i MỤC LỤC LI CAM N iv
LI CÁM N v
vi
ABSTRACT viii
x
xi
xii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
5
1.1 5
1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp 5
1.1.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp 6
1.1.3 Các loại hình tổ chức tài chính doanh nghiệp 7
1.1.4 Môi trường kinh doanh của tài chính doanh nghiệp 8
1.1.5 Các quyết định tài chính của doanh nghiệp 9
1.2 10
1.2.1 Khái niệm cơ chế 10
1.2.2 Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp 12
1.2.3 Quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp 13
1.2.3.1 Sử dụng vốn và quỹ của nhà nước do công ty nhà nước quản lý 14
1.2.3.2 Huy động vốn 15
1.2.3.3 Quản lý nợ phải trả 15
1.2.3.4 Bảo toàn vốn nhà nước tại công ty nhà nước 16
1.2.4 Quản lý và sử dụng tài sản 18
3.3.1 Các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý và sử dụng vốn 72
3.3.1.1 Xây dựng mô hình tài chính phù hợp 72
3.3.1.2 Đầu tư phát triển vốn, đa dạng hoá nguồn vốn 74
3.3.1.3 Quản lý hiệu quả đầu tư vốn vào doanh nghiệp khác 79
iii 3.3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý và sử dụng tài sản 80
3.3.2.1 Phân cấp quyết định đầu tư và thực hiện đầu tư 80
3.3.2.2 Phân cấp trong công tác đấu thầu, mua sắm tài sản 82
3.3.2.3 Phân cấp trong hoạt động sản xuất kinh doanh 83
3.3.3 Tập trung tăng cường, phát triển doanh thu 84
3.3.3.1 Nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới 84
3.3.3.2 Tăng cường hoạt động marketing và phát triển thương hiệu 84
3.3.3.3 Tăng cường phát triển các công ty con hoạt động có hiệu quả 85
3.3.3.4 Tăng cường nhập khẩu 85
3.3.3.5 Tăng giá bán sản phẩm theo đúng lộ trình chính phủ phê duyệt 85
3.3.4 Chú trọng quản lý chi phí và giá thành 86
3.3.4.1 Xây dựng kế hoạch tài chính hợp lý, chính xác 86
3.3.4.2 Quản lý hiệu quả dòng tiền 87
3.3.4.3 Tăng cường hệ thống kiểm soát thực sự có hiệu quả 88
3.3.5 Hoàn thiện cơ chế phân phối lợi nhuận 89
3.3.5.1 Hoàn thiện cơ chế phân phối lợi nhuận và sử dụng các quỹ 89
3.3.5.2 Hoàn thiện cơ chế lương, thưởng 89
KIẾN NGHỊ 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
1
Là một cán bộ hiện đang làm việc tại Phòng Tài chính - Kế toán ở một công ty
thành viên của Tổng Công ty Khí, tác giả có những trăn trở băn khoăn về những
bước đi của Tổng công ty theo hướng Công ty mẹ - Công ty con.
2. Ý
Trong những năm qua, các Tổng Công ty lớn (Tổng công ty 90 và Tổng công
ty 91) trong cả nước đã từng bước khẳng định vai trò của mình trong hệ thống các
doanh nghiệp nhà nước nói riêng, và trong nền kinh tế nhiều thành phần nói chung.
Các cơ chế chính sách dần dần được hoàn thiện, mô hình hoạt động rõ nét hơn, đã
xuất hiện một số hình mẫu sơ khai kiểu công ty “Mẹ - Con” trong lòng các Tổng
Công ty. Nhiều Tổng công ty thực hiện tốt việc đấu thầu các công trình quy mô lớn,
phức tạp cả trong nước và quốc tế; bảo lãnh vay vốn, hỗ trợ các doanh nghiệp thành
viên gặp khó khăn theo cơ chế tín dụng nội bộ vv. Tuy nhiên, một thực trạng có
thể nhận thấy rằng hiện nay các Tổng công ty có sức cạnh tranh quốc tế chưa cao,
quy mô và tiềm lực còn quá nhỏ bé. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là các
Tổng công ty không có đủ vốn thích hợp để phát triển, đổi mới công nghệ và mở
rộng sản xuất. Bên cạnh đó, nhiều Tổng công ty cũng bộc lộ những yếu kém và tồn
tại về tổ chức, phân cấp hoạt động, cơ chế và quan hệ tài chính làm chậm quá trình
tích tụ vốn, giảm tốc độ tăng trưởng và sức cạnh tranh, đã và đang đặt ra hàng loạt
vấn đề cần giải quyết. Tổng Công ty Khí là một trong những doanh nghiệp trong bối
cảnh chung đó.
Trở thành đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh, tự thu xếp vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển và
tự hoàn trả vốn vay là một cơ hội mới đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với
Tổng Công ty Khí, đòi hỏi phải có sự biến đổi cơ bản về chất trong việc xác lập các
quan hệ tài chính, và vì thế cần phải tìm kiếm những giải pháp, bước đi thích hợp để
hoàn thiện cơ chế tài chính đáp ứng nhu cầu đầu tư của ngành trong từng giai đoạn
phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII: “Giữ
vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng
3
Dữ liệu chủ yếu là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nghiên cứu trước đây
và báo cáo chuyên ngành, cũng như của Tổng Công ty Khí Việt Nam - CTCP. Các
dữ liệu được phân tích qua phương pháp thống kê, mô tả, tổng hợp, so sánh và hệ
thống hóa.
6. .
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần
nội dung luận văn gồm có 3 chương với kết cấu như sau:
Chương 1:
Cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp
Chương 2:
Thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Tổng Công ty Khí Việt
Nam - CTCP.
Chương 3:
Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tổng
Công ty Khí Việt Nam - CTCP. 5
1.1 Khái quát
1.1.1
Tài chính là một công cụ phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
dân. Thông qua quá trình huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính
tạo ra trong xã hội, tài chính góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của
đất nước.
Trong hoạt động kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải xử lý hàng loạt các vấn
kinh tế độc lập, chiếm địa vị chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ảnh rõ
nét mối quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu khác trong hệ thống tài
chính quốc gia.
1.1.2
Tài chính doanh nghiệp có vai trò đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh và
phải tổ chức sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhằm kích thích phát triển sản xuất
kinh doanh và là công cụ kiểm tra kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
ng:
Tạo vốn đảm bảo thỏa mãn nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinh
doanh. Để có đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tài
chính doanh nghiệp phải tính toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, tổ chức huy
động và sử dụng vốn đúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả
quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp.
Phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp. Thu nhập bằng tiền
mà doanh nghiệp đạt được từ thu nhập bán hàng trước tiên phải bù đắp các chi phí
7 bỏ ra trong quá trình sản xuất như mua sắm nguyên vật liệu, trả lương cho người lao
động, hao mòn máy móc thiết bị, thực hiện nghĩa vụ với nhà nước Phần còn lại
doanh nghiệp sử dụng hình thành các quỹ, thực hiện bảo toàn vốn hoặc trả lợi tức
cổ phần. Qúa trình phân phối này luôn gắn liền với những đặc điểm của hoạt động
sản xuất kinh doanh và hình thức sở hữu của doanh nghiệp.
Chức năng giám đốc bằng đồng tiền đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp căn cứ vào tình hình thu chi tiền
tệ và các chỉ tiêu phản ánh bằng tiền để kiểm soát tình hình đảm bảo vốn sản xuất
kinh doanh, tình hình sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cụ thể
qua tỷ trọng, cơ cấu nguồn huy động, việc sử dụng nguồn vốn huy động, việc tính
toán các yếu tố chi phí vào giá thành, thanh toán công nợ với khách hàng, ngân
góp. Xuất phát từ yếu tố này doanh nghiệp tư có thể được chia làm hai loại là doanh
nghiệp cá thể (một chủ) và doanh nghiệp cộng đồng (nhiều chủ). Tùy theo cách
thức ràng buộc về đóng góp mà doanh nghiệp cộng đồng được phân thành các hình
thức cơ bản: công ty hợp danh, công ty hợp tư, công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần. [3,154]
1.1.4
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là kinh
doanh hướng tới mục tiêu sinh lời và tối đa hoá lợi nhuận. Doanh nghiệp luôn nắm
bắt và sử dụng động lực kích thích của qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật
cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Tuy nhiên sự vận động của cơ chế thị trường
luôn đòi hỏi có sự điều chỉnh của Nhà nước bằng các công cụ quản lý vĩ mô. Nhà
nước thông qua các công cụ chủ yếu là hệ thống pháp luật bao gồm từ hiến pháp tới
các luật, pháp lệnh, chính sách, chế độ, điều lệ, kế hoạch nhà nước để hướng dẫn,
tạo điều kiện cho các đơn vị trong trật tự, kỷ cương nhằm đạt hiệu quả kinh tế xã
hội trên những quỹ đạo cần thiết do nhà nước ấn định.
Môi trường kinh doanh là một thực thể khách quan bao gồm tất cả các chủ thể
kinh doanh trên thị trường và tổng thể các yếu tố, điều kiện, mối quan hệ tác động,
chi phối mọi hành vi hoạt động của các chủ thể mà họ phải tính đến để thích ứng và
9 vận dụng cho phù hợp trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo cho
doanh nghiệp hoạt động bình thường và đạt hiệu quả cao. [2,20]
Môi trường kinh doanh bên trong là những khả năng vị trí của doanh nghiệp
trên từng thị trường, nguồn tài chính cho đầu tư, hình thức kinh doanh và chức năng
hoạt động, cơ hội thuận lợi và thách thức.
Môi trường kinh doanh bên ngoài là các yếu tố vĩ mô như chính trị, luật pháp,
kinh tế.
Phân tích đánh giá môi trường kinh doanh giúp doanh nghiệp nhận dạng đuợc
những cơ hội cần tận dụng, những nguy cơ cần tối thiểu hóa, những điểm mạnh cần
doanh nghiệp.
Các quyết định tài chính có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp, còn là căn cứ để xây dựng các kế hoạch tài chính của doanh nghiệp. [2,29]
1.2
1.2.1
Từ “cơ chế” được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những
năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh
tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý.
Từ “cơ chế” là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây. Từ điển Le
Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một
tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau”. Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ
học 1996) giảng nghĩa cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”.
Từ định nghĩa trên cho thấy “cơ chế” được dùng với hàm ý chỉ hiện tượng ở
trạng thái động chứ không phải ở trạng thái tĩnh. Cho nên hiểu cơ chế chỉ là các qui
định quản lý là hiểu theo trạng thái tĩnh, chưa thấu triệt hết tính chất động của hiện
tượng.
11 Bàn về cơ chế quản lý như là một hiện tượng đang chuyển động, không thể
không nói tới những con người hoạt động trong đó như là những chi tiết không thể
thiếu của bộ máy quản lý. Con người nằm trong cơ chế, tham gia vào sự vận hành
của cơ chế, bị cơ chế điều khiển, chứ không nằm ngoài cơ chế và điều khiển cơ chế.
Quan hệ giữa cơ chế với con người là quan hệ giữa cục bộ với toàn bộ. Cho nên nó
không chỉ bao gồm những qui định về cách thức vận hành, mà còn bao gồm cả con
người hoạt động theo những cách thức đã được định sẵn trong thiết kế cơ chế. Và
chính những hành động của tất cả chi tiết con người như thế tạo nên cơ chế như là
một bộ máy quản lý đang vận hành.
Trong thời kỳ quản lý bao cấp, cơ chế xin cho được hiểu là các ban ngành đều
có các chỉ tiêu, nguồn vốn do Nhà nước giao hàng năm theo kế hoạch và cơ quan
quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Doanh
nghiệp nhà nước có quyền sử dụng tài sản, thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm
trong kinh doanh, cạnh tranh, chấp nhận rủi ro. Gắn trách nhiệm, quyền hạn, lợi
ích của người quản lý doanh nghiệp với kết quả hoạt động của DN”.
Cơ cấu các thành phần kinh tế ngày càng được chuyển dịch theo hướng phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế về
quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Từ
những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho
việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền
kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn
lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
1.2.2
Cơ chế quản lý tài chính là hệ thống các quy định về quản lý tài chính được
thiết kế để thực hiện trong các hoạt động kinh tế, được áp dụng và chế tài đối với
các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế cũng như trong
mỗi doanh nghiệp.
Cơ chế quản lý tài chính không chỉ là các qui định, chế độ tài chính, phân cấp
quản lý tài chính mà còn bao gồm những con người hoạt động trong bộ máy quản lý
13 tài chính đang vận hành. Đó là những người thực hiện các quy định, những người
có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các qui định đã đề ra gồm các Bộ,
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Hội đồng quản
trị, Tổng giám đốc, Giám đốc các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh.
Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biện pháp điều
chỉnh, sắp xếp lại doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về quản lý tài chính
của công ty nhà nước, quản lý các nguồn vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp,
1.2.3.1 S do công ty
Công ty nhà nước được quyền chủ động sử dụng số vốn nhà nước giao, các
loại vốn khác, các quỹ do công ty nhà nước quản lý vào hoạt động kinh doanh của
công ty và chịu trách nhiệm trước đại diện chủ sở hữu về bảo toàn, phát triển vốn,
hiệu quả sử dụng vốn. Trường hợp công ty nhà nước sử dụng các quỹ do công ty
quản lý khác với mục đích sử dụng quỹ đã quy định thì phải đảm bảo đủ nguồn để
đáp ứng nhu cầu chi của các quỹ đó khi có nhu cầu sử dụng. Việc sử dụng vốn, quỹ
để đầu tư xây dựng phải theo các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư và xây
dựng. Đối với công ty nhà nước được thiết kế để thường xuyên ổn định cung cấp
sản phẩm, dịch vụ công ích nhà nước đặt hàng giao kế hoạch, phải tập trung vốn và
nguồn lực cho việc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công ích. Khi cần thiết đại
diện chủ sở hữu được điều động vốn giữa các công ty nhà nước được thiết kế để
thường xuyên, ổn định cung cấp sản phẩm dịch vụ công ích do nhà nước đặt hàng
giao kế hoạch theo hình thức ghi tăng, giảm vốn. Việc điều động vốn phải đảm bảo
không làm ảnh hưởng đến việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích của công ty
nhà nước bị điều động vốn. Trường hợp công ty được Nhà nước giao nhiệm vụ đặc
biệt thì phải tập trung vốn và các nguồn lực khác để hoàn thành nhiệm vụ này.
15 1.2.3.2 H
Công ty được quyền huy động vốn để kinh doanh dưới hình thức phát hành
trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu công ty, vay vốn của tổ chức ngân hàng, tín dụng và
các tổ chức tài chính khác, của cá nhân, tổ chức ngoài công ty, vay vốn của người
lao động và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp luật. Việc huy
động vốn để kinh doanh thực hiện theo nguyên tắc tự chịu trách nhiệm hoàn trả, bảo
đảm hiệu quả sử dụng vốn huy động, không được làm thay đổi hình thức sở hữu
công ty. Trong công ty nhà nước thẩm quyền phê duyệt hợp đồng vay vốn được
thực hiện như sau:
Hội đồng quản trị quyết định hợp đồng vay vốn có giá trị lớn hơn vốn điều lệ
của năm kinh doanh đầu tiên; nếu bị lỗ thì phân vổ cho các năm sau, thời gian phân
bổ tối đa là 5 năm (kể từ khi bắt đầu kinh doanh). [2,10]
1.2.3.4
Bảo toàn vốn nhà nước tại công ty nhà nước là việc giữ nguyên không để thâm
hụt số vốn nhà nước tại công ty nhà nước trong suốt quá trình kinh doanh.
Trong cơ chế bao cấp, vốn của các doanh nghiệp nhà nước là do Nhà nước cấp
phát cho nên các doanh nghiệp này không coi vấn đề bảo toàn vốn là trách nhiệm
của mình và là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp mà là công việc của Nhà nước.
Khi chuyển sang cơ chế thị trường, Nhà nước chủ trương xoá bỏ mọi khoản bao cấp
về vốn trong doanh nghiệp quốc doanh, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ
phá sản bị mất dần sau mỗi chu kỳ sản xuất, doanh thu không bù đắp nổi chi phí bỏ
ra, ngay cả quá trình tái sản xuất giản đơn cũng không thể thực hiện được. Vì vậy,
bảo toàn và phát triển vốn là vấn đề quan tâm hàng đầu, là điều kiện để doanh
nghiệp tồn tại và đứng vững trong cạnh tranh.
Công ty nhà nước có trách nhiệm bảo toàn vốn nhà nước có trách nhiệm bảo
toàn vốn nhà nước tại công ty bằng các biện pháp sau:
Thực hiện đúng chế độ quản lý sử dụng vốn, tài sản, phân phối lợi
nhuận, chế độ quản lý tài chính khác và chế độ kế toán theo qui định của nhà nước.
17 Mua bảo hiểm tài sản theo qui định của pháp luật
Xử lý kịp thời giá trị tài sản tổn thất, các khoản nợ không có khả năng
thu hồi và trích lập các khoản dự phòng rủi ro. [2,11]
Việc trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự
phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư dài hạn thực hiện
theo Thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 của Bộ Tài chính. Việc trích
lập và sử dụng dự phòng về trợ cấp mất việc làm thực hiện theo qui định tại Thông
tư số 180/2012/TT-BTC ngày 24/10/2012 của Bộ Tài chính. Việc chuyển lỗ thực
hiện theo quy định hiện hành của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
điều lệ công ty. Đối với công ty có Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị quyết định
các dự án đầu tư có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 50% tổng giá trị tài sản ghi trên báo
cáo tài chính của công ty đựợc công bố tại quý gần nhất, nhưng không quá mức cao
nhất của dự án nhóm B theo quy định của pháp luật về
Tất cả tài sản cố định hiện có của công ty đều phải trích khấu hao, gồm cả tài
sản cố định không cần dùng, chờ thanh lý, trừ những tài sản cố định thuộc công
trình phúc lợi công cộng, nhà ở. Tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn
đang sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì không phải trích khấu hao nữa.
Mức trích khấu hao tối thiểu xác định theo thời gian sử dụng tối đa qui định tại
Quyết định 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về ban
hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Không khống chế
mức khấu hao tối đa. Tổng giám đố hoặc giám đốc công ty quyết định mức khấu
hao cụ thể nhưng không được thấp hơn mức khấu hao tối thiểu.
Thẩm quyền quyết định dự án đầu tư, xây dựng, mức phân cấp được ghi trong
Điều lệ của công ty.
Đối với công ty có Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị quyết định các dự án
đầu tư có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 50% tổng giá trị tài sản ghi trên báo cáo tài
chính của công ty được công bố tại quý gần nhất, nhưng không quá mức cao nhất
của dự án nhóm B theo quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư, xây dựng.
19 Hội đồng quản trị quyết định phân cấp cho Tổng giám đốc hoặc giám đốc công ty
quyết định các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng quản trị.
Các dự án lớn hơn mức phân cấp của Hội đồng quản trị thì đại diện chủ sở hữu của
công ty quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định.
Đối với công ty không có Hội đồng quản trị, Giám đốc công ty quyết định các
dự án đầu tư có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 30% tổng giá trị tài sản ghi trên báo cáo
tài chính của công ty được công bố tại quý gần nhất, nhưng không quá mức cao
nhất của dự án nhóm B theo quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư, xây
được và các khoản thu khác.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đặc thù như ngân hàng, bảo
hiểm thì việc xác định doanh thu áp dụng theo qui định của pháp luật điều chỉnh đối
với lĩnh vực kinh doanh này. [2,22]
Bộ Tài chính qui định điều kiện và thời điểm để xác định doanh thu.
Có hai điều kiện để xác định doanh thu:
1. Doanh thu phát sinh trong kỳ được khách hàng chấp nhận thanh toán có
hoá đơn, chứng từ hợp lệ theo qui định hiện hành.
2. Doanh thu phải hạch toán bằng đồng Việt Nam, trường hợp thu bằng
ngoại tệ phải qui đổi theo tỷ giá của ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao
dịch.
Thời điểm xác định doanh thu là thời điểm công ty đã chuyển giao quyền sở
hữu hàng hoá, sản phẩm; hoàn thành việc cung cấp dịch vụ cho người mua; hoàn
thành hợp đồng hay xuất hoá đơn bán hàng. Đối với hàng hoá sản phẩm bán thông
qua đại lý, doanh thu được xác định khi hàng hóa gửi đã được bán. Đối với các hoạt
động tài chính thì thời điểm xác định doanh thu theo quy định sau:
Lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, lãi bán hàng trả
chậm, trả góp, tiền bản quyền xác định theo thời gian của hợp đồng cho vay, cho
thuê, bán hàng hoặc kỳ hạn nhận lãi;
21 Cổ tức, lợi nhuận được chia xác định khi có nghị quyết hoặc quyết định
chia;
Lãi chuyển nhượng vốn, lãi bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá phát sinh
trong kỳ của hoạt động kinh doanh xác định khi các giao dịch hoặc nghiệp vụ hoàn
thành;
Chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại nợ phải thu, nợ phải trả và số dư ngoại
tệ xác định khi báo cáo tài chính cuối năm.
Giá bán hàng hoá và dịch vụ:
1.2.6.1
Chi phí hoạt động kinh doanh của công ty là các khoản chi phí phát sinh liên
quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm tài chính, bao gồm:
Chi phí vật tư gồm nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, động lực… tính theo mức
tiêu hao thực tế và giá thực tế xuất kho.
Tổng giám đốc xây dựng định mức tiêu hao các loại vật tư cho từng sản phẩm
trình hội đồng quản trị phê duyệt và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các định
mức đó. Đối với công ty không có Hội đồng quản trị, Giám đốc xây dựng, ban hành
và chịu trách nhiệm. Trong quá trình thực hiện nếu mức tiêu hao vật tư thực tế lớn
hơn định mức, phải xác định nguyên nhân và trách nhiệm để xử lý bồi thường. Tiền
bồi thường được hạch toán vào thu nhập khác. Nếu mức tiêu hao thực tế lớn hơn
định mức nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm thì người thực hiện được
thưởng. Mức thưởng không vượt quá giá trị vật tư tiết kiệm được trong năm. Tiền
thưởng được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh. Tổng giám đốc, Giám đốc
quyết định mức bồi thường hoặc mức thưởng. Công ty phải thường xuyên rà soát,
điều chỉnh định mức phù hợp với thực tế.
Giá vật tư thực tế xuất kho
Giá vật tư mua ngoài gồm giá mua ghi trong hóa đơn của người bán và chi phí
vận chuyển, chi phí bốc xếp, chi phí bảo quản, bảo hiểm, hao hụt, tiền thuê kho bãi,