đề tài xây dựng văn hoá học đường trong một số trường đại học ở hà nội hiện nay - Pdf 22

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

XÂY DỰNG VĂN HOÁ HỌC ĐƯỜNG TRONG MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

CNĐT : HỒ SĨ LỘC 9111 HÀ NỘI – 2011

triển, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên
CNXH (1), trong hơn 10 năm thực hiện Nghị Quyết Trung ương 5, khoá VIII)
(1998 – 2008), Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã cùng nỗ lực phấn đấu
để giành được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hoá
nước nhà.
2

2.2. Đảng và nhà nước đã nhận thức sớm, phải xây dựng văn hoá
học đường.
Nhận thức tầm quan trọng, tính toàn diện và thiết thực của phong trào
“Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa”. Trong đó, xây dựng văn hóa học
đường được coi là nhiệm vụ trọng tâm. Đảng ta đã đề ra Nghị quyết Trung
ương 1 năm 1997, khoá VIII, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998
về xậy dựng và phát triển nền v
ăn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Văn
kiện Đại hội Đảng lần thứ 9 năm 2001. Bộ giáo dục - Đào tạo và Bộ văn hoá -
Thông tin đã ký kế hoạch phối hợp số 2723 /CTCT ngày 12/4/2001 về việc
“Phối hợp thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá
trong trường học”. Sau 9 năm thực hiện cuộc vận động này đã đạ
t được những
kết quả bước đầu rất cơ bản trên nhiều mặt ở các bậc học. Phong trào phát
triển mạnh về bề rộng, có nhiều cách làm mới, sáng tạo…"
2.3. Thực trạng xây dựng văn hoá học đường trong hệ thống các
trường Đại học ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng hiện nay.
Trong quá trình xây dựng văn hoá học đường đã đạt được nhiều thành
quả to lớn nh
ưng cũng bộc lộ hạn chế cần phải khắc phục: Phong trào mới bề
rộng chưa có bề sâu. Một số nơi còn mang tính thời vụ, hình thức, xuất hiện
quan niệm coi bản thân trường Đại học là cơ sở văn hoá vì vậy không cần

ặt tiêu
cực mới về mặt tư tưởng đạo đức, lối sống của cả người dạy và người học làm
cho các nhà quản lý giáo dục và những người tâm huyết với sự nghiệp trồng
người ái ngại.
2.4. Yêu cầu cấp bách phải xây dựng văn hoá học đường trong các
trường Đại học.
Từ sự phân tích trên, rõ ràng việc thiết kế các mô hình, hình mẫu văn
hoá cùng với hệ tiêu chí, chu
ẩn mực phù hợp với điều kiện của các trường Đại
học ở Hà Nội là việc làm cấp bách đang đặt ra đối với các nhà quản lý giáo
dục, quản lý văn hoá trong điều kiện hiện nay. Điều này càng quan trọng và
cần thiết hơn khi mà cùng với xu thế hôị nhập, hàng loạt những kiểu sống mới
đang thay đổi từng ngày. Định hướng giá trị của tu
ổi trẻ, cũng có sự thay đổi,
trong đó có sinh viên – bộ phận ưu tú của thanh niên – những người rất nhạy
cảm với cái mới (bao gồm cái mới hay và cái mới dở). Vấn đề là cần xây
dựng mô hình nào cho phù hợp với điều kiện nhà trường hiện nay? Mô hình
đó bao gồm những tiêu chí cụ thể gì? Những bộ phận nào có trách nhiệm thực
4

hiện? Để giải quyết một cách thấu đáo những câu hỏi trên đòi hỏi rất nhiều
công sức nghiên cứu về lý luận cũng như thực nghiệm với những mô hình
khác nhau ở nhiều trường Đại học trên nhiều địa phương cả nước, và đặc biệt
là ở thủ đô Hà Nội.
Với cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của một ng
ười làm công tác
nghiên cứu văn hoá học đường, bằng những kinh nghiệm của bản thân tích
luỹ được trong thời gian công tác ở trường Đại học trên địa bàn hà Nội. Trên
cơ sở tiếp thu thành quả của những người đi trước, chủ nhiệm đề tài và các
cộng tác viên hy vọng những vấn đề trên sẽ bước đầu được tháo gỡ trong khi

thuật, số 4/2003. Dương Tự Đạm – VH thanh niên và thanh niên với văn hóa
dân tộc. Nxb TN 2001.
Đặng Đức Siêu “Hành trình văn hóa Việt Nam” Nxb
Lao động, Hà Nội 2002. Các tác giả này đều thống nhất với nhau về khái
niệm văn hóa: văn hóa là tất cả những giá trị về vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Xã hội càng phát triển thì đời sống
văn hóa càng phong phú và sinh động. Bề dày của văn hóa nhân loại tỷ lệ
thuận với thời gian kéo dài trong lịch sử.
- Trịnh Thị Minh Loan, trong tác phẩm”Mộ
t số khái niệm về văn
hóa”Viện nghiên cứu sư phạm, ĐH sư phạm Hà Nội, 2005. Tác giả đưa ra
nhiều khái niệm văn hóa theo các góc độ khác nhau: Góc độ lịch sử, dân tộc
học, khảo cổ học, văn học, nghệ thuật, triết học, tâm lý học, xã hội học,…
- Nguyễn Trần Bạt, viết tác phẩm “Văn hóa và con người”, Nxb Thông
tin, 2006. Tác giả cho rằng, văn hóa là một hiện tượ
ng khách quan, là tổng
hòa của tất cả các khía cạnh trong cuộc sống, không nên chia thành văn hóa
vật chất và văn hóa tinh thần. Cấu trúc của văn hóa gồm: tri thức, tín ngưỡng,
đạo đức, truyền thống, pháp luật, thẩm mỹ và lối sống,…
Vấn đề 2. Thực trạng văn hóa học đường
Văn hóa học đường đang xuống cấp nghiêm trọng. Đó là lời nhận xét
của đông đảo nhân dân và các nhà khoa họ
c. Điều này được thể hiện trong các
tác phẩm:
- Báo động văn hóa học đường xuống cấp. Báo Lao động, ngày
13/12/2009.
6

- Hồng Đức. Thực trạng văn hóa học đường. Bản tin ĐHQG Hà Nội –
số 174, tháng 8/2005.

7

Vấn đề 4. Vai trò của văn hóa học đường trong các trường Đại học.
- Trên “Bàn tròn văn hóa”. Báo Lao động, số 117 ngày 26/5/2008, các
tác giả khẳng định “Xây dựng văn hóa học đường có ý nghĩa quyết định chất
lượng đào tạo của các trường đại học”.
- GS. Trương Lưu, trong tác phẩm “Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã
hội”. Nxb Văn hóa – Thông tin. HN 1998. Cho rằng: Thông qua văn hóa học
đường, sinh viên và thầy giáo nhận ra điể
m mạnh và điểm yếu của chính mình
- Phạm Minh Hạc, Hồ Sĩ Quý. Nghiên cứu con người, đối tượng và
những hướng chủ yếu. Niên giám nghiên cứu số 1. Nxb KH – XH, HN 2002,
các tác giả cũng cho rằng: Xây dung văn hóa học đường tạo điều kiện để đưa
tiêu chí chân, thiện, mỹ vào trong trường đại học.
Vấn đề 5. Nội dung cơ bản của văn hóa học đường
- Nguyễn Viết Ch
ức (chủ biên). Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống
và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời ký đẩy mạnh CNH – HĐH đất
nước. Viện văn hóa và Nxb Văn hóa thông tin. HN 2001. Các tác giả cho
rằng, ở các trường đại học, nội dung cơ bản của xây dưng văn hóa học đường
là: Giáo dục nếp sống văn hóa lành mạnh cho sinh viên và xử lý đúng đắn các
mối quan h
ệ giữa thầy với thầy, thầy với trò, trò với trò, giữa thầy, trò với cán
bộ công nhân viên.
- Viện nghiên cứu Thanh niên, Trung tâm phát triển khoa học công
nghệ tài năng trẻ. Thế hệ trẻ Việt Nam – Nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Nxb
Lao động – xã hội. HN 2001. Nhấn mạnh nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất
trong trường đại học là để đáp ứng nhiệm vụ giáo dục và đào t
ạo đạt chất
lượng cao.

kinh tế thị trường và vấn đề xây dựng nền văn hóa đạo đức mới. Tạp chí văn
hóa, nghệ thuật. HN 2002. Theo tác giả, trong nền kinh tế thị trường, các giá
trị vă
n hóa đạo đức tốt đẹp của dân tộc vẫn không hề thay đổi và không hề bị
chi phối.
- Quốc Việt. Văn hóa giao tiếp học đường: Thầy và trò chưa là bạn của
nhau. Báo Thanh Niên ngày 15/08/2009. Tác giả phân tích kỹ vị trí, vai trò
của văn hóa giao tiếp. Tác giả cho rằng trong quan hệ giao tiếp giữa thầy và
trò cần phải bảo đảm chuẩn mực thầy là thầy, trò là trò, không nên xóa bỏ
ranh giới giữa thầy và trò.
9

Vấn đề 7: Phương hướng và giải pháp xây dựng văn hóa học đường
- Nguyễn Đức Minh. Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác sinh
viên trong các trường Đại học, cao đẳng Hà Nội. HN 2003. Tác giả cho rằng:
Để nâng cao chất lượng công tác sinh viên cần tập trung vào giáo dục thể
chất, ý thức trong học tập, rèn luyện, quan hệ ứng xử với giáo viên, sinh viên,
cán bộ công nhân viên phải đúng mực theo đúng giá trị đạo đức.
- Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễ
n Thạc, Mạc Văn Trang. Giá trị định
hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị. Chương trình khoa học, công nghệ
cấp Nhà nước KX-07-04. HN 1995. Tác giả đưa ra hàng loạt giá trị chuẩn
mực đạo đức trong nhà trường, coi đó là khuôn mẫu để áp dụng cho các
trường đại học.
- PGS.TS. Phùng Hữu Phú. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng
môi trường văn hóa ở các trường đại học – cao đẳng Hà Nội. HN 2001. Tác
giả đề cao vai trò của các tổ
chức Đảng, đoàn trong trường đại học đối với
việc xây dựng văn hóa học đường.
- Vũ Thị Phương Lê. Định hướng giá trị của sinh viên sư phạm ở thành

nhiều
góc độ khác nhau nhưng nhìn chung đó là những vấn đề mang tính tổng hợp
và lý luận, chưa có nhiều công trình thực sự đi sâu vào nghiên cứu những
thiết chế cụ thể, trong đó có trường đại học - một thiết chế văn hoá học đường
đặc biệt. Theo đó thì tiêu chí xây dựng văn hoá học đường trong trường Đại
học tuy có được gợi mở những lại chưa được xem xét m
ột cách toàn diện với
tư cách là một đối tượng nghiên cứu của một công trình khoa học. Còn vấn đề
xây dựng các mô hình văn hoá học đường trong trường đại học thì cho đến
nay vẫn chưa thấy một công trình nghiên cứu nào đề cập đến.
Như vậy, có thể nói xây dựng văn hoá học đường trong hệ thống các
trường Đại học ở Hà Nội hiện nay là một đề tài mới mẻ và là m
ột đề tài hấp
dẫn để người viết có thề trình bày những ý tường của mình cả về lý luận và
thực tiễn. Xây dựng môi trường văn hoá học đường lành mạnh trong trường
Đại học, góp phần đưa Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đi vào đời sống
học đường nhằm đào tạo những sinh viên có đủ tài năng và đức độ đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệ
p đổi mới và xu thế hội nhập quốc tế. 11

4. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
4.1. Trình bày một số khái niệm liên quan đến đề tài xây dựng văn hóa
học đường trong các trường Đại học
4.2. Tìm hiểu thực trạng văn hoá học đường trong một số trường Đại
học ở Hà Nội hiện nay.
4.3. Từ thực tế khảo sát văn hoá học đường ở một số trường Đại học
trên dịa bàn Hà nộ

6.2.1. Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát, phỏng vấn, điều tra, trắc
nghiệm chủ thể và khách thể của văn hoá học đường trong các trường Đại học
ở Hà Nội, đề tài nêu lên thực trạng văn hoá học đường trong hệ thống các
trường Đại học ở Hà Nội, từ đó tìm ra những nguyên nhân cơ bản của thực
trạng
ấy.
6.2.2. Xây dựng các hình mẫu văn hoá, mô hình tổ chức, thiết chế văn
hoá học đường như là một giải pháp vừa khả thi, vừa có tính cơ bản, vừa
mang ý nghĩa lâu dài để từ đó tùy theo điều kiện cụ thể của trường Đại học
mà có thể áp dụng linh hoạt vào trường của mình nhằm từng bước xây dựng
môi trường văn hóa học đường lành mạnh, phụ
c vụ tốt cho việc dạy và học
trong tình hình hiện nay.
7. Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Các khái niệm, các thành tố cơ bản, những yếu tố tác
động, vai trò và sự cần thiết phải xây dựng văn hóa học đường
1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Muốn nghiên cứu văn hóa học đường trong các trường đại học, trước
tiên phải có một khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu
trúc của nó.
Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa, được xem xét từ nhiều góc độ và
tùy từng cách tiếp cận sẽ dẫn đến sự khác nhau trong việc xác định khái niệm.
Có thể nói, trong khoa học xã hội và nhân vă
n, văn hóa là một trong những
khái niệm được định nghĩa nhiều nhất nhưng để đi tới một định nghĩa thống
nhất thì vẫn là nhiệm vụ trong tương lai của các nhà nghiên cứu ít nhất là cho
đến nay. Việc có quá nhiều định nghĩa văn hóa không gây ngạc nhiên, trái lại
càng làm cho chúng ta hiểu biết về nó một cách phong phú và toàn diện hơn.
Trên thực tế, cũng đã có rất nhiều người cố gắng

khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu
thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ là lối sống mà dựa trên
đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.
Nói cách khác, văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo
để làm cho cuộc sống mỗi người ngày một đẹp hơn. (Văn
hóa trong tiếng Hán Việt: có nghĩa là trở nên đẹp đẽ hơn). Hay theo
14

G.Festistete thì văn hóa – đó là cách mà người ta sống và cách người ta suy
nghĩ.
Văn hoá là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía
cạnh của đời sống. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống
cũng mang những dấu hiệu văn hoá. Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống
nhau, nhưng nếu xem xét kỹ thì lại có những điểm riêng biệt. Trong thực tế
,
không có sự giống nhau tuyệt đối.
Theo 2 nhà nhân học người Mỹ trong bài viết “Văn hóa - nhìn lại các
quan niệm và định nghĩa” thì có thể chia các định nghĩa văn hóa thành 6 loại
chủ yếu sau đây:
1 ) Các định nghĩa miêu tả - liệt kê tất cả những gì văn hóa bao hàm.
2) Các định nghĩa lịch sử - nhấn mạnh quá trình kế thừa truyền thống.
3) Các định nghĩa chuẩn mực - hướ
ng vào quan niệm về lý tưởng và
giá trị.
4) Các định nghĩa tâm lý - nhấn mạnh thái độ ứng xử của con người.
5) Các định nghĩa cấu trúc - chú trọng tới cấu trúc của văn hóa.
6) Các định nghĩa biến sinh - đi từ góc độ nguồn gốc của văn hóa.
Ở Việt Nam, phó giáo sư Từ Chi đã tổng hợp cách hiểu văn hóa của thế
giới theo 2 góc độ:

chung «văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động
lực thúc đẩy sự phát tri
ển kinh tế - xã hội », tập trung vào những lĩnh vực lớn:
tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, giáo dục, khoa học, văn học
nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa với thế giới, các thể chế và
thiết chế văn hóa.
Dưới góc độ lịch sử và giá trị, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa
VIII) của Đảng đ
ã định nghĩa về văn hóa Việt Nam:”Văn hóa Việt Nam là
thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng
nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và
tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện
mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách,, bản lĩnh Việt
Nam, làm rạng rỡ lịch sử v
ẻ vang của dân tộc”.
Có một số nhà nghiên cứu phân chia văn hóa thành hai lĩnh vực : Văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần là không thật hợp lý và thấu đáo. Nó phản
16

ánh lối tư duy lưỡng phân điển hình, ảnh hưởng của những định kiến về tư
tưởng cần phải xóa bỏ.
Thực ra, lối phân chia như thế cũng có tác dụng nào đó. Nó cho ta một
cái nhìn tuy khá thô thiển nhưng khá bao quát về những lĩnh vực đời sống của
con người: Những sản phẩm tinh thần như khoa học, văn học nghệ thuật, các
phong tục tập quán,… và nhữ
ng sản phẩm vật chất như đồ đạc, nhà cửa,
đường sá,… Tuy nhiên thật khó và ngày càng khó phân biệt rạch ròi đâu là
sản phẩm vật chất, đâu là sản phẩm tinh thần. Mặt khác, không có sản phẩm
tinh thần nào lại không được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định
và cũng như không có một sản phẩm vật chất nào lại không mang trong nó

Biểu trưng đầu tiên của các biểu tượng phản văn hóa là nó đứng về
phía cái sai để củng cố, cổ vũ cho cái sai, ra sức trấn áp, phù dọa cái đúng.
Tuy nhiên, thế nào là đúng, thế nào là sai lại không dễ chút nào. Ở nước ta, có
một thời kỳ rất dài người ta cho rằng, bao cấp là một hiện tượng nhân đạo và
có văn hoá. Thế rồi từ bao cấp, trong xã hội đã xuất hiện ngày càng nhiề
u các
hiện tượng phản văn hóa, đó là nạn quan liêu, tệ cửa quyền, sự lười nhác, các
khát vọng và nguồn lực bị thủ tiêu. Trong xã hội, chúng ta dễ tìm thấy những
hiện tượng ở thời điểm này thì đúng, ở thời điểm khác lại sai. Như vậy phép
biện chứng của cái đúng và cái sai, cái văn hóa và cái phản văn hóa không thể
do ý muốn chủ quan mà phải dựa trên cơ sở
khoa học. Khoa học cùng tuyến
với cái đúng, phản khoa học là cùng tuyến với cái sai và cũng là hiện tượng
phản văn hóa. Đúng - sai là dựa trên cơ sở khoa học, đồng thời là nền tảng
vĩnh cửu của chân lý. Nó mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo và đạt tới tầm
nhân loại. Như vậy phản văn hóa thường xuất hiện từ cái sai, cái phản khoa
học, chống lại công lý và chân lý.
Biểu tr
ưng thứ hai của các hiện tượng phản văn hóa là thường đứng về
phía cái cái ác chống lại cái thiện.
Làm điều thiện là có văn hóa và làm điều ác là phản văn hóa. Tuy nhiên
lấy chuẩn thiện - ác để phân biệt một hiện tượng văn hóa và phản văn hóa
trong cuộc sống hiện nay phải xuất phát từ quyền lợi giai cấp. Những cái có
lợi cho giai cấp tiến bộ thường đượ
c lịch sử xác nhận là có văn hóa. Những
cái phục vụ cho giai cấp phản động thường là những hiện tượng phản văn
hóa. Mặt khác cái thiện, cái ác còn mang tính chất thời đại, hay chuẩn đạo đức
18

1ễ nghĩa của dân tộc, nghĩa là nó phụ thuộc vào sự chấp nhận của thời đại hay

học đường – yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. HN., 2008.
19

Các tác giả đều khẳng định: “Văn hóa học đường là văn hóa diễn ra
trong trường học, thể hiện các chuẩn mực đạo đức của xã hội, trong đó, quan
hệ giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa trò với trò là quan hệ chủ đạo.
Xây dựng văn hóa học đường có ý nghĩa quyết định tới chất lượng giáo dục
đào tạo và có ảnh hưởng rấ
t lớn tới cộng đồng xã hội.
- GS Phạm Minh Hạc, Chủ tịch Hội Khoa học tâm lý giáo dục Việt
Nam cho biết: Thuật ngữ văn hóa học đường xuất hiện tại các nước nói tiếng
Anh vào những năm 1990. Một số nước như Mỹ, Úc đã có trung tâm nghiên
cứu, khảo sát thực tiễn và đánh giá vấn đề này. Dù có nhiều ý kiến khác nhau
nhưng đều thống nhất mỗi trường họ
c đều có văn hóa học đường của mình.
Giáo sư khái quát “Văn hóa học đường là hệ các chuẩn mực, giá trị giúp cán
bộ quản lý nhà trường, thầy cô, phụ huynh, học sinh, sinh viên có cách thức
suy nghĩ, hành động, tình cảm tốt đẹp. Văn hóa học đường ở Việt Nam cần
đảm bảo 3 yếu tố: Cơ sở vật chất đảm bảo, môi trường giáo dục tốt và văn hóa
ứng xử, giao tiếp” (TC Tuyên giáo, tháng 11 nă
m 2009).
Theo đó, văn hoá học đường cũng có các chức năng biểu tượng, chức
năng xây dựng, chức năng hướng dẫn và chức năng gây cảm xúc. Nếu các
chức năng ấy của nền văn hoá học đường được làm tốt, nghĩa là mỗi thành
viên trong các trường học vừa phải thấm nhuần, gìn giữ các giá trị văn hoá
truyền thống và những phẩm giá quy báu của dân tộc (tinh thầ
n yêu nước, ý
thức độc lập dân tộc, tự lực, tự cường, đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc; Tính
trung thực, cần cù sáng tạo trong mọi hoạt động; sự hiếu học và tôn sư trọng
đạo; lòng nhân ái, tình cảm vị tha và khoan dung; có hành động và thái độ rõ

chính, tạo nên tâm lực, trí lực, thể lực – các giá trị của mỗi người. Gần đây,
khi đời sống xã hội trở nên phức tạp hơn trước, người ta nói nhiều đến
chữ”Tâm”. Trong Nho học người ta nói nhiều đến”Nhân”,”Lễ”. Lễ chính là
văn hóa, là đạo đức, một nội dung cốt lõi c
ủa văn hóa học đường. “Tiên học
lễ, hậu học văn” cũng có ý nghĩa như vậy. Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học
văn” được nêu ở tất cả các trường học. Song, làm theo khẩu hiệu này thì còn
nhiều điều đáng phàn nàn.
1.1.3. Khái niệm văn hóa ứng xử
Các nhà khoa học đã xác định thực chất của văn hóa học đường là văn
hóa ứng xử
. Điều này thôi thúc chúng ta tìm hiểu văn hóa ứng xử.
21

Nội hàm khái niệm “văn hóa ứng xử” được tập thể tác giả công trình
“Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên” xác định
tương đối đầy đủ, gồm cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con
người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác
(3). Nghĩa là, văn hóa ứng xử, theo các tác giả, gồm 3 chiều quan hệ: Với môi
trườ
ng tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường văn hóa. Văn hóa ứng xử
gắn liền với các thước đo mà xã hội dùng để ứng xử, đó là các chuẩn mực xã
hội.
Cụ thể, văn hóa ứng xử thông thường được chi phối bởi 4 hệ chuẩn
mực cơ bản của nhân cách: Hệ chuẩn mực trong lao động; hệ chuẩn mực
trong giao tiếp; hệ chuẩn mực gia đ
ình; các chuẩn mực phát triển nhân cách.
Trong qúa trình ứng xử, con người phải lựa chọn giữa cái thiện và cái ác, cái
đúng và cái sai, cái đẹp và cái xấu, cái hợp lý và cái phi lý…trong một cộng
đồng nhất định. Sự lựa chọn này bị chi phối cũng bởi bốn hệ chuẩn mực là: hệ

mọi sinh vật, Đó là các dạng vật thể (đất, nước, không khí,…) và các dạng
sinh vật…kể cả con người.
b) Thế giới thiên nhiên thứ hai – thiên nhiên có sự tác động của con
người và do con người tạo ra một bản sao từ thiên nhiên thứ nhất để làm
thành một thế giới m
ới (nhà ở, kết cấu hạ tầng nông thôn, đô thị, cây trồng,
vật nuôi…) thiên nhiên thứ hai này, kể cả con người, là một bộ phận, hơn nữa
là một bộ phận đặc thù của thiên nhiên hay của thiên nhiên thứ nhất. Thiên
nhiên thứ hai bao gồm cả môi trường xã hội và môi trường văn hóa, vì đều là
môi trường mà con người đó thích nghi và biến đổi.
Môi trường xã hội :là môi trường của các mối quan hệ và tác động qua
l
ại giữa người và người. Xã hội, theo C.Mác “cho dù nó có hình thức gì đi
nữa – là cái gì? Đều là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con
người”. Từ các mối quan hệ và tác động này, đã hình thành cơ sở hạ tầng của
xã hội, trước tiên và cơ bản là phương thức sản xuất của xã hội và tương ứng
với nó là cơ cấu xã hội - giai cấp. Cùng với việc sáng tạo ra nhữ
ng giá trị vật
chất, kinh tế, con người cũng sáng tạo ra các giá trị xã hội khác. Các giá trị
này là cơ sở và định hướng cơ bản cho việc phát triển các quan hệ xã hội và
các mối tác động qua lại giữa người với người. Các giá trị vật thể, phi vật thể
này đã tạo ra một môi trường sống mới của con người – đó là môi trường văn
hóa.
23

Môi trường văn hóa: là môi trường mà con người không chỉ thích ứng
hơn thế con người còn làm biến đổi môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội. Đặc trưng của môi trường văn hóa là luôn vận hành theo một hệ thống
các giá trị văn hóa được cả cộng đồng chấp nhận và làm theo.
1.1.4. Khái niệm giao tiếp và văn hóa giao tiếp

thành sự phát triển nhân cách con người.
- A.N Lêônchep (nhà tâm lý học người Nga) là người đầu tiên đưa ra
cấu trúc của hoạt động và ông cho rằng:”giao tiếp nằm trong hoạt động”
- Flomôp cho rằng: “giao tiếp là phạm trù độc lập đặc trưng chỉ có ở
con người. Giao tiếp không gắn với hiện tượng nó là một phạm một
trù độc
lập. Từ đó giao tiếp đã trở thành rất cần thiết trong mọi lĩnh vực: tâm lý học
sư phạm, y học, thể thao,…”
- Các nhà tâm lý học ứng dụng cho rằng: “Giao tiếp được xem là một
sự tập hợp các quá trình nhằm truyền đạt và tự giác các thái độ, các niềm tin
và ý định dựa vào bộ sinh học và tâm lý chung của loài người làm sao cho
các bên hiểu được và đạt được m
ục đích của giao tiếp”
Tâm lý học nhân cách cho rằng: “Giao tiếp là quá trình tác động giữa người
và người thông qua đó mà có sự tiếp xúc tâm lý được thực hiện các quan hệ
liên nhân cách được cụ thể hoá”.
Các nhà tâm lý học kinh doanh cho rằng: “Giao tiếp là một quá trình
mà trong đó mục đích kích thích dưới dạng một thông điệp được một bộ phát
truyền đi nhằm tác động và gây ra một hiện quả khi đi tới m
ột bộ phận thu”
Nhà tâm lý học xã hội Anh - M.Argyle mô tả quá trình ảnh hưởng lẫn
nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau ông cho rằng giao tiếp thông tin
mà nó biểu hiện bằng lời hay không bằng lời từ nhiều người đến một người
giống với việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại
về mặt vật lý và chuyển dịch không gian. (Trần Hiệp - Tâm lý họ
c xã hội
những vấn đề lý luận - NXB KHXH. HN 1996)
Trong đề tài này, người viết chủ yếu dùng khái niệm dưới góc độ văn
hoá học; vậy, hiểu giao tiếp như là một quá trình có sự tăng trưởng về lượng
và chất qua thời đoạn khác nhau, nên có thể định nghĩa: “Giao tiếp là một quá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status