1
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
cao minh huệ TR V THNH NIấN Cể HNH VI LCH CHUN
TIP CN DI GểC CễNG TC X HI
LUậN văn thạc Sỹ
Chuyờn ngnh: Cụng tỏc xó hi
Hà NộI - 2014
2
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
cao minh huệ TR V THNH NIấN Cể HNH VI LCH CHUN
TIP CN DI GểC CễNG TC X HI
phạm tội chưa thành niên trong những năm qua rất phức tạp, tăng cả số lượng,
tính chất và mức độ nghiêm trọng.
Ở trường giáo dưỡng số 2 Ninh Bình, các em chưa thành niên là những
học sinh “đặc biệt” phải nhập trường bằng hồ sơ thụ án pháp nhân, bằng
những dấu vân tay, thầy cô là những người quản giáo nghiêm khắc… Đặc
điểm nổi bật của những học sinh ở đây là nhận thức hạn chế, có hành vi lệch
chuẩn ở mức độ cao là vi phạm pháp luật, đa số các em vi phạm pháp luật
nhiều lần như: trộm cắp, quậy phá, sa vào tệ nạn xã hội, nghiện ma túy, cờ
bạc và nhiều thói quen xấu. Một số em thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội
phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý như: giết người, cướp
tài sản, hiếp dâm trẻ em nhưng do chưa đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
4
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc trẻ chưa thành niên phạm tội,
nhưng trong đó quan trọng nhất là việc giáo dục hành vi của trẻ vị thành niên
chưa được quan tâm đúng mức, cần được xã hội nói chung và ngành giáo dục
nói riêng thực sự chú trọng. Chính vì vậy, người nghiên cứu đã chọn đề tài:
“Trẻ vị thành niên có hành vi lệch chuẩn tiếp cận dưới góc độ công tác xã
hội (Nghiên cứu trường hợp tại trường giáo dưỡng số 2 Ninh Bình)” là đề
tài nghiên cứu của mình, góp phần là yếu tố tác động vào sự hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện của trẻ vị thành niên.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu nước ngoài
Vấn đề trẻ em phạm tội với những đặc trưng tâm lý, nhân cách đã được
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.
Theo David P.Farrington (1996), tính hiếu động và tính hay bốc đồng
là những nét tính cách quan trọng nhất của trẻ giúp cho việc phán đoán khả
năng phạm tội sau này. Ông đã tiến hành điều tra tại Thụy Điển cho thấy, các
em học sinh bị giáo viên nhận xét là hiếu động ở độ tuổi 13 thì thường phạm
các tội có sử dụng bạo lực cho đến độ tuổi 26. Ngoài ra ông còn tiến hành
xem là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đối với hành vi phạm tội của người chưa
thành niên. Tiêu biểu cho quan điểm này phải kể đến các tác giả như V.M
Koromosikov, Margot Prior (2000), Rutter Giller (1983) và Sarnecki (1985).
2.2. Nghiên cứu trong nước
Tác giả Phạm Minh Đức (1981) đã tiến hành nghiên cứu 265 học sinh
có hành vi lệch chuẩn ở độ tuổi từ 10-17, học tại hai trường phổ thông công -
nông nghiệp. Theo tác giả các em học sinh phạm pháp nói chung phát triển
bình thường về mặt trí tuệ nhưng do động cơ học tập bị suy thoái, nhu cầu
nhận thức thấp, nhu cầu tầm thường khác cao nên dẫn đến hành vi phạm tội
của các em.
Tác giả Nguyễn Xuân Thủy (1993) đã khẳng định rằng [30], người
chưa thành niên phạm tội về cơ bản cũng có những đặc điểm tâm lý như
những trẻ em bình thường khác cùng lứa tuổi. Song, do tiếp xúc thường
6
xuyên với những điều kiện tiêu cực và trong quá trình phạm tội mà nhân cách
của các em bị giảm sút nghiêm trọng
Theo tác giả Trần Trọng Thủy [31], ở phần lớn các thiếu niên phạm
pháp, phẩm chất tiêu cực chiếm ưu thế trong cấu trúc nhân cách, đó là: thiếu
quyết tâm, vô trách nhiệm, hay bắt chước một cách mù quáng, thô lỗ, gây gổ.
Trong quá trình nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Duy Xi là một nhà
tâm lý học làm công tác quản lý trại giam của Bộ Công An đã đưa ra một số
nhận xét cơ bản về đặc điểm tâm lý của trẻ em làm trái pháp luật như sau [19]:
- Về trí tuệ, ở trẻ làm trái pháp luật có sự phát triển chậm, tư duy trừu
tượng kém hơn trẻ bình thường, không biết phân tích đánh giá đúng một số
hiện tượng mà nặng về tư duy cụ thể thực dụng và rất khéo léo “mưu trí”
trong thực hiện hành vi trái pháp luật như kỹ xảo ăn cắp, móc túi, che dấu, đối
phó với sự theo dõi phát hiện của nhà chức trách”
- Về hứng thú, ham muốn của các em thường nặng về vật chất tầm
thường, thấp hèn, thậm chí kỳ quặc. Các em không còn hứng thú học tập, hiểu
mới đây của Bộ Công an cũng chỉ ra nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành
niên xuất phát từ gia đình: 8% trẻ phạm tội có bố mẹ ly hôn, 28% phàn nàn bố
mẹ không đáp ứng nhu cầu cơ bản của các em, 49% phàn nàn về cách đối xử
của bố mẹ.
Các kết quả thống kê đã chỉ ra rằng, đa số các trường hợp làm trái pháp
luật ở trẻ em đều rơi vào khoảng độ tuổi từ 14 đến dưới 18 tuổi, một số ít
trường hợp rơi vào lứa tuổi từ 13 tuổi trở xuống. Vì vậy, tìm hiểu về tâm lý
trẻ em làm trái pháp luật, ngoài việc nghiên cứu tâm lý trẻ vị thành niên nói
chung, chúng ta sẽ tập trung nghiên cứu và lý giải các hiện tượng tâm lý ở lứa
tuổi 14 đến dưới 18 là lứa tuổi tập trung nhiều nhất các hành vi làm trái pháp
luật ở trẻ em.
Theo tác giả Trần Thị Minh Đức [6, Tr.31,32] người chưa thành niên
có hành vi vi phạm pháp luật thường thuộc nhóm trẻ em chưa ngoan. Các đặc
điểm tâm lý nổi trội là:
- Lệch lạc trong nhận thức về hành vi vi phạm: Đó là những sai lệch về
8
tư duy, kiểu suy nghĩ ủng hộ cho hành vi vi phạm xã hội hay chống đối xã hội
của trẻ (các hành vi này thường thể hiện qua cơ chế biện minh, hợp lý hóa).
Các lệch lạc trong suy nghĩ ăn sâu, bám rễ trong nhận thức và được lặp đi lặp
lại trong hành vi trở thành thói quen hành động của trẻ. Các lệch lạc trong
nhận thức thường thể hiện ở các mức độ sau:
+ Nói giảm nhẹ hành vi vi phạm của mình để người nghe chấp nhận
được: “Cháu chỉ lấy mỗi một cái bánh thôi”, “Vì cháu đói”, “Chúng cháu
chỉ giả vờ chơi vợ chồng thôi”, “Cháu chỉ đánh nó mấy cái”
+ Chối bỏ trách nhiệm về hành vi của mình: “Không phải là lỗi của
cháu”, “Cháu không biết”, “Nó bảo cháu làm thế thì cháu làm, còn bán được
bao nhiêu thì cháu không biết”
+ Niềm tin về sở hữu, khi cho rằng mình có quyền đối với tài sản của
người khác: “Cháu chỉ mượn đi tạm thôi”, “Nếu cháu không được thì họ
cho tôi hướng đến việc nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến trẻ vị
thành niên có hành vi lệch chuẩn và hướng đến những giải pháp giúp cha mẹ
và giáo viên tiếp cận gần hơn với các em để hiểu và giảm thiểu những hành vi
lệch chuẩn đó.
3. Ý nghĩa nghiên cứu
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng
định môi trường gia đình không thuận lợi và nhóm bạn bè tiêu cực có ảnh
hưởng rất lớn tới hành vi phạm tội của người chưa thành niên. Tuy nhiên
những nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân dẫn tới hành vi lệch chuẩn của
trẻ vị thành niên, tâm lý và nhu cầu của các em trong trường giáo dưỡng số 2
còn chưa nhiều. Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này là rất cần thiết
và có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
3.1. Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý
luận về trẻ vị thành niên có hành vi lệch chuẩn. Đặc biệt, luận văn nghiên cứu
sâu vào cơ sở giáo dưỡng số 2 Ninh Bình, củng cố thêm những kiến thức về
cơ sở và trẻ vị thành niên đang theo học tại cơ sở đó.
3.2. Về mặt thực tiễn:
10
- Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về nhu cầu của trẻ vị
thành niên và thực trạng, nguyên nhân dẫn đến hành vi lệch chuẩn của trẻ vị
thành niên, vai trò người Nhân viên công tác xã hội đối với trẻ vị thành niên
có hành vi lệch chuẩn.
- Luận văn cũng góp phần bổ sung nguồn học liệu, làm tài liệu tham
khảo cho sinh viên ngành công tác xã hội về những vấn đề có liên quan đến
trẻ vị thành niên nói chung và trẻ có hành vi lệch chuẩn nói riêng:
+ Là nguồn học liệu cho học phần Công tác xã hội với trẻ em
+ Tài liệu tham khảo với các trường giáo dưỡng.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Trẻ vị thành niên có hành vi lệch chuẩn
7. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
7.1 Mục đích nghiên cứu: Mô tả thực trạng, chỉ ra các nguyên nhân
dẫn đến trẻ vị thành niên có hành vi lệch chuẩn và nhu cầu của trẻ có hành vi
lệch chuẩn tại trường giáo dưỡng số 2 Ninh Bình. Trên cơ sở đó, đưa ra một
số gợi ý nhằm giúp quản giáo có thể dễ dàng tiếp cận trẻ và định hướng hành
vi tích cực cho trẻ trong cuộc sống.
7.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.2.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về: nhu cầu, đặc điểm tâm sinh
lý của trẻ vị thành niên, hành vi, đặc điểm hành vi của trẻ vị thành niên…
7.2.2 Khảo sát thực trạng: Thông qua điều tra bằng bảng hỏi, phỏng
vấn sâu, mô tả hình thức lệch chuẩn để đưa ra thực trạng và nguyên nhân dẫn
đến hành vi làm trái pháp luật của trẻ vị thành niên tại trường giáo dưỡng số 2
Ninh Bình.
7.2.3 Đưa ra kết luận và khuyến nghị: Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra
những khuyến nghị và giải pháp đối với nhân viên công tác xã hội làm việc
với trẻ vị thành niên có hành vi lệch chuẩn tại trường giáo dưỡng và tại địa
phương nơi trẻ cư trú. 12
8. Giả thuyết nghiên cứu
- Nhóm trẻ vị thành niên trộm cắp, cướp tài sản, cố ý gây thương tích,
gây rối, giết người, hiếp dâm … thường có những biểu hiện tiêu cực, quản
giáo rất khó khăn trong tiếp cận và trợ giúp trẻ.
- Trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình, ảnh hưởng của bạn bè xấu và
đặc trưng tâm lý lứa tuổi là nguyên nhân và yếu tố tạo nên sự khác biệt về
hành vi lệch chuẩn của trẻ vị thành niên.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
9.1 Phương pháp phân tích tài liệu: sử dụng phương pháp phân tích, so
+ Còn cha mẹ và hiện đang chung sống: 75 em, chiếm 75%
+ Cha mẹ ly hôn hoặc bỏ đi: 19 em, chiếm 19%
+ Cha mẹ đi tù hoặc cai nghiện: 3 em, chiếm 3%
+ Mồ côi: 3 em, chiếm 3%
- Hình thức phạm tội: Tính chất, mức độ, hành vi vi phạm pháp luật của
các học sinh trong mẫu nghiên cứu rất đa dạng, cụ thể:
+ Không trả lời: 6 em, chiếm 6%
+ Gây rối trật tự công cộng: 8 em, chiếm 8%
+ Cướp tài sản: 2 em, chiếm 2%
+ Cưỡng đoạt tài sản: 2 em, chiếm 2%
+ Cố ý gây thương tích: 11 em, chiếm 11%
+ Liên quan đến ma túy: 2 em, chiếm 2%
+ Trộm cắp tài sản: 42 em, chiếm 42%
+ Hình thức khác: 27 em, chiếm 27%
- Số lần vào trường giáo dưỡng: 77 em, chiếm 77% lần đầu vào trường;
23 em, chiếm 23% vào trường lần thứ hai.
- Thuận lợi và khó khăn khi nghiên cứu:
+ Thuận lợi: Ban giám hiệu và cán bộ, giáo viên rất tạo điều kiện để tác
giả thu thập thông tin qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Các em học sinh được
hỏi nhìn chung có tinh thần hợp tác trong quá trình nghiên cứu.
14
+ Khó khăn: Do đặc thù là trường giáo dưỡng nên việc tiếp xúc với mẫu
nghiên cứu còn nhiều hạn chế, cần phải có sự giám sát của cán bộ nhà trường.
Ngoài ra, khi trả lời trong bảng hỏi, nhiều em còn chưa trả lời hoặc trả lời chưa
rõ khiến việc thu thập thông tin và xử lý dữ liệu còn gặp nhiều khó khăn.
thể diễn giải quan điểm của tiếp cận nhận thức – hành vi như sau: Suy nghĩ,
cảm xúc và hành vi liên quan mật thiết với nhau. Suy nghĩ, nhận thức quyết
định sự biểu hiện của cảm xúc và hành vi. Những rối loạn cảm xúc có thể
xuất hiện do những suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực. Nếu thay đổi những suy nghĩ
lệch lạc, tiêu cực sẽ giúp cá nhân cải thiện những rối loạn cảm xúc và đặc biệt
sẽ dẫn đến thay đổi về hành vi. Nhận thức là yếu tố quyết định chủ yếu việc
cá nhân có cảm xúc và hành động như thế nào. Các rối loạn hành vi có nguồn
gốc trong quá khứ vẫn có ảnh hưởng đến các cá nhân qua hệ thống niềm tin
phi lí của họ. Ví dụ, một cô gái luôn bị cha mẹ chê trách, bỏ rơi, cô tin rằng
“Mình là đồ kém cỏi”, “Mình là đồ bỏ đi”. Điều này làm cô gái chán nản
muốn bỏ nhà ra đi bụi đời, đập phá, tấn công người khác hay tự sát. Các hành
vi vi phạm này ở một khía cạnh nào đó có thể là những minh chứng tiêu cực
rằng “tôi không phải là đồ kém cỏi”, “hãy coi chừng”. Với trẻ chưa thành niên
vi phạm pháp luật, những ý nghĩ và niềm tin lệch lạc có thể là [6, Tr.31,32]:
- Để tránh bị người khác lừa thì tốt nhất ta nên lừa họ
- Hành vi phạm tội là chấp nhận được
- Để sống được ở trên đời cần phải biết bon chen
- Chỉ có những đứa ngốc nghếch mới bị người khác bắt nạt
- Bản chất của con người là ác
- Không thể tin vào người khác được
- Thà tiêu diệt nó còn hơn để nó tiêu diệt mình
Những niềm tin phi lý trên đã gây nên những ứng xử lệch lạc, thậm chí
dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật. Một trong những mục tiêu của Công tác
16
xã hội với trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật là giúp các em đối diện với các
nhìn tiêu cực về cuộc sống và xây dựng một quan điểm sống tích cực và có lý
trí. Để giúp trẻ vi phạm pháp luật thay đổi nhận thức, nhà tham vấn phải thiết
lập một mối quan hệ nống ấm, không phê phán; thu thập bằng chứng hoặc đặt
một loạt câu hỏi để phát hiện những suy luận vô lý trong nhận thức của trẻ;
nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý, những rối loạn hành vi. Ví dụ
nếu trẻ vị thành niên sinh ra trong một gia đình nghèo, nhu cầu cơ bản về thể
chất, thức ăn, nước uống không được đáp ứng và thiếu sự chăm sóc tinh
thần, ở trẻ có thể nảy sinh những hành vi vi phạm chuẩn mực như gây hấn,
trộm cắp. Cũng như vậy, trẻ em không thể tồn tại thiếu các mối quan hệ từ
gia đình, bạn bè, trường học Các cảm giác không được yêu thương, không
được chấp nhận, không được tôn trọng có thể là nguồn gốc của các hành vi
lệch lạc xã hội [6, Tr.27,28].
Như vậy hành vi phạm pháp của trẻ em có thể được xem xét, lý giải từ
sự thiếu đáp ứng của người lớn về thể chất và tinh thần cho sự tồn tại và phát
triển của trẻ. Thực tế về học sinh vi phạm pháp luật ở các trường giáo dưỡng
cho thấy: đa số các em sống trong gia đình có khó khăn về kinh tế, gia đình
thiếu hụt sự chăm sóc về thể chất, tinh thần do bị cha mẹ bỏ rơi, có cha mẹ ly
hôn, ly thân, cha mẹ mất, cha mẹ đi tù hoặc phạm pháp. Khi các nhu cầu cơ
bản của trẻ em không được đáp ứng sẽ có thể sinh ra những rối loạn hành vi ở
các em, trong đó có những hành vi vi phạm pháp luật
1.1.3. Thuyết học tập xã hội
Thuyết học tập xã hội nhấn mạnh rằng hành động của cá nhân là kết
quả của sự bắt chước và quan sát xã hội. Tiếp cận hành vi từ góc độ tập nhiễm
xã hội cho thấy rằng hành vi gây hấn, hành vi tội phạm hình thành là do tiếp
thu các mẫu ứng xử sai lệch trong xã hội [6, Tr.33].
Cá nhân trong xã hội có thể tiếp thu các hành vi vi phạm chuẩn mực
không chỉ bằng việc từng trải qua và chịu hậu quả mà nó gây ra, mà còn bằng
việc quan sát người khác. Cũng như với hầu hết các hành vi xã hội, cá nhân
lĩnh hội được nhiều điều về hành vi sai lệch thông qua việc xem người khác
18
hành động và lưu ý đến hậu quả của những hành động đó. Nếu đứa trẻ sống
trong môi trường nghèo khó và thiếu giáo dục thì việc quan sát người khác
trộm cắp, cướp giật để có tiền tiêu một cách thoải mái, hoặc a dua theo chúng
hội được hiểu và định nghĩa khác nhau tùy vào từng giai đoạn lịch sử, từng
nền văn hóa và trình độ phát triển công tác xã hội.
Theo Từ điển CTXH (1995): Đó là một khoa học xã hội ứng dụng
nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý xã hội một cách có hiệu
quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại an sinh cao nhất cho
con người.
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011)
định nghĩa lại về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia
vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự
thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng
cao chất lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi
con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con
người với môi trường sống.
Như vậy, CTXH là một ngành khoa học ứng dụng được sử dụng để
giúp cá nhân, nhóm, cộng đồng tăng cường khả năng thực hiện các chức năng
xã hội để tự giải quyết vấn đề của mình.
1.2.2. Khái niệm trẻ vị thành niên và sự biến đổi tâm sinh lý của trẻ vị
thành niên
1.2.2.1. Khái niệm trẻ vị thành niên
Công ước Quyền trẻ em của Liên hợp quốc đưa ra định nghĩa về trẻ em
như sau: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với
trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [26, điều 1].
Bên cạnh đó, định nghĩa về trẻ em còn được giải thích rõ thêm trong
Tuyên bố về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc năm 1959: “Trẻ em, do chưa
trưởng thành về tinh thần và thể lực, cần có sự bảo vệ và chăm sóc đặc biệt,
bao gồm sự bảo vệ về mặt pháp lý thích hợp, trước cũng như sau khi sinh”.
20
Luật Bảo vệ, Chăm sóc, Giáo dục trẻ em năm 2004 của Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: “Trẻ em là công dân Việt
nhiều rối nhiễu tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác.
Theo tác giả Hà Thị Thư, Trường Đại học Lao động - Xã hội trong giáo
trình Tâm lý học phát triển, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, năm 2007, có
nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia độ tuổi của các giai đoạn phát
triển, trong đó quan điểm của tâm lý học mác-xít phân chia lứa tuổi vị thành
niên thành hai giai đoạn: giai đoạn thiếu niên từ 12 đến dưới 15 tuổi, giai
đoạn đầu thanh niên từ 15 đến dưới 18 tuổi với những đặc trưng về tâm lý
riêng biệt.
Thứ nhất, giai đoạn thiếu niên (từ 12 đến dưới 15 tuổi)
Có thể nói tuổi thiếu niên vẫn còn mang nhiều đặc trưng của một đứa
trẻ, phụ thuộc nhiều vào gia đình, quan tâm nhiều đến những thay đổi của cơ
thể, hay suy tư về hình ảnh cơ thể, dễ băn khoăn lo lắng, buồn rầu về những
nhược điểm của cơ thể. Mối quan tâm đến bạn bè bắt đầu nổi lên như là một
đáp ứng chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới.
Về mặt sinh lý, cơ thể đang diễn ra quá trình cải tổ hình thái sinh lý một
cách mạnh mẽ và mang tính không cân đối. Có sự phát triển mạnh mẽ về tầm
vóc cả về chiều cao, hệ cơ và hệ xương, nhưng không có sự cân đối giữa
chiều cao và cơ bắp, khiến cho trẻ chưa có khả năng làm việc bền bỉ, dẻo dai.
Sự phát triển về tính dục bắt đầu diễn ra nhanh chóng ở cả nam và nữ. Do đó,
sự tò mò băn khoăn về bản thân và giới tính là không tránh khỏi.
Về mặt tâm lý tình cảm, các em bắt đầu có các tư duy trừu tượng, khối
lượng tri giác tăng lên, các em có khả năng phân tích, tổng hợp các thông tin
ở mức độ cao. Các em cũng rất dễ tỏ ra băn khoăn, lo lắng hay buồn rầu về
những nhược điểm của cơ thể mình khi so sánh với các bạn cùng lứa. Lúc
này, các em bắt đầu quan tâm đến người khác giới và nảy sinh những rung
cảm, xúc cảm mới lạ. Các em bắt đầu coi trọng tình bạn và mong muốn được
chấp nhận và khẳng định được vị trí của mình trong nhóm bạn. Bên cạnh đó,
các em thường rất sợ bị tẩy chay trong nhóm bạn, nên cố gắng điều chỉnh
22
23
kích thích tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí ở các em. Sự dậy thì
đầy đủ thường xảy ra ở giai đoạn này (có kinh nguyệt, phóng tinh). Các
hormone tính dục phát triển mạnh mẽ ở thời kỳ này.
Những biến đổi tâm lý đặc trưng, thường thấy của giai đoạn này là:
- Nỗ lực cao nhất tìm kiếm sự độc lập, tách khỏi sự kiểm soát của cha
mẹ (vì vậy hay có xung đột với cha mẹ).
- Phát triển mạnh cá tính và sự xã hội hóa.
- Có xu hướng lý tưởng hóa, vị tha (định hướng vào cái tôi xã hội).
- Tiếp tục quan tâm đến hình ảnh của cơ thể (thích chăm sóc cơ thể).
- Thích hò hẹn, khám phá giới kia (nhu cầu hấp dẫn, chinh phục bạn
khác giới), nhóm bạn có vị trí quan trọng số 1, đặc biệt là bạn khác giới.
- Biểu lộ mạnh mẽ xúc cảm yêu đương, hay nhầm lẫn ngộ nhận giữa
xúc cảm bạn bè khác giới và tình yêu, dễ yêu, dễ thất vọng (hay có hành vi
trầm cảm, tự sát).
- Tiếp tục phát triển mạnh tư duy trừu tượng.
Tuổi thiếu niên lớn nỗ lực tìm kiếm những quan hệ ngoài gia đình,
hướng tới những người bạn đồng lứa. Tuổi này có nhu cầu đặc biệt về tình
bạn, cảm nhận được những tinh tế trong tình bạn. Nhu cầu tình bạn trở thành
cấp thiết và quan trọng nhất, đặc biệt là nhu cầu về người bạn khác giới. Tuổi
thiếu niên lớn tràn đầy xúc cảm, dễ xúc động, khó kiềm chế xúc cảm bộc
phát, dễ bị tổn thương. Trạng thái tình cảm của các em thất thường, không ổn
định (dễ nổi nóng, dễ nản ở con trai; dễ khóc, dễ tủi thân ở con gái). Các em
thường lúng túng, bối rối trước những vấn đề khó khăn trong cuộc sống mà
mình gặp phải, quá chán nản đến mức tưởng như mọi thứ sụp đổ vì những
thất bại đầu tiên, đặc biệt là những khúc mắc trong tình cảm, dễ nhầm lẫn
giữa tình bạn và tình yêu.
Tuổi tiếu niên lớn thích sưu tầm danh ngôn, thích văn thơ triết lý, nhu
cầu thần tượng hóa cũng nổi rõ, nhưng các em cũng hay cực đoan trong ý
nghĩ và hành động. Không ít những chàng trai hay các cô gái tuổi này thích
xã hội phù hợp với các chuẩn mực xã hội gọi là hành vi chuẩn mực. Còn
25
những hành vi không phù hợp với chuẩn mực xã hội được gọi là hành vi sai
lệch.[28]
Với tư cách là đối tượng của Công tác xã hội, có thể định nghĩa về hành
vi lệch chuẩn như sau: “Hành vi lệch chuẩn là hành vi tâm lý, xã hội của cá
nhân, nhóm không phù hợp với lợi ích, những quan niệm về đạo đức, giá trị,
chuẩn mực, văn hóa, lối sống của một nhóm hay cộng đồng xã hội trong từng
thời điểm lịch sử nhất định”[4, Tr.13]
Như vậy trẻ vị thành niên có hành vi lệch chuẩn là trẻ từ đủ 12 tuổi đến
dưới 18 tuổi thực hiện hành vi không phù hợp với lợi ích, những quan niệm
về đạo đức, giá trị, chuẩn mực, văn hóa, lối sống của một nhóm hay cộng
đồng xã hội trong từng thời điểm lịch sử nhất định.
1.2.3.2. Làm trái pháp luật và khái niệm trẻ vị thành niên làm trái
pháp luật
Làm trái pháp luật là việc không thực hiện hành vi đúng các yêu cầu
của pháp luật. Hành vi trái pháp luật chỉ được coi là vi phạm pháp luật khi
hành vi đó thoả mãn các dấu hiệu của một hành vi vi phạm pháp luật. Do đó,
một hành vi vi phạm pháp luật luôn là hành vi trái pháp luật, nhưng hành vi
trái pháp luật chưa chắc đã là hành vi vi phạm pháp luật. Trong nhiều trường
hợp, hành vi trái pháp luật được thực hiện trong hoàn cảnh người thực hiện
hành vi không có sự tự do về ý chí, tức là có thể đang bị người khác cưỡng
ép, khống chế hay trong trường hợp người chưa đủ độ tuổi gánh chịu trách
nhiệm pháp lý hoặc người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến mất
khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì hành vi của họ trái pháp luật
cũng không được coi là vi phạm pháp luật
Trẻ vị thành niên làm trái pháp luật là những người từ đủ 12 tuổi đến
dưới 18 tuổi thực hiện không đúng các yêu cầu của pháp luật nhưng chưa bị
coi là vi phạm pháp luật.