên trì và sáng tạo trong
cuộc suốt quá trình hoạt động cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và cải tạo trẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status