Tiểu luận : Lý thuyết công tác xã hội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
TIỂU LUẬN
MÔN : LÝ THUYẾT CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỀ TÀI : ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI
TRẺ EM VI PHẠM PHÁP LUẬT.
Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Trung Hải
Sinh viên thực hiện : Đinh Thị Huyên
Lớp : Đ7.CT3
1
SV thực hiện : Đinh Thị Huyên
Tiểu luận : Lý thuyết công tác xã hội
MỤC LỤC.
A. Mở đầu…………………………………………………………. 3
B. Nội dung……………………………………………………… 5
I. Mô tả ca………………………………………………………… 5
1. Xác định vấn đề của A………………………………………… 5
2. Nguyên nhân của vấn đề……………………………………… 5
3. Nguồn lực trợ giúp…………………………………………… 5
4. Những hạn chế có liên quan đến A…………………………… 5
II. Mô tả lý thuyết…………………………………………………. 6
1. Lý thuyết hệ thống…………………………………………… 6
a. Khái niệm hệ thống…………………………………………… 6
b. Đại biểu của thuyết hệ thống………………………………… 6
c. Nội dung……………………………………………………… 7
d. Phân loại……………………………………………………… 7
e. Nguyên tắc hoạt động………………………………………… 7
2. Thuyết nhu cầu…………………………………………………8
a. Đại biểu………………………………………………………… 8
b. Nội dung…………………………………………………………8
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
B. Nội dung.
I. Mô tả ca.
A là học sinh lớp 9 trường Trung học cơ sở dân lập Phương Đông, ở trường
em là một học sinh khá. Em sinh ra trong một gia đình bố mẹ là công nhân
viên chức bình thường. bố em là công nhân trong một xí nghiệp sản xuất
giầy da, mẹ là nhân viên trong một công ty Nhà Nước. bố mẹ em đi làm cả
ngày nên không có thời gian quan tâm đến em, mỗi ngày trước khi đi làm
họ cho em 100 nghìn cả tiền ăn uống và chi tiêu khác. Gần đây bố mẹ em
thường xuyên cãi nhau, có lần A thấy bố em đánh mẹ vì bố em nghi ngờ mẹ
3
SV thực hiện : Đinh Thị Huyên
Tiểu luận : Lý thuyết công tác xã hội
em có tình nhân bên ngoài. Do thường xuyên chứng kiến cảnh bố mẹ đánh
cãi nhau nên A rất buồn và chán nản, em không còn hứng thú với học tập,
em thường bỏ học để tụ tập đi chơi game với bạn bè nên kết quả học tập
giảm sút.
A bắt đầu nghiện game và kết bạn với một số trẻ hư hỏng khác, lúc chán
chơi game A với các bạn xấu thường tụ tập, gây gổ đánh nhau hay đi vào
các quán bar. Lâu dần số tiền ít ỏi mà bố mẹ cho hàng ngày không đủ cho
các cuộc chơi nên A tìm mọi cách để xin thêm tiền từ bố mẹ, khi thì tiền
học thêm, khi thì sinh nhật, quỹ lớp, mua sách vở… nhưng số tiền đó vẫn
không đủ. Quá túng quẫn A đã nghe theo lời bạn bè đi trộm tiền và điện
thoại ở các cửa hàng khi đông khách. Đã nhiều lần A cùng các bạn thực
hiện thành công nhưng trong một lần A và nhóm bạn tổ chức ăn cắp xe máy
nên đã bị bắt, vụ việc được báo cho gia đình còn A phải vào trung tâm giáo
dục cải tạo X trong vòng 4 tháng. Trong trung tâm A tỏ ra rất chán nản và
có ý định tự tử vì em sợ rằng sau khi em ra khỏi đây mọi người sẽ khinh
thường và gét bỏ em, hơn nữa em sợ lại chứng kiến cảnh bố mẹ cãi vã suốt
a. Khái niệm hệ thống.
- Theo từ điển tiếng việt:” Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố cùng loại, hoặc
cùng chức năng có quan hệ, hoặc liên quan đến nhau chặt chẽ làm thành
một hệ thống thống nhất.”
- Theo định nghĩa của lý thuyết công tác xã hội hiện đại:” Hệ thống là tập
hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động
thống nhất”.
b. Đại biểu của thuyết hệ thống.
Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học nổi
tiếng Ludwig von Bertalanffy( 1901-1972). Để phản đối chủ nghĩa đơn
giản hóa và việc cô lập hóa các đối tượng của khoa học, ông đưa ra quan
điểm rằng tất cả các cơ quan đều là hệ thống, bao gồm những hệ thống nhỏ
hơn và là phần tử của hệ thống lớn hơn. Sau này lý thuyết hệ y được các
5
SV thực hiện : Đinh Thị Huyên
Tiểu luận : Lý thuyết công tác xã hội
nhà khoa học khác nghiên cứu và phát triển như Hanson(1995),
Mancoske(1981), Siponrin (1980).
c. Nội dung của lý thuyết hệ thống.
Lý thuyết hệ thống cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là hệ thống, được tạo
thành từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần tử của hệ thống
lớn hơn. Do đó, con người là một bộ phận của xã hội, đồng thời cũng tạo
nên từ những phần tử nhỏ hơn.
Các hệ thống có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Khi một
hệ thống thay đổi kéo theo sự thay đổi của hệ thống khác và ngược lại khi
muốn thay đổi một hệ thống thì phải thay đổi hệ thống nhỏ tạo nên nó và
thay đổi cả hệ thống lớn bao trùm nó.
Lý thuyết hệ thống sử dụng trong công tác xã hội chú ý nhiều tới các quan
hệ giữa các phần tử nằm trong hệ thống hơn là chú ý tới thuộc tính của
phần tử.
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu
của con người vào những năm 1950. Lý thuyết của ông nhằm giải thích
những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để
một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn
tinh thần.
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của
con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu. Ông đã
đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của
nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành
thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao.
Theo thuyết A. Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành
các thang bậc khác nhau từ đáy lên tới đỉnh, phản ánh mức độ cơ bản của
nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự
nhiên, vừa là một thực thể xã hội .
Thuyết nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao. Những nhu cầu
ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng.
Con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành động theo
nhu cầu. Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ
hành động. Đồng thời việc nhu cầu được thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là
mục đích hành động của con người. Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở
7
SV thực hiện : Đinh Thị Huyên
Tiểu luận : Lý thuyết công tác xã hội
thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi
được hành vi của con người.
Dưới đây là tháp nhu cầu của Maslow :
Nhu cầu sinh học
Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn
uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục. Là nhu cầu cơ bản
nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người. Nếu thiếu
Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được
thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được
người khác coi trọng, ngưỡng mộ. Khi được người khác tôn trọng cá nhân
9
SV thực hiện : Đinh Thị Huyên
Tiểu luận : Lý thuyết công tác xã hội
sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao. Do đó nhu cầu được tôn
trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người.
Nhu cầu tự thể hiện hay còn gọi là nhu cầu phát triển.
Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu
của ông.Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá
nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó.
Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết,
nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực
hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân.
3. Lý thuyết nhận thức hành vi.
Theo quan điểm động năng – tâm lý cho rằng hành vi luôn xuất phát từ một
quá trình ý thức của con người. Và môi trường cũng là một nguyên nhân
gây tác động đến những hành vi của con người hay là bản thân hành vi có
thể tự do bộc lộ theo đúng như mong muốn của con người.
Vì vậy các nhà chuyên môn chỉ có thể nghiên cứu hành vi được bộc lộ ra
bên ngoài. Tiếp cận thuyết hành vi là cố gắng rất lớn của tâm lý học thế
giới đầu thế kỷ XX, nhằm khắc phục tính chủ quan trong nghiên cứu các
hiện tượng tâm lý thời đó. Kết quả là đã hình thành một trường phái có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tâm lý học ở Mỹ và thế giới mà đại biểu
xuất sắc là các nhà tâm lý kiệt xuất: J. Watson (1878 – 1958); E. Tolmen
(1886 – 1959); E. L. Tocdike (1874 – 1949)…
Theo lập luận về hành vi, cứ ứng với một tác nhân kích thích sẽ có các
phản ứng phù hợp. Dựa vào đó, con người có thể đổ lỗi cho ngoại cảnh để
bao biện cho hành vi của họ. Trong tình huống này nhân viên xã hội sẽ sử
SV thực hiện : Đinh Thị Huyên
Tiểu luận : Lý thuyết công tác xã hội
Để tồn tại, côn người cần được đáp ứng các nhu cầu thiết yếu, cơ bản cho
sự sống như : ăn, mặc, ở , chăm sóc y tế…… Để phát triển con người cần
được đáp ứng nhu cầu cap hơn như : nhu cầu được an toàn, được học tập,
được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định.
Qua trường hợp của em A có thể thấy A vốn là một học sinh chăm ngoan
học giỏi, em sinh ra trong gia đình bố mẹ làm công nhân viên chức, có thu
nhập ổn định, kinh tế gia đình thuộc vào hàng khá giả nên mọi nhu cầu về
ăn uống, mặc, nhu cầu an toàn và học tập của em được đáp ứng đầy đủ.
Vậy nguyên nhân gì dẫn em đến con đường vi phạm pháp luật?
Theo lý thuyết nhu cầu của Maslow, các nhu cầu của con người thường rất
đa dạng, phong phú và phát triển theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa,
nhận thức và địa vị xã hội. Qua quan điểm của Maslow ta có thể xác định
được vấn đề của em A không phải xuất phát từ nhu cầu cơ bản như ăn, mặc,
ở, không phải do điều kiện kinh tế quá khó khăn mà em phải đi trộm cắp để
thỏa mãn những nhu cầu sinh tồn của mình mà vấn đề của em xuất phát từ
sự khát khao được yêu thương, được thuộc về nhóm. Do bố mẹ em không
quan tâm chăm sóc đến em, hơn nữa họ suốt ngày cãi vã khiến em vô cùng
thất vọng, em thấy mình là người thừa, em cảm thấy việc học của mình
không có ý nghĩa khi mà không có sự động viên từ bố mẹ, từ đó em thường
xuyên bỏ học đi chơi với nhóm bạn xấu vì ở nhóm bạn này em được thừa
nhận và khẳng định bản lĩnh của mình trong những lần tụ tập đánh nhau
hay cùng tổ chức những vụ trộm cướp, nguyên nhân quan trọng hơn khiến
em tham gia vào nhóm bạn xấu vì em nghĩ rằng chỉ khi em hư hỏng thì bố
mẹ em mới quan tâm đến em. Không có gì sai khi em khao khát được yêu
thương và được khẳng định vì đó là nhu cầu của mỗi con người, vấn đề
đáng nói ở đây là em đã nhận thức sai lệch vì em nghĩ rằng chỉ khi em hư
hỏng bố mẹ em mới quan tâm đến em từ suy nghĩ sai lệch đols em đã có
12
13
SV thực hiện : Đinh Thị Huyên
Tiểu luận : Lý thuyết công tác xã hội
Hơn nữa nhân viên xã hội cũng cần nói cho em biết những khó khăn mà em
sẽ gặp phải khi ra khỏi trung tâm và chuẩn bị cho em tâm thế sẵn sàng,
trang bị cho em những kiến thức, kỹ năng để em đối mặt với những khó
khăn đó.
3. Ứng dụng lý thuyết hệ thống trong giải quyết vấn đề của A.
Lý thuyết hệ thống coi mỗi con người là một hệ thống, mỗi hệ thống đều
nằm trong một hệ thống khác lớn hơn và mỗi hệ thống đều có thể chia nhỏ
thành những hệ thống nhỏ hơn. Những hệ thống này có mối quan hệ mật
thiết, tác động qua lại lẫn nhau, sự thay đổi của một hệ thống có thể dẫn
đến thay đổi hệ thống khác.
A được coi là một hệ thống vi mô, chịu sự tác động của hệ thống trung mô
là gia đình và hệ thống vĩ mô là cộng đồng nơi em đang sinh sống và học
tập, và chịu sự tác động của hệ thống nhỏ hơn đó là những suy nghĩ và
nhận thức của em.
Có thể thấy nguyên nhân dẫn đến vấn đề của A đó là chịu sự tác động trực
tiếp của hệ thống trung mô đó là gia đình mà cụ thể là gia đình có mâu
thuẫn giữa bố và mẹ em, họ suốt ngày cãi vã, không tin tưởng lẫn nhau,
không quan tâm đến A, không kiểm soát công việc học tập và giao lưu bạn
bè của con nên hệ thống vĩ mô mới tác động được đến A, đó là nhóm bạn
xấu rủ rê bỏ học, tụ tập đánh nhau và tham gia trộm cắp.
Ngoài những hệ thống lớn hơn tác động đến A như gia đình, bạn bè xấu rủ
rê thì chính những hệ thống nhỏ bên trong cũng tác động đến em, đó là
những suy nghĩ không chin chắn, lập trường không vững vàng khiến cho A
rơi vào trạng thái bị động, dễ bị bạn bè xấu lôi kéo, rủ rê.
Hơn nữa ứng dụng lý thuyết hệ thống cũng giúp cho nhân viên xã hội làm
việc dễ dàng hơn với gia đình em A, từ đó nhân viên xã hội có thể xác định
được nguyên nhân sâu xa của việc bố mẹ A thường xuyên cãi vã, từ đó tìm