MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
Tài chính để phát triển giáo dục đại học không chỉ là vấn đề đặt ra cho
giáo dục Việt Nam mà còn là vấn đề của các quốc gia trên thế giới, kể cả các
nước phát triển. Ở Việt Nam, mặc dù Nhà nước đã dành cho giáo dục một tỷ
lệ chi Ngân sách hàng năm khá lớn, song vẫn còn rất thấp so với nhu cầu
thực tế. Để giải quyết vấn đề tài chính trên, Chính Phủ đã ban hành Nghị
định số 43/2010/NĐ-CP giao quyền tự chủ cho các trường Đại học và Cao
đẳng công lập. Theo đó, các trường Đại học và Cao đẳng công lập phải chủ
động khai thác nguồn thu, chi tiêu tiết kiệm, sử dụng hiệu quả tài sản để đáp
ứng mục tiêu hoạt động của đơn vị.
Không thể trông chờ, dựa dẫm vào Ngân sách Nhà nước theo kiểu "tập
trung, bao cấp", các trường phải xây dựng cho mình một cơ chế tài chính phù
hợp để đảm bảo tài chính cho trường cho sự tồn tại và phát triển.
Trải qua trên 10 năm hình thành và phát triển, trường Cao đẳng Cộng
đồng Hải Phòng đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên,
Trường cũng đã bộc lộ nhiều bất cập trong công tác quản lý tài chính như
nguồn thu không đáp ứng nhiệm vụ chi, đời sống cán bộ, viên chức gặp
nhiều khóa khăn; nghiên cứu khoa học không phát triển, quy mô đào tạo có
xu hướng chững lại và giảm sút,
Sở dĩ có thực trạng trên là vì Nhà trường chưa xây dựng được một cơ
chế tài chính phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục hiện nay. Những
hạn chế này tất yếu đòi hỏi những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý
tài chính của trường. Do đó, đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính
của Trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng ” được lựa chọn nghiên cứu.
i
Tác giả thực hiện đề tài với mục đích giải quyết các vấn đề sau:
- Những cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự
nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo;
- Đánh giá kết quả đạt được và hạn chế trong cơ chế quản lý tài chính
iii
trong và cơ chế bên ngoài. Cơ chế bên trong được hiểu là những quy định của
đơn vị còn cơ chế bên ngoài là cơ chế của Nhà nước, của cấp trên.
Đồng thời, trong phần này, tác giả cũng đã phân tích nội dung của cơ chế
tài chính của các trường đại học và Cao đẳng công lập bao gồm cơ chế quản lý
thu, cơ chế quản lý chi, cơ chế cân đối thu - chi và cơ chế quản lý tài sản.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự
nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo
Trong phần 1.3, tác giả đã đưa ra và phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo
dục đào tạo, bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan như trình
độ, năng lực của cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý (đặc biệt là quản lý tài
chính) và cán bộ, viên chức trong trường nói chung; cơ chế, chính sách của
Nhà nước; điều kiện kinh tế xã hội,
1.4 Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu
thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo
Trong phần 1.4, tác giả nêu ra mục tiêu hoạt động của các trường đại
học và cao đẳng công lập là đào tạo với quy mô ngày càng tăng trong mối
quan hệ với chất lượng ngày càng cao; đồng thời, có nhiều công trình nghiên
cứu khoa học có giá trị để hỗ trợ cho hoạt động đào tạo và phục vụ các mục
đích khác của trường. Từ đó, tác giả đưa ra tiêu chí đánh giá cơ chế quản lý
tài chính tốt hay xấu, phù hợp hay chưa trên cơ sở cơ chế đó có phục vụ tốt
mục tiêu hoạt động (đào tạo và nghiên cứu khoa học) của trường hay không.
iv
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HẢI PHÒNG
2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng
Phần 2.1, tác giả đã trình bày khái quát về Trường Cao đẳng Cộng
đồng Hải Phòng, quá trình hình thành và phát triển, những thành tựu đã đạt
* Kết quả đạt được
- Cơ chế tài chính đã đảm bảo được nguồn kinh phí cho các hoạt động
của Trường ở mức tối thiểu, trong đó chủ yếu dành cho hoạt động đào tạo.
Quy mô đào tạo của trường được nâng lên rõ rệt, từ 2.500 sinh viên (năm
2000) tăng lên trên 6.000 sinh viên (2010). Trường đã đáp ứng được nhu cầu
học tập của người học và cung ứng kịp thời lực lượng lao động cho các tổ
chức, cá nhân có nhu cầu trong Thành phố Hải Phòng và các vùng lân cận.
- Cơ chế tài chính của trường đã từng bước thực hiện chủ trương của
Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo là: xã hội hóa giáo dục
và các cơ sở đào tạo phải tiến tới tự chủ về tài chính. Những năm qua, Nhà
trường đã tận dụng nguồn thu đáp ứng nhu cầu chi tiêu tối thiểu, không trông
chờ, dựa dẫm vào nguồn kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp; nhu cầu mua
sắm, sửa chữa trang thiết bị phục vụ cho hoạt động đào tạo hầu hết được đáp
ứng bằng nguồn thu sự nghiệp tại chỗ;
- Cơ chế tài chính của trường đã góp phần thực hiện đầy đủ, kịp thời
chế độ tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác cho người lao
động. Không những thế, cơ chế tài chính còn giúp trường tiết kiệm chi tiêu,
tăng thu nhập cho người lao động, tuy rằng mức tăng còn rất khiêm tốn.
vi
* Bên cạnh đó là những hạn chế
- Nguồn thu từ học phí còn quá nhỏ bé so với nhu cầu chi tiêu và bị
giới hạn trong mức quy định chung của Nhà nước;
- Cơ chế tài chính của Trường chưa giải phóng được sức lao động, sáng
tạo của cán bộ, giáo viên trong trường.
- Cũng như cơ chế thu, việc tập trung tất cả các khoản chi về trường, do
trường thực hiện không thúc đẩy được mọi tiềm năng của người lao động;
- Quy chế chi tiêu nội bộ dựa trên văn bản của nhà nước đã quá lạc hậu
và áp dụng một cách cứng nhắc nên định mức chi tiêu thiếu tính khả thi;
- Chi cho hoạt động mua sắm, sửa chữa tài sản, xây dựng cơ bản còn
chưa hiệu quả trong khi Quy chế chi tiêu nội bộ của trường lại không đề cập
ngoài nước, đưa Trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng trở thành một trung
tâm nghiên cứu khoa học của miền duyên hải phía bắc; chuẩn bị mọi điều
kiện về vật chất, con người, chương trình đào tạo, phấn đấu đến năm 2015
nâng trường lên thành trường đại học kinh tế - kỹ thuật, đào tạo nhân lực có
trình độ đại học cho cả nước.
3.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính
Trên cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có
thu thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo, thực trạng cơ chế quản lý tài chính của
Trường cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng, tại phần 3.2 tác giả đưa ra một số
giải pháp chủ yếu để hoàn thiện cơ chế như: Nâng cao trình độ, năng lực của
đội ngũ cán bộ quản lý, nói riêng và cán bộ, viên chức của trường, nói chung;
Khai thác và quản lý nguồn thu tập trung; Phân cấp quản lý chi tiêu; Hoàn
thiện hệ thống quy trình thanh toán; Hoàn thiện công tác kế hoạch hóa trong
viii
trường. Trong đó giả tập trung phân tích giải pháp "Khai thác và quản lý
nguồn thu tập trung".
3.3 Kiến nghị
Tại phần 3.3, tác giả đề xuất một số kiến nghị với Nhà nước như quy
hoạch lại hệ thống các trường Đại học và Cao đẳng trong phạm vi cả nước,
nâng mức học phí cho phù hợp với chi phí đào tạo thực tế, tăng cường đầu tư
cho giáo dục bằng nguồn Ngân sách, sửa đổi lại các định mức chi tiêu không
còn phù hợp, giao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo phải đi đôi với việc
kiểm tra, giám sát việc thực hiện tại các cơ sở, chuyển cơ chế quản lý hoạt
động giáo dục đào tạo từ kiểm soát (hiện nay) sang giám sát. Đề xuất một số
kiến nghị với địa phương như rà soát lại các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp trên
địa bàn thành phố theo hướng giải thể, sáp nhập những cơ sở không đủ năng
lực, nâng mức đầu tư cho trường từ nguồn ngân sách bao gồm cả kinh phí
thường xuyên và kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra, thực hiện kiểm toán hàng năm đối với các trường đại học và cao
đẳng công lập trên địa bàn.
Ở Việt Nam, trong vòng 12 năm qua (1998 - 2010), đã tăng đầu tư cho
giáo dục từ mức 13% lên 20% tổng chi Ngân sách Nhà nước. Với tỷ lệ chi
ngân sách cho giáo dục như trên, Việt Nam thuộc nhóm có tỷ lệ chi cho giáo
dục cao nhất thế giới.
Nguồn: Báo Tin mới, số ra ngày 30 tháng 4 năm 2010.
Cho dù ngân sách nhà nước đã phải "gồng mình" gánh khoản chi rất
lớn cho giáo dục hàng năm, nhưng so với nhu cầu phát triển của ngành giáo
dục, đó vẫn là con số khiêm tốn.
Thực tế hiện nay, nguồn tài chính Nhà nước đầu tư cho giáo dục ở mức
rất thấp so với chi phí đào tạo, trong khi nguồn đóng góp của người học vẫn
còn hạn chế gây nên không ít khó khăn cho công tác đào tạo; mặt khác, các
cấp quản lý và các cơ sở trực tiếp đào tạo sử dụng nguồn tài chính - vốn đã eo
hẹp - không hiệu quả càng làm tăng thêm tính bức xúc của xã hội trong vấn
đề này.
Vì vậy, việc xây dựng một cơ chế tài chính hợp lý cho sự phát triển
giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng của nước ta hiện nay là
một vấn đề mang tính tất yếu và cấp thiết. Cơ chế tài chính đó phải đảm
bảo khai thác được nguồn thu, đồng thời tiết kiệm, hiệu quả trong chi tiêu
góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu hoạt động của các cơ sở đào tạo đã
đề ra.
1
Trường Cao Đẳng Cộng đồng Hải Phòng là một trường nằm trong hệ
thống các Trường Đại học, Cao đẳng công lập trong cả nước. Những năm
qua, Nhà trường đã hết sức cố gắng nhưng hoạt động tài chính của đơn vị vẫn
còn nhiều hạn chế, nguồn thu không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu, quy mô,
chất lượng đào tạo bị ảnh hưởng, thu nhập thực tế của cán bộ, giáo viên sụt
giảm, Vì vậy, xây dựng một cơ chế tài chính hợp lý sẽ giúp Trường phát
triển không ngừng về mọi mặt, thực hiện thắng lợi mục tiêu đào tạo, phấn đấu
đến năm 2015 trở thành Trường Đại học công lập có thể tự chủ tài chính.
Xuất phát từ nhận thức như trên, việc nghiên cứu và lựa chọn đề tài
cơ chế, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu hoạt động của Trường.
Đề tài còn là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU
THUỘC LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1.1 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục
đào tạo
Đơn vị sự nghiệp được thành lập với mục đích thực hiện các hoạt động sự
nghiệp, cung ứng dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của xã hội.
Có nhiều cách phân loại đơn vị sự nghiệp, tuỳ theo mục đích nghiên
cứu, quản lý.
- Căn cứ vào hình thức sở hữu, đơn vị sự nghiệp được chia thành đơn vị
sự nghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp bán công, đơn vị sự nghiệp ngoài công
lập (dân lập, tư thục).
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các đơn vị sự nghiệp được chia thành
đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục & đào tạo, đơn vị sự nghiệp thuộc
lĩnh vực y tế, đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa, xã hội, ;
- Căn cứ vào phân cấp quản lý, các đơn vị sự nghiệp được chia thành
đơn vị sự nghiệp thuộc Nhà nước quản lý, đơn vị sự nghiệp thuộc địa phương
quản lý, đơn vị sự nghiệp thuộc các công ty, tổng công ty, tập đoàn quản lý;
Đối tượng, phạm vị nghiên cứu của đề tài là đơn vị sự nghiệp công lập
thuộc lĩnh vực giáo dục & đào tạo; cụ thể hơn, là các trường đại học và Cao
đẳng công lập.
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của
Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định
của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý
4
động, vị trí, vai trò của từng hoạt động trong trường. Chẳng hạn, trong khi các
trường công lập lấy hoạt động đào tạo làm trọng tâm thì các trường do doanh
nghiệp thành lập lại quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu khoa học mà đặc biệt
là công nghệ ứng dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, xét về phương diện hoạt động cơ bản, các trường dù
là trường công lập hay thuộc các loại hình sở hữu khác đều giống nhau, đó là:
hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, cung ứng các dịch vụ, tổ chức hoạt
động kinh tế, hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tăng cường cơ sở vật chất
phục vụ cho công tác đào tạo.
- Hoạt động đào tạo của các trường rất phong phú, bao gồm nhiều bậc
học, ngành học, hình thức đào tạo.
+ Về bậc học, trường Đại học, ngoài đào tạo chính là trình độ đại học
còn có thể đào tạo Tiến sĩ, Thạc sĩ, Cao đẳng, Trung cấp; trường Cao đẳng có
thể đào tạo từ trình độ Cử nhân Cao đẳng trở xuống;
+ Về ngành học, các trường đào tạo khá tổng hợp, đa ngành nghề,
nhiều lĩnh vực. Xu hướng đào tạo đa ngành, đa hệ, đa bậc của các trường Đại
học, Cao đẳng dần thay thế cho đào tạo chuyên ngành;
+ Về hình thức đào tạo, các trường áp dụng nhiều hình thức đào tạo
phù hợp với nhu cầu và điều kiện phong phú của người học, như: hệ chính
quy, hệ vừa học vừa làm, văn bằng 2, liên thông, đào tạo từ xa,
- Hoạt động nghiên cứu khoa học
Đây là hoạt động rất quan trọng đối với các trường Đại học và Cao
đẳng, nhất là đối với các trường Đại học. Hoạt động nghiên cứu khoa học
6
không những nâng cao tri thức khoa học - kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ
hỗ trợ cho công tác đào tạo mà nó còn mang lại nguồn thu đáng kể, giúp
các trường tự chủ tài chính. Nói đến hoạt động nghiên cứu khoa học ở
trường không chỉ có hoạt động của giáo viên mà cả hoạt động nghiên cứu
khoa học của sinh viên. Nhà trường phải định hướng, giúp đỡ sinh viên làm
quen với công việc nghiên cứu khoa học, rèn luyện cho các em kỹ năng
giáo dục đào tạo
1.2.1 Khái niệm cơ chế quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu
thuộc lĩnh vực giao dục đào tạo
Theo "Từ điển thuật ngữ Tài chính, tín dụng" thì cơ chế tài chính được
định nghĩa như sau: Cơ chế tài chính là hệ thống các hình thức, phương pháp,
biện pháp và tổ chức quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài
chính trong nền kinh tế quốc dân.
Quản lý tài chính của một đơn vị là sự tác động của nhà quản lý tới các
hoạt động tài chính của của đơn vị. Nó được thực hiện thông qua một cơ chế
gọi là cơ chế quản lý tài chính. Cơ chế quản lý tài chính được hiểu là một tổng
thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý các
hoạt động tài chính của đơn vị trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định.
Cơ chế quản lý tài chính của đơn vị cơ sở bao gồm cả cơ chế quản lý tài
chính bên trong và cơ chế quản lý tài chính bên ngoài.
- Cơ chế quản lý tài chính bên trong được hiểu là hệ thống các quy định
nội bộ nhằm quản lý hoạt động tài chính của từng bộ phận, từng cá nhân trong
đơn vị. Các quy định nội bộ này do các nhà quản lý và tập thể người lao động
trong đơn vị cơ sở xây dựng và ban hành, không vi phạm quy định trong các
8
văn bản pháp lý cao hơn. Do mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp
thuộc các loại hình sở hữu (đơn vị sự nghiệp công lập, dân lập, tư thục hay sở
hữu hỗn hợp) không giống nhau nên cơ chế quản lý tài chính ở các đơn vị này
cũng có điểm khác nhau.
- Cơ chế quản lý tài chính bên ngoài là hệ thống các quy định của Nhà
nước và các cấp quản lý cao hơn đơn vị cơ sở nhằm quản lý hoạt động tài
chính của đơn vị cơ sở, hướng tới những mục tiêu đã định. Cơ chế quản lý tài
chính của Nhà nước phù hợp sẽ thúc đẩy và tạo điều kiện cho hoạt động tài
chính của đơn vị cơ sở phát triển; ngược lại, nếu cơ chế tài chính của Nhà
nước không hợp lý sẽ kìm hãm sự phát triển của cơ sở, không đạt được mục
tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động như các trường Đại học và Cao đẳng
công lập bao gồm cơ chế quản lý thu, cơ chế quản lý chi, cơ chế quản lý tài
sản công và cơ chế cân đối thu - chi.
a) Cơ chế quản lý thu
Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần
chi phí hoạt động thường xuyên bao gồm: Kinh phí do Ngân sách Nhà nước
cấp, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng,
cho theo quy định của pháp luật và nguồn khác.
* Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, gồm:
- Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng,
nhiệm vụ đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã
cân đối nguồn thu sự nghiệp); được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao,
trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn
vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ);
10
- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);
- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà
nước quy định (nếu có);
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa
chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có
thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
- Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp
có thẩm quyền phê duyệt;
- Kinh phí khác (nếu có).
Phần kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp được quản lý theo quy định
LỘ TRÌNH TĂNG HỌC PHÍ ĐẾN NĂM 2015
Đơn vị: nghìn đồng/tháng/sinh viên
Bậc đào tạo
Năm
học
2010
2011
Năm
học
2011
2012
Năm
học
2012
2013
Năm
học
2013
2014
Năm
học
2014
2015
1. Khoa học xã hội, kinh tế,
luật; nông, lâm, thủy sản
290 355 420 485 550
2. Khoa học tự nhiên; kỹ
thuật, công nghệ; thể dục
thể thao, nghệ thuật; khách
sạn, du lịch
b) Cơ chế quản lý chi
13