thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã nam cao - kiến xương - thái bình - Pdf 22

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nghĩa của từ
1 ĐVT Đơn vị tính
2 KNXK Kim ngạch xuất khẩu
3 NVL Nguyên vật liệu
4 STT Số thứ tự
5 TTXK Thị trường xuất khẩu
6 TCMN Thủ công mỹ nghệ
7 UBND Ủy ban nhân dân
8 VND Việt Nam đồng
9 XK Xuất khẩu
10 USD United states dollas (Đô la Mỹ)
11 WTO World Trade Organization
(Tổ chức Thương mại Thế giới)
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
BẢNG
HÌNH VẼ
Hình 2.1 Mô hình tổ chức sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của làng nghề
Nam Cao Error: Reference source not found
Hình 2.2 Biểu đồ cơ cấu vốn của các hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân
trong làng nghề xã Nam Cao giai đoạn 2006-2011 Error: Reference
source not found
Hình 2.3 Tổng sản lượng xuất khẩu sang thị trường Thái Lan, Lào và
Campuchia của Làng nghề Nam Cao từ 2006-2011 Error: Reference
source not found
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử loài người, hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra từ rất sớm,
nó gắn liền với các cuộc hành trình khám phá thế giới của con người. Có nghĩa là
thế giới ngày càng phát triển, tầm nhìn của loài người ngày càng được mở rộng,

của nghề dệt đũi ở Nam Cao như Doanh nghiệp dệt nhuộm Đông Thành,
Doanh nghiệp dệt Đại Hoà, Doanh nghiệp dệt An Liên, Doanh nghiệp dệt
Quang Bình Đũi Nam Cao đã trở thành hàng độc nhất vô nhị trong làng dệt
Việt Nam.
Ngày nay, sản phẩm tơ đũi của làng nghề Nam Cao vẫn chủ yếu để phục
vụ xuất khẩu sang thị trường Lào, Campuchia và các nước Tây Á. Làng nghề Nam
Cao có tiềm lực về con người; có bề dày truyền thống kết hợp với máy móc hiện
đại thay thế cho sản xuất thủ công trước kia, qua đó cho thấy tiềm năng xuất khẩu
của làng nghề là rất lớn. Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của làng nghề còn nhiều
hạn chế dẫn đến việc khai thác những tiềm năng của làng nghề chưa tương xứng.
Do vậy đòi hỏi phải có những giải pháp để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu sản phẩm
tơ đũi lụa của làng nghề ngày càng trở nên cấp thiết.
Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Nam Cao, tác giả đã lựa
chọn nghiên cứu đề tài luận văn là “Thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng
nghề xã Nam Cao - Kiến Xương - Thái Bình” với mong muốn những phát hiện
của mình trong đề tài này sẽ đóng góp một phần cho sự phát triển làng nghề tại
quê hương.
2
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài này là đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu
khẩu sản phẩm của làng nghề xã Nam Cao - Kiến Xương - Thái Bình
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài này có 3 nhiệm vụ chính, đó là:
- Trình bày lý luận về thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề, luận giải
sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề Việt Nam.
- Phân tích thực trạng thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã Nam
Cao – Kiến Xương – Thái Bình từ năm 2006 ước tính đến hết năm 2011, làm rõ
những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong việc thúc đẩy xuất
khẩu sản phẩm của làng nghề xã Nam Cao.

của làng nghề xã Nam Cao – Kiến Xương – Thái Bình nói riêng, cũng như nhiều
làng nghề thủ công khác được hoàn thiện hơn.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần: Mục lục, danh mục từ ngữ viết tắt, danh mục bảng hình, lời
mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm
3 chương như sau:
Chương 1.
Cơ sở lý luận về thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề
Chương 2.
Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề xã
4
Nam Cao – Kiến Xương – Thái Bình giai đoạn 2006-2011
Chương 3.
Định hướng và các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của
làng nghề xã Nam Cao – Kiến Xương – Thái Bình cho đến năm 2020
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM
CỦA LÀNG NGHỀ
1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA LÀNG NGHỀ VÀ XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA
LÀNG NGHỀ
1.1.1 Quá trình hình thành, khái niệm và đặc điểm của làng nghề
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đã cho thấy làng
xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống
nhân dân ở nông thôn. Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những
lệ làng phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì đến
ngày nay.
Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thường gắn liền với nông
nghiệp và sản xuất nông thôn. Theo kết quả nghiên cứu sử học, làng xã Việt
Nam xuất hiện từ thời các vua Hùng dựng nước, những xóm làng định canh đã

hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh danh độc lập.
Thu nhập của các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của
cả thôn, làng.
• Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều ngành
nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh
doanh và mang lại thu nhập chủ yếu của làng nghề. Những nghề thủ công của
làng nghề truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác, thường là qua
nhiều thế hệ. Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã
trở thành nghề nổi trội, một nghề cố truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ
công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm vào sản xuất, có
7
quy trình công nghệ nhất đinh và sống chủ yếu bằng nghề đó, sản phẩm của họ
làm ra có tính mỹ nghệ cao và trờ thành hàng hóa trên thị trường.
• Đặc điểm của làng nghề truyền thống:
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống đạt từ 50% trở lên so với
tổng số hộ và lao động của làng. Thông thường cơ cấu trong làng nghề truyền
thống bao gồm các doanh nghiệp tư nhân trong làng nghề và các hộ gia đình
sản xuất.
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên
50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm.
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tó văn hóa và bản
sắc dân tộc Việt Nam.
- Sản phẩm có quy trình công nghệ nhất định được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác.
Hiện nay, có 12 nhóm sản phẩm truyền thống chính của các làng nghề
Việt Nam, bao gồm: Mây tre đan, sản phẩm từ cói và lục bình, gốm sứ, điêu
khắc gỗ, sơn mài, thêu ren, điêu khắc đá, dệt thủ công, giấy thủ công, tranh
nghệ thuật, kim khí, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác.
1.1.2 Xuất khẩu sản phẩm của làng nghề
1.1.2.1 Khái niệm xuất khẩu sản phẩm của làng nghề

1.1.2.2 Đặc điểm của xuất khẩu sản phẩm của làng nghề
Theo khái niệm về xuất khẩu sản phẩm của làng nghề, ta thấy xuất khẩu
là một hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Chính yếu tố
quốc tế đã mang đến cho hoạt động xuất khẩu sản phẩm của làng nghề vừa có
những đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa nói chung, vừa có những đặc điểm
riêng, cụ thể như sau:
9
● Những đặc điểm chung:
- Chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu bao gồm người mua và người
bán có quốc tịch khác nhau.
- Đối tượng của hoạt động xuất khẩu là hàng hóa và dịch vụ được di
chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác.
- Đồng tiền tính toán và thành toán trong quan hệ hàng và tiền là ngoại tệ
đối với 1 hoặc cả hai bên.
- Sự cọ xát giữa các nền văn hóa, ngôn ngữ… xảy ra trong quan hệ buôn
bán giữa các chủ thể.
- Hợp đồng xuất khẩu chịu sự chi phối của những hệ thống luật pháp
phức tạp như: Thông lệ Quốc tế, tập quán quốc tế, hiệp định song phương,
luật nước nhập khẩu, luật nước xuất khẩu…
● Những đặc điểm riêng: do đặc thù của các làng nghề truyền
thống với cơ cấu tổ chức có những điểm khác biệt so với các doanh
nghiệp thông thường, vì thế hoạt động xuất khẩu của làng nghề có những
đặc điểm riêng như:
- Chủ thể tham gia vào xuất khẩu của làng nghề: Các doanh nghiệp tư
nhân trong làng nghề sẽ là những đơn vị thực hiện công tác xuất khẩu sản
phẩm của làng nghề, dựa trên những đơn đặt hàng trực tiếp của doanh nghiệp
từ phía bạn hàng; hoặc dựa trên những đơn hàng được chỉ định từ phía các
hiệp hội hoặc ban quản lý của làng nghề.
- Các hộ sản xuất trong làng nghề đóng vai trò là những người sản xuất,
cung cấp sản phẩm cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trong các làng

•Bản chất của thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề là việc
làng nghề tìm mọi biện pháp để tăng kim ngạch xuất khẩu của mình.
11
1.2.2 Nội dung thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề
Trước khi thực hiện nhưng nội dung của hoạt động thúc đẩy xuất khẩu,
làng nghề cũng phải thực hiện các nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng hoá
nói chung như: Nghiên cứu thị trường nước ngoài; Lựa chọn thị trường xuất
khẩu; Lựa chọn đối tác xuất khẩu; Lập phương án kinh doanh xuất khẩu; Đàm
phán và ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng.
Sau đó để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá ra thị trường nước ngoài, làng
nghề cần thực hiện thêm một số công việc sau:
1.2.2.1 Đề xuất các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu
Sau khi hoàn tất nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, xác định mục tiêu, tìm
ra mặt hàng cho từng thị trường thì làng nghề sẽ nghiên cứu những biện pháp
để có thể thúc đẩy xuất khẩu một cách có hiệu quả. Các biện pháp thúc đẩy
xuất khẩu có thể chia ra làm 2 nhóm chính như sau:
 Nhóm các biện pháp tăng số lượng và kim ngạch xuất khẩu (Biện
pháp mục tiêu):
•Kết hợp giữa xác định mặt hàng trọng điểm với việc đa dạng hoá các
mặt hàng xuất khẩu đối với từng thị trường khác nhau
Dựa trên kết quả thi được từ việc nghiên cứu thị trường, làng nghề sẽ
chọn ra mặt hàng trọng điểm để tập trung sản xuất và thúc đẩy sản xuất mặt
hàng đó trên những thì trường đã chọn. Biện pháp này giúp làng nghề tập
trung nguồn lực của mình để thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm rộng rãi trên thị
trường nước ngoài, từ đó làm tăng kim ngạch xuất khẩu của những mặt hàng
chủ lực này.
•Lựa chọn hình thức kinh doanh xuất khẩu phù hợp với làng nghề
Mỗi loại hình thức kinh doanh xuất khẩu lại có những ưu nhược điểm
riêng. Nhưng không có một phương thức nào đáp ứng được tất cả yêu cầu phù
hợp với mọi điều kiện của làng nghề. Vì thế việc lựa chọn hình thức xuất

Kiểm tra chất lượng hàng hóa xuất khẩu có ý nghĩa rất lớn trong việc
nâng cao hiệu quả hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của một làng nghề. Đây là
khâu cuối cùng trước khi hàng hóa được xuất khẩu sang thị trường nước
ngoài, là khâu loại trừ lần cuối những sản phẩm có khuyết tật để hạn chế đến
mức thấp nhất những rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng. Công tác kiểm tra
chất lượng của làng nghề tốt sẽ đem lại uy tín cho làng nghề trong làm ăn với
những khách hàng, đặc biệt là những khách hàng khó tính. Vì thế, việc kiểm
tra chất lượng hàng hóa xuất khẩu cần được tiến hành nghiêm ngặt ở cả hai
cấp cơ sở và cửa khẩu. Trong đó kiểm tra ở cấp cơ sở giữ vai trò quyết định.
Qui trình kiểm tra nên bắt đầu từ khâu đầu vào.
 Các nhóm biện pháp Marketing xuất khẩu (Biện pháp điều kiện)
•Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
Thông tin luôn chiếm vị trí quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu
hàng hóa ra nước ngoài của làng nghề. Để chất lượng thông tin về thị trường,
sản phẩm được tốt, công tác nghiên cứu thị trường cần tiến hành bài bản. Áp
dụng các mô hình nghiên cứu như SWOT, năm lực lượng cạnh tranh của
Michel Porter… để nghiên cứu thị trường được tổng quan và đầy đủ.
•Xây dựng thương hiệu thương mại cho sản phẩm của làng nghề
Thương hiệu thương mại cho sản phẩm chính là điểm yếu của hầu hết
những hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hiện nay. Thương hiệu ảnh hưởng
trực tiếp đến uy tín của sản phẩm, cũng như của làng nghề, là cách để đánh
giá vị thế của doanh nghiệp trên thị trường và sự ưu tiên của hàng hóa trong
tâm trí khách hàng. Thương hiệu xây dựng không chỉ là cái tên, mà nó còn
bao gồm các bộ phận nhu biểu tượng, slogan, cách trình bày… để có thể cho
ra đời một thương hiệu đúng qui cách. Các làng nghề nên quan tâm nhiều hơn
đến biện pháp này, vì nó cũng chính là biện pháp hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu rất
tốt và đạt hiệu quả lâu dài.
14
•Hoàn thiện kỹ năng định giá hàng hoá xuất khẩu
Nếu chất lượng sản phẩm tạo nên uy tín, thì giá cả lại tạo ra lực hấp dẫn

tính thu được khi áp dụng biện pháp đó. Biện pháp nào cho hiệu quả cao với
chi phí hợp lý sẽ được lựa chọn.
1.2.2.3 Thực hiện các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu
Khi đã tìm ra được biện pháp phù hợp cho thúc đẩu xuất khẩu, làng nghề
sẽ tiến hành tổ chức thực hiện những biện pháp đó bằng cách huy động và
phân phối nguồn lực doanh nghiệp cho từng khâu. Trong qua trình thực hiện
hoạt động thúc đẩy xuất khẩu phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát
tình hình để có những điều chỉnh kịp thời. Sau khi kết thúc thời gian thực hiện
thúc đẩy xuất khẩu theo như mục tiêu đề ra, làng nghề tiến hành tổng kết và
tính toán các chỉ tiêu đạt được, so sánh với mục tiêu đề ra, từ đó, đưa ra kế
hoạch thúc đẩy xuất khẩu cho kỳ tiếp theo.
1.2.3 Các phương thức thúc đẩy xuất khẩu của làng nghề
Để thúc đẩy xuất khẩu, làng nghề có thể thực hiện theo hai phương thức là
thúc đẩy xuất khẩu theo chiều rộng và thúc đẩy xuất khẩu theo chiều sâu. Trên
thực thế, làng nghề không áp dụng riêng lẻ một trong hai phương thức này mà
thường áp dụng cả hai phương thức cùng một lúc nhằm đạt được kết quả tốt nhất
trong hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu.
1.2.3.1 Thúc đẩy xuất khẩu theo chiều rộng
Thúc đẩy xuất khẩu theo chiều rộng là phương thức mà theo đó làng
nghề muốn mở rộng thị trường xuất khẩu theo phạm vi địa lý, đa dạng hóa
sản phẩm để tăng thêm lượng khách hàng sử dụng sản phẩm của mình.
Phương thức này sẽ hữu ích với những làng nghề có những đặc điểm
16
sau:
- Bị cạnh tranh gay gắt bởi nhiều đối thủ và có nguy cơ mất đi thị trường
truyền thống, khi đó làng nghề bắt buộc phải tìm cho mình những thị trường
mới.
- Có đủ năng lực để thâm nhập vào thị trường mới, tức là khả năng về tài
chính cũng như nhiều nhân tố khác có thể đảm bảo cho việc mở rộng thị
trường xuất khẩu sang những thị trường mới.

1.2.4.1 Các nhân tố bên ngoài làng nghề: Bao gồm các nhân tố của môi
trường quốc tế và các nhân tố của môi trường trong nước:
Thứ nhất, các nhân tố của môi trường quốc tế gồm có:
 Biến động kinh tế thế giới
Những yếu tố như thị trường chứng khoán thế giới, giá xăng dầu, giá vàng,
tỷ giá, lãi suất…thay đổi kéo theo những hệ luỵ trên phạm vi toàn cầu. Thương
mại quốc tế vì thế cũng bị ảnh hưởng theo. Đây là những nhân tố có vai trò quan
trọng tác động trực tiếp tới các yếu tố cấu thành thị trường như: cung cầu, giá cả,
tiền tệ… Mọi sự thay đổi của những nhân tố trên sẽ gây ra những ảnh hượng
thuận hay nghịch đến việc thúc đẩy xuất khẩu của mỗi làng nghề.
Sự thay đổi của tỷ giá hối đoài cũng làm thay đổi tương quan tiền tệ giữa
các quốc gia. Nếu đồng nội tệ lên giá so với đồng ngoại tệ, thì hợp đồng xuất
khẩu hàng hóa sẽ bị giảm giá trị một cách tương đối so với trước khi ký kết.
18
Điều này ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện hợp đồng của các làng nghề; kéo
theo những thương vụ xuất khẩu bị đổ bể, làm chậm quá trình thúc đẩy xuất
khẩu của làng nghề đó.
 Sự khác biệt trong văn hoá
Hoạt động xuất khẩu gắn liền với sự đa dạng trong văn hóa kinh doanh.
Mỗi một quốc gia tồn tại những nền văn hóa khác nhau bao gồm phong tục
tạp quán, tôn giáo, lối sống, ngôn ngữ, thói quen tiêu dùng…. Tất cả đều có
ảnh hưởng sâu sắc đến quy mô, cơ cấu, nhu cầu thị trường. Tức là nó tác động
trực tiếp lên cầu từng mặt hàng và thị trường sản phẩm của làng nghề. Do đó,
công tác mở rộng, thúc đẩy xuất khẩu chịu sự chi phối rất lớn từ nhân tố này.
Các làng nghề nếu không nghiên cứu và nắm rõ văn hóa của người tiêu dùng
nước ngoài thì các sản phẩm sẽ rất khó thâm nhập và tồn tại được vì chính
văn hóa sẽ tạo nên “rào chắn” cho sự thâm nhập này. Nhưng nếu am hiểu về
những giá trị văn hóa, phong tục của những đối tác nước ngoài thì việc phát
triển sản phẩm trên cơ sở định hướng khách hàng, định hướng thị trường của
doanh nghiệp sẽ rất phát triển. Đồng thời, các cơ hội làm ăn sẽ thuận lợi hơn

mất đi những đơn hàng nếu như sự chênh lệch về giá so với đối thủ cạnh tranh
là qúa cao. Điều này hạn chế việc thúc đẩy xuất khẩu của các làng nghề
•Lãi suất cho vay cũng ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn cho xuất
khẩu của làng nghề. Thực hiện các hợp đồng xuất khẩu giá trị lớn cần một
khoản vốn đầu tư lớn mà không phải làng nghề nào cũng sắn có. Nếu lãi suất
cho vay quá cao. Rủi ro về thanh toán nợ của làng nghề sẽ tăng. Rất nhiều
làng nghề không thể sẵn sàng chấp nhận. Vì thế mà họ bở lỡ những cơ hội
hấp dẫn. Hoạt động thúc đẩy xuất khẩu vì thế mà không thực hiện được.
 Chính trị – Luật pháp của quốc gia:
•Chính trị mà ở đây là các chính sách khuyến khích xuất khẩu của chính
20
phủ và những chính sách trợ cấp xuất khẩu thể hiện mức độ quan tâm của Nhà
nước đến hoạt động xuất khẩu của các làng nghề. Tuy nhiên, trong bối cảnh
hội nhập toàn cầu, không phải ngành nào cũng được ưu tiên quan tâm. Vì thế
những làng nghề sản xuất kinh doanh trong những lĩnh vực được ưu đãi sẽ
gặp rất nhiều thuận lợi khi tiến hành thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa,dịch vụ của
mình ra nước ngoài và ngược lại.
•Luật pháp về kinh tế thương mại như: Luật thuế quan, Luật hải quan,
biểu thuế xuất nhập khẩu, … được ban hành để điều chỉnh các hoạt động xuất
nhập khẩu của doanh nghiệp. Các làng nghề khi tham gia xuất khẩu nắm rõ
các luật này thì việc xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu ra nước ngoài sẽ được
tiến hành nhanh chóng và không bị sai phạm.
Thứ ba, các nhân tố của môi trường ngành: Môi trường ngành tiềm ẩn
những lực lượng cạnh tranh, tạo nên động lực cho các làng nghề thúc đẩy xuất
khẩu hàng hóa, dịch vụ trong ngành ra thị trường nước ngoài.
 Mức độ cạnh tranh của các làng nghề và doanh nghiệp trong
ngành: Mức độ cạnh tranh càng gay gắt cho thấy sự phát triển của ngành đó.
Số lượng các làng nghề, doanh nghiệp trong ngành thể hiện cường độ cạnh
tranh. Số lượng càng nhiều thì cường độ cạnh tranh càng mạnh. Khi cạnh
tranh trong nước đến thời điểm gay gắt thì các doanh nghiệp phát sinh nhu

khác nhau như: hội trợ triển lãm, quảng cáo, thương mại điện tử… thì thông
tin về thị trường, khách hàng sẽ thu thập dễ dàng hơn, các cơ hội kinh doanh
được mở ra, làng nghề sẽ có thêm những đối tác mới trong làm ăn. Qua đó,
hoạt động xuất khẩu được thúc đẩy.
 Chính sách huy động vốn: bao gồm kế hoạch vay vốn ngân hàng,
22

Trích đoạn Giá trị gia tăng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm của làng nghề qua cỏc năm KNXK (K) Thỏi Lan Những ưu điểm trong thỳc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề Nam Cao giai đoạn 2006- Những tồn tại trong thỳc đẩy xuất khẩu sản phẩm của làng nghề Nam Cao giai đoạn 2006- Nguyờn nhõn từ phớa làng nghề
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status