Thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật ở Trung tâm Giáo dưỡng số 2 Ninh Bình - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HOC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NGỌC LINH

THỰC TRẠNG TRẺ EM VI PHẠM PHÁP LUẬT
Ở TRUNG TÂM GIÁO DƯỠNG SỐ 2 NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC HÀ NỘI - 2013

HÀ NỘI 2013 MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN 1 3
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
2.1. Mục đích nghiên cứu: 4
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: 4
3. Đối tƣợng, Khách thể, Phạm vi nghiên cứu 4
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu: 4
3.2. Khách thể nghiên cứu: 4
3.3. Phạm vi nghiên cứu: 5
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
4.1. Cách tiếp cận: 5
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu: 5
5. Câu hỏi nghiên cứu 6
6. Giả thuyết và khung lý thuyết nghiên cứu 6
6.1. Giả thuyết nghiên cứu: 6
6.2. Khung lý thuyết 7
PHẦN 2. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu. 8
1.2. Các khái niệm công cụ 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
DANH MỤC HÌNH
Biểu đồ số 1. Cơ cấu tội phạm do trẻ em thực hiện 34
Biểu đồ số 2. Cơ cấu tội phạm trẻ em giai đoạn 2005 - 2007 34
Biểu đồ số 3. Cơ cấu hành vi vi phạm pháp luật của trẻ em ở trung tâm giáo
dƣỡng số 2 40
Biểu đồ số 4. Cơ cấu lứa tuổi của trẻ em vi phạm pháp luật ở trung tâm giáo
dƣỡng số 2 41
Biểu đồ số 5. Hoàn cảnh của gia đình trẻ em vi phạm pháp luật trung tâm giáo
dƣỡng số 2. 43
Biểu đồ số 6. Cơ cấu trẻ em vi vi pháp luật theo giới tính ở trung tâm giáo
dƣỡng số 2 44
Biểu đồ số 7: Mối quan hệ của trẻ em vi phạm pháp luật với những ngƣời thân
trong gia đình ở trung tâm giáo dƣỡng số 2 52
Biểu đồ số 8. Mức độ trẻ em vi phạm pháp luật bị cha mẹ đánh, mắng ở trung
tâm giáo dƣỡng số 2 54
Biểu đồ số 9. Mức độ hứng thú với việc đi học ở trẻ em vi phạm pháp luật
(trƣớc khi vào trƣờng giáo dƣỡng số 2) 59
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Cơ cấu hành vi vi phạm pháp luật trẻ em qua các năm - Khảo sát tại
trung tâm giáo dƣỡng số 2. 40
Bảng 2.2. Giới tính trẻ em vi phạm pháp luật ở trung tâm giáo dƣỡng số 2 44
Bảng 3.1. Các nội dung giáo dục của cha mẹ với trẻ em ở trung tâm giáo dƣỡng số 2 48
Bảng 3.2. Các hành vi lệch chuẩn ở trẻ em vi phạm pháp luật ở trung tâm giáo

tượng, áp dụng các biện pháp khác 11.677 đối tượng. Chỉ trong 7 tháng đầu năm
2007, đã có 33.284 trường hợp thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên bỏ học, bỏ nhà
đi lang thang, có nguy cơ vi phạm pháp luật [32]. Những số liệu trên đã nói lên tầm
quan trọng của việc đánh giá đúng mức vấn đề trẻ em vi phạm pháp luật và từ đó có
những giải pháp thích hợp.
Cùng với gia đình, xã hội ngày nay luôn dành nhiều sự quan tâm đến việc
giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên. Đó là trách nhiệm của nhà
trường, của các tổ chức đoàn thể xã hội, của các cơ quan quản lý an ninh và trật tự
xã hội. Nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình,
nhà trường và xã hội, chắc chắn chúng ta sẽ đẩy lùi được những tệ nạn trong lối
sống của lứa tuổi trẻ em. Muốn vậy, việc giáo dục đạo đức, pháp luật cho học sinh
phải được quan tâm và đầu tư đúng mức, đồng thời, với vai trò là một ngành, một

4
nghề có chức năng khắc phục, chữa trị các khiếm khuyết xã hội, công tác xã hội và
hệ thống cán bộ công tác xã hội rất cần phải được cung cấp các kỹ năng, phương
pháp làm việc, giúp đỡ các đối tượng trẻ em vi phạm pháp luật vươn lên hoà nhập
cộng đồng. Vì vậy, với việc thực hiện đề tài: "Thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật
ở Trung tâm Giáo dưỡng số 2 Ninh Bình" sẽ cung cấp tư liệu có tính định hướng,
phục vụ công tác đào tạo giáo viên giảng dạy giáo dục công dân và cán bộ công tác
xã hội tại nhiều trường Cao đẳng, Đại học hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật hiện nay tại cơ sở, chỉ ra các
yếu tố ảnh hưởng tới việc trẻ em vi phạm pháp luật, từ đó nghiên cứu đề xuất một
số khuyến nghị và giải pháp về công tác giáo dục tại trung tâm giáo dưỡng số 2,
trong nhà trường, công tác đào tạo giáo viên dạy giáo dục công dân và cán bộ công
tác xã hội cho đối tượng đặc biệt này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
 Tiến hành khảo sát để thu thập được hệ thống các thông tin về thực trạng trẻ

trẻ em vi phạm pháp luật.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cách tiếp cận:
Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm tư tưởng của
Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước về giáo dục trẻ em.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp Điều tra bảng hỏi cấu trúc với 200 trẻ em vi phạm pháp luật ở
Trung tâm Giáo dưỡng số 2 Ninh Bình và 20 trường hợp là cán bộ giáo dục tại trung
tâm giáo dưỡng số 2.
Mẫu nghiên cứu của đề tài là học sinh của trung tâm giáo dưỡng số 2 trong
độ tuổi từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi đang được quản lý, nuôi dưỡng, giáo dục và đào
tạo nghề tại trung tâm.
Cụ thể: Theo hành vi phạm tội - 70 trẻ phạm tội trộm cắp, 50 trẻ phạm tội cố
ý gây thương tích, 50 trẻ phạm tội cướp giật, 30 trẻ phạm tội vận chuyển trái phép
chất ma túy.

6
Theo giới tính: 150 trẻ em trai và 50 trẻ em gái = 200 trẻ em
Theo lứa tuổi: 12 tuổi - dưới 14 tuổi là 50 trẻ, 14 đến dưới 16 tuổi là 100 trẻ,
từ 16 đến dưới 18 tuổi là 50 trẻ.
Phương pháp phỏng vấn sâu: được thực hiện với 14 trường hợp; trong đó, 4
trường hợp là cán bộ giáo dục tại cơ sở (1 cán bộ quản lý và 3 cán bộ làm công tác
giáo dục trực tiếp) và 10 trường hợp là học sinh của trường trong số học sinh tham
gia trả lời bảng hỏi cấu trúc.
Phương pháp quan sát được tiến hành quan sát các hành vi, biểu hiện, thái độ
của trẻ em vi phạm pháp luật trong các giờ học tập kiến thức, học nghề và trong lao
động, sinh hoạt tập thể.
Phương pháp phân tích tài liệu: Nghiên cứu các sổ tay của các cán bộ quản lí
ở trường giáo dưỡng, báo cáo thường niên của cán bộ quản lí, các nghiên cứu xã hội
học và tâm lí học xã hội về trẻ em vi phạm pháp luật để thu tập các thông tin cơ bản
Cơ cấu
hành vi
phạm tội
Số lượng
vụ phạm tội
Mức độ,
tính chất
phạm tội
Thực trạng trẻ em
vi phạm pháp luật
Môi trường Chính trị - Văn hóa - Xã hội
- Gia đình
- Nhà trường
- Xã hội (Truyền thông đại
chúng, Tổ chức xã hội: Đoàn,
nhóm bạn bè)

- Đặc điểm tâm, sinh lý
- Giới tính
- Tuổi
- Trình độ



9
ảnh hưởng và chi phối rất lớn đến tâm lý của các em. Cũng như hoạt động chủ đạo
khác, học tập luôn mang đến cho chủ thể của hoạt động này không ít những khó
khăn đặc trưng. Nếu như hoạt động nghề của các bậc phụ huynh có những áp lực về
thời gian hoàn thành công việc, chất lượng công việc thì đối với học sinh các em
cũng có những áp lực về khối lượng bài phải học, điểm số, kì vọng của thầy cô và
cha mẹ đối với kết quả học tập Tất cả những điều này tạo nên một áp lực nặng nề
không kém gì áp lực mà các bậc phụ huynh phải đối mặt trong hoạt động nghề của
mình. Tuy nhiên, không phải ai trong người lớn chúng ta cũng đều hiểu được sức
nặng của các áp lực này đối với các em lớn đến mức nào. Trong đó tác giả nêu ra
cách ứng phó tập trung vào vấn đề: sẵn sàng đương đầu, tìm kiếm chỗ dựa xã hội và
giải quyết vấn đề có kế hoạch. Đối với chiến lược ứng phó tập trung vào điều chỉnh
cảm xúc bao gồm: kiểm soát bản thân, giữ cảm xúc trước tình huống gây stress,
đánh giá lại những điểm dương tính, chấp nhận trách nhiệm và cuối cùng là lảng
tránh, chạy trốn.
Những tác nhân gây stress và cách ứng phó với stress của trẻ em tác giả Đỗ
Thị Hằng [13, tr. 24] qua nghiên cứu 516 học sinh ở các trường THPT và THCS tác
giả đã chỉ hai vấn đề sau đây:
Thứ nhất: chỉ ra 4 tác nhân chính gây stress cho trẻ em đó là học tập, quan hệ
với cha mẹ, bạn bè và trong những tình hống bất thường (đe dọa, bắt nạt, trấn lột ).
Đây là quan điểm trùng với nghiên cứu của tác giả Phan Thị Mai Hương. Tuy
nhiên, tác giả Đỗ Thị Hằng có sự khác biệt khi phân tích tác nhân chính gây stress
đối với học sinh cấp 2 và cấp 3. Cụ thể, tác nhân học tập và các tình huống bất
thường gây stress cho học sinh cấp 2 và cấp 3 cao hơn các tác nhân do quan hệ
trong gia đình và bạn bè gây ra. Đối với học sinh cấp 3 áp lực học tập gây stress cho
các em cao hơn học sinh cấp 2.
Thứ hai: các kiểu ứng phó của trẻ với 4 tác nhân trên và các yếu tố ảnh
hưởng đến cách ứng phó trước các tình huống khó khăn thì trẻ em chủ yếu ứng phó
bằng với các tác nhân gây stress bằng hành động nhiều hơn so với cách ứng phó

ứng - dẫn đến những hành vi tiêu cực không phù hợp với chuẩn mực xã hội.
Trong luận án Tiến sĩ "Nguồn gốc xã hội của việc vi phạm pháp luật ở người

11
chưa thành niên hiện nay" của tác giả Hồ Diệu Thúy (2002) đi sâu vào nghiên cứu
những nhân tố xã hội ảnh hưởng tới những hành vi vi phạm pháp luật của người
chưa thành niên. Theo tác giả ba nhân tố xã hội quan trọng nhất ảnh hưởng đến
hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên là nguồn gốc gia đình, nguồn
gốc nhà trường, nguồn gốc cộng đồng.
Luận án Tiến sĩ "Tội phạm ở tuổi vị thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay" của tác giả Phạm Đình Chi (2005) đã mô tả sâu sắc bức tranh về tình hình
tội phạm vị thành niên, đưa ra những con số báo động. Tác giả nhấn mạnh nguyên
nhân và điều kiện của hiện tượng tội phạm liên hệ mật thiết với các biến cố, các sự
kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa với những khuyết tật làm phát sinh tình
hình tội phạm.
Luận án Tiến sĩ "Tội phạm nữ ở Thành phố Hồ Chí Minh và khả năng tái hòa
nhập của họ" của tác giả Trần Thị Tư Hương đã nêu thực trạng, cơ cấu và các loại
hình tội phạm nữ hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời tìm hiểu quá trình
tái hội nhập của tội phạm nữ và những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái hội nhập
của họ. Những phát hiện và kết quả nghiên cứu đóng góp cho việc hiểu sâu hơn đối
với lĩnh vực xã hội học tội phạm ở Việt Nam nói chung và xã hội học về tội phạm
nữ nói riêng. Nêu sự tác động của một số chính sách đối với phụ nữ và những giải
pháp phòng ngừa, góp phần hạn chế tình hình tội phạm nữ và tăng cường khả năng
tái hội nhập của họ
Ngoài ra, còn có rất nhiều các công tình nghiên cứu ít nhiều đề cập đến giáo
dục gia đình và tình trạng phạm tội thanh thiếu niên như: "Ảnh hưởng của giáo dục
gia đình tới hành vi phạm tội của trẻ em hiện nay"(nghiên cứu trường hợp tại trường
Giáo dưỡng 02 - Ninh Bình) của tác giả Cù Thị Thanh Thủy (2006) cho thấy việc trẻ
em vi phạm pháp luật là do cha mẹ lao vao vòng xoáy kinh tế không có thời gian chăm
sóc, giáo dục con cái, giao phó việc giáo dục con cho các thiết chế khác. Bên cạnh đó,

về mặt độ tuổi, về tính chất nghiêm trọng của trẻ em vi phạm pháp luật. Chúng tôi
đã chọn đề tài nghiên cứu "Thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật ở trung tâm giáo
dưỡng số 2 Ninh Bình với mong muốn góp phần làm hoàn thiện hơn bức tranh vi
phạm pháp luật của trẻ em hiện nay, nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường,
cộng đồng trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em.

13
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Trẻ em

Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em quy định
trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi". Trong khi đó, Công ước của
Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (1989) được Việt Nam phê chuẩn năm 1990 lại xác
định trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó
quy định tuổi thành niên sớm hơn( Điều 1). Như vậy, nếu theo Công ước của Liên
Hợp quốc, thì nhóm tuổi vị thành niên (theo quan niệm mà chúng ta vẫn thường
hiểu xưa nay), hoàn toàn có thể được xếp vào nhóm trẻ em.
Tuy nhiên, trên thực tế thì việc phân nhóm cho các đối tượng dưới 18 tuổi
chỉ có một ý nghĩa tương đối vì trên thực tế, chúng ta không thể tìm được một sự
đồng nhất hoàn toàn giữa các lớp tuổi khác nhau trong nhóm chưa thành niên.
Nhóm nhân khẩu dưới 18 tuổi này lại có thể được phân chia làm nhiều nhóm tuổi
khác xuất phát từ những đặc điểm về sự phát triển thể chất, nhận thức cũng như tâm
sinh lý riêng của mỗi nhóm. Chẳng hạn xưa nay các nhà giáo dục thưòng nói đến
những nhóm như trẻ sơ sinh, nhóm nhà trẻ, mẫu giáo, nhóm nhi đồng, nhóm thiếu
niên, nhóm vị thành niên Trẻ em là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của
mỗi con người. Đây là giai đoạn đánh dấu sự thay đổi cả về thể chất, tâm lý cũng
như năng lực nhận thức.
Mặt khác, cũng khó có thể chỉ lấy các tiêu chí về tuổi đời để phân biệt vị
thành niên với những nhóm xã hội khác. Mỗi đứa trẻ lại lớn lên trong những môi
trường sống, được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trong những điều kiện vật chất

một cách thuyết phục và rõ ràng về khái niệm vị thành niên. Còn rất nhiều vấn đề
cần phải được phân tích sâu và làm rõ hơn. Chẳng hạn, cần phải chọn những tiêu
chí nào để xác định rõ hơn về lứa tuổi vị thành niên. Nếu là về tuổi đời thì nên bắt
đầu từ tuổi nào và giới hạn tiếp theo tới tuổi nào. Nếu là xuất phát từ những đặc
trưng về sự phát triển thể chất thì nên bắt đầu từ sự đo lường về chiều cao, cân nặng
hay từ những yếu tố phát triển tự nhiên mang tính y sinh học nào khác. Nếu lấy các
yếu tố về những sự phát triển tâm lý, nhận thức, tình cảm hoặc lối sống, nhân cách
v.v thì vấn đề lại càng trở nên phức tạp hơn nhiều.

15
Thực tế đã cho thấy, trong nhiều loại văn bản pháp luật hiện nay, khi điều
chỉnh các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, chúng ta đã có những quy định
không giống nhau về khái niệm, độ tuổi và phạm vi áp dụng luật đối với người chưa
thành niên và trẻ em.
Điều 20 Bộ luật Dân sự Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (có hiệu
lực 1/7/1996) cũng quy định rằng :" Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành
niên"; Điều 22 quy định năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên là từ đủ
6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi và đồng thời cũng lại quy định trường hợp người từ đủ
15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.
Bộ luật Hình sự của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc
hội thông qua ngày 21/12/ 1999, tại chương X Điều 68 quy định" Người chưa thành
niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của
chương này ", tiếp đó Điều 69 khoản 5 lại có sự phân biệt trách nhiệm hình sự của
người chưa thành niên đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, ở các điều luật sau, Bộ luật Hình sự lại quy định người chưa thành
niên có độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi ( khoản 4 Điều 111, khoản 4 điều 113)
; trẻ em có độ tuổi từ dưới 16 tuổi ( khoản 1,4 Điều 112; khoản 1 Điều 114,
khoản 1 Điều 115).
Trong khi đó, trên khía cạnh những vấn đê về lao động và việc làm, Bộ luật
lao động của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (23/6/1994) lại có sự quy

nhận một điều là dù có mở rộng phạm vi tuổi vị thành niên đến mức nào thì nhóm
tuổi mang đầy đủ trong nó những đặc trưng đặc thù nhất của vị thành niên vẫn
là nhóm tuổi từ 12 đến 18 tuổi. Bởi trong lứa tuổi này, cái đặc trưng của một vị
thành niên là “một đứa trẻ trong một thể chất thanh niên, hoặc một thanh niên
có nhận thức và tình cảm của trẻ nhỏ ” mới biểu lộ đầy đủ nhất.
1.2.2. Vi phạm pháp luật
Trong khoa học pháp lý, hành vi vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi nguy
hiểm đáng kể cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ.
Như vậy, một hành vi được coi là vi phạm pháp luật khi thoả mãn đầy đủ tất

17
cả các dấu hiệu của vi phạm pháp luật. Các dấu hiệu này được thể hiện đầy đủ trong
khái niệm nêu trên, thiếu một dấu hiệu hành vi của chủ thể không được coi là cấu
thành vi phạm pháp luật.
1.3.3. Trẻ em vi phạm pháp luật
Thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật đang là vấn đề bức xúc của nhiều xã hội
hiện nay. Vì thế, trong Bộ luật của mỗi nước đều có những quy định cụ thể đối với
trẻ em vi phạm pháp luật.
Cụ thể: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự ở Bănglađét là 7 tuổi, ở Myanma là 7 tuổi,
Thái Lan là 7 tuổi, ở Mĩ là 7 tuổi, ở Anh là 10 tuổi, Hàn Quốc là 12 tuổi, Trung Quốc 14
tuổi, Nhật Bản là 14 tuổi, Nga 14 tuổi, Ai cập 15 tuổi, Peru là 18 tuổi [1, tr 65]
Trên thực tế, không phải lúc nào chúng ta cũng dễ dàng nhận ra hành vi nào
là vi phạm pháp luật. Những hành vi đó có thể là hành vi lệch chuẩn nhưng chưa đạt
ngưỡng của vi phạm pháp luật. Trong khoa học pháp lý, để xác định một hành vi
được coi là vi phạm pháp luật cần phải hội tụ đầy đủ các dấu hiệu sau:
Trước hết, vi phạm pháp luật bao giờ cũng phải là hành vi, đó là những gì
biểu hiện ra bên ngoài của con người dưới dạng hành động hoặc không hành động.
Tuy nhiên, nếu hành vi biểu hiện cụ thể đó mà không chứa đựng yếu tố nguy
hiểm một cách đáng kể cho xã hội thì cũng không bị coi là vi phạm pháp luật.

Nam, năm 1999. Đây là những hành vi có tính chất nguy hiểm cao cho xã hội. Vì
vậy, chỉ những hành vi nguy hiểm do cá nhân có đủ độ tuổi và khả năng nhận thức
thực hiện, đã được xác định trong Bộ luật Hình sự, mới bị coi là tội phạm.
Những phân tích trên cho thấy, các khái niệm trẻ em làm trái pháp luật, trẻ
em vi phạm pháp luật và trẻ em phạm tội có những điểm khác nhau cơ bản. Trong
đó, hành vi làm trái pháp luật là khái niệm rộng nhất, bao hàm tất cả những hành vi
không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các yêu cầu của pháp luật.
Hành vi trái pháp luật chỉ bị coi là vi phạm pháp luật khi nó chứa đựng đầy đủ các
dấu hiệu của một hành vi vi phạm pháp luật. Một hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị
coi là tội phạm khi hành vi đó xâm phạm đến các quan hệ xã hội mà luật Hình sự
bảo vệ, được quy định cụ thể trong phần các tội phạm, từ chương XI đến chương
XXIV của Bộ luật Hình sự năm 1999. Những hành vi này phải do người có năng

19
lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Năng lực trách nhiệm
hình sự được xác định dựa vào hai yếu tố: khả năng nhận thức, điều khiển hành vi
và độ tuổi. Độ tuổi bắt đầu phải gánh chịu trách nhiệm hình sự theo quy định là từ
14 tuổi: "Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng". [30]
Do quy định của pháp luật về độ tuổi, tuỳ từng trường hợp, hành vi trái pháp
luật mà trẻ em thực hiện được coi là tội phạm hay là hành vi vi phạm pháp luật
khác. Nhưng cũng có thể hành vi đó chỉ đơn giản là hành vi thực hiện không đúng,
không đầy đủ các yêu cầu của pháp luật mà không phải là hành vi trái pháp luật của
bất cứ ngành luật nào. Như vậy, những hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội
được Bộ luật Hình sự năm 1999 bảo vệ do người không có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện có thể chỉ thuộc về các trường hợp còn lại của hành vi làm trái
pháp luật hoặc vi phạm các quy định của các ngành luật khác mà thôi.
Vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật ở trẻ em nói riêng là lĩnh
vực khá phức tạp, bởi lẽ, đây là việc đánh giá hành vi của con người. Sự đánh giá

vi phạm pháp luật - giới hạn của hành vi được coi là vi phạm pháp luật ở trẻ em
cũng ở mức độ thấp hơn so với người lớn. Khi đánh giá về một hành vi lệch chuẩn,
người ta thường căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi; sự thiệt hại do hành vi
gây ra và chủ thể thực hiện hành vi. Cũng cùng là một hành vi, nhưng nếu hành vi
do trẻ em thực hiện thì thường có cách nhìn nhận nhẹ nhàng và độ lượng hơn.
Ngược lại, nếu hành vi đó do người lớn thực hiện thì lại được coi là hành vi vi phạm
pháp luật, thậm chí là tội phạm. Điều này là do trẻ em chưa phải là những người
phát triển đầy đủ về mặt thể chất và nhận thức nên chưa có ý thức đầy đủ về hành vi
của mình, chưa xác định được ranh giới giữa cái sai lệch với cái bình thường. Quan
niệm về giới hạn của hành vi bị coi là trái pháp luật là khác nhau, thậm chí còn đa
dạng ở mỗi tầng lớp. Bởi vậy, cần phải nâng cao nhận thức pháp luật, những hiểu
biết về tâm sinh lý của trẻ em, từ đó có phương pháp giáo dục và định hướng tốt cho
hành vi ở ở trẻ.
Về bản chất hành vi, nhiều trường hợp trẻ em thực hiện những hành vi vi

21
phạm pháp luật có mức độ táo bạo và nguy hiểm còn cao hơn so với người lớn như:
giết người, hiếp dâm một cách có tổ chức. Song, do trẻ em chưa phát triển đầy đủ
về mặt nhận thức, nên quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý đối với
những hành vi của trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em vi phạm pháp luật luôn hướng
tới mục tiêu giáo dục hơn là sự trừng trị đối với những hành vi đó. Bộ luật Hình sự
dành riêng chương X để quy định những nguyên tắc và hình thức xử lý đối với
người chưa thành niên phạm tội. Trong đó, có những nguyên tắc rất cơ bản như:
"việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục giúp đỡ họ sửa
chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong
mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành
niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ
về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện
gây ra tội phạm"
i


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status