LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
-Quá trình hội nhập và phát triển cùng nền kinh tế khu vực và thế giới đã tạo cho
nước ta nhiều cơ hội và thử thách mới. Hội nhập đồng nghĩa với việc hàng hóa
ben ngoài tràn vào thế giới với giá rẻ hơn và những hàng hóa có lợi thế hơn xuất
khẩu ra nước ngoài, tràn vào với giá rẻ hơn và những hàng hóa có lợi thế hơn
xuất khẩu ra nước ngoài, nhưng đồng thời cũng làm tăng sức ép cạnh tranh vốn
đã gay gắt lại càng gay gắt hơn giữa các doanh nghiệp. Do đó để đứng vững trên
thị trường các doanh nghiệp phải vận động tối đa mọi biện pháp nhằm đạt được
hiệu quả cao trong kinh doanh, trong đó phải kể đến công tác quản lý lượng vốn
lưu động trong doanh nghiệp, tăng cường các chính sách tín dụng, quản tiền mặt
và dự trữ hàng tồn kho.
-Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần phải biết ứng dụng kịp thời các thành tựu
khoa học kỹ thuật tiên tiến của nhân loại vào trong sản xuất nhằm tăng sức cạnh
tranh.
2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích một cách khái quát công tác quản trị vốn lưu động. Đây cũng là một
trong những việc rất quan trọng giúp công ty TNHH AOCC VIỆT NAM đứng vững
và phát thuy thế mạnh của mình trên thị trường.
Qua phân tích thực trạng, em cũng chỉ ra những điểm mạnh cũng như những khó
khăn hạn chế còn tồn tại trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty. Từ đó đóng góp một số ý kiến, giải pháp để mong góp một phần nhỏ bé của
mình vào sự phát triển của công ty.
3. Đối tượng và phậm vi nghiên cứu
Phân tích một cách tổng quân về tình hình quản lý và sử dụng nguồn vốn lưu
động của công ty TNHH AOCC VIỆT NAM trong ba năm 2011, 2012 và 2013
4. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu
Phỏng vấn những thành viên trong công ty
Qua số liệu sẵn có kết hợp với những chỉ tiêu tài chính thích hợp để phân tích
5.Kết cấu của đề tài.
chuyển.
Nói chung sự vận động của vốn lưu động trong Công ty sản xuất được mô tả như
sau:
T – H SX H’- T’
+ Trong Công ty thương mại, vốn lưu động chỉ vận động qua 2 giai đoạn chính:
. Giai đoạn 1: Giai đoạn mua hàng. Vốn lưu động được chuyển từ vốn bằng tiền
thành hàng hóa dự trữ.
. Giai đoạn 2: Giai đoạn bán. Vốn lưu động chuyển từ hàng hóa dự trữ trở về vốn
bằng tiền như ban đầu và kết thúc kỳ chu chuyển.
Tóm lại, sự vận động của vốn lưu động trong Công ty thương mại được khái quát
như sau:
T – H – T’
-Đặc điểm thứ hai: Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất, giá trị của
nó được dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được hoàn lại toàn
bộ sau khi Công ty tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, cung ứng được dịch vụ, thu được
tiền bán hàng về. Như vậy: Vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển sau
một chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
-Đặc điểm thứ ba: Quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty diển ra một cách
thường xuyên, liên tục; các giai đoạn vận động của vốn lưu động đan xen vào
nhau nên cùng một thời điểm vốn lưu động thường tồn tại dưới nhiều hình thái
khác nhau trong khâu sản xuất và lưu thông.
- Đặc điểm thứ tư: Số vốn lưu động cần thiết cho Công ty phụ thuộc vào đặc điểm,
chu kỳ kinh doanh và tình hình tiêu thụ của Công ty. Trong Công ty thương mại,
vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn.
1.1.1.3.Vai trò của vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất, vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để Công ty đi vào hoạt
động hay nói cách khác vốn lưu động là điều kiện tiên quyết của quá trình sản
xuất kinh doanh.Nghĩa là trong Công ty vốn lưu động nhiều hay ít thể hiện số
lượng vật tư hay hàng hoá dự trữ ở các khâu nhiều hay ít, hoặc là vốn lưu động
luân chuyển nhanh hay chậm thì phản ánh vật tư được sử dụng có tiết kiệm hay
- Vốn công cụ lao động nhỏ: Là giá trị các công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn
là tài sản cố định, dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản vốn sau:
- Vốn sản phẩm dở dang: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh doanh
đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất.
- Vốn bán thành phẩm tự chế: Đây là phần vốn lưu động phản ánh giá trị các chi
phí sản xuất kinh doanh bỏ ra khi sản xuất sản phẩm đã trãi qua những công
đoạn sản xuất nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm cuối cùng (thành
phẩm).
- Vốn chi phí trả trước: Là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng cho
nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá thành sản phẩm
trong kỳ này mà còn được tính dần vào giá thành sản phẩm của một số chu kỳ
tiếp theo như: Chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng,
lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về giàn giáo lắp dùng trong xây dựng cơ
bản…
Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản xuất
của các bộ phận sản xuất trong dây chuyền công nghệ được liên tục, hợp lý.
+ Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm:
- Vốn thành phẩm: Là giá trị những thành phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu
chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho.
- Vốn bằng tiền: Vốn bằng tiền là lượng tiền của Công ty có được do ngân sách
cấp, tự có, vốn vay, hay bổ sung từ lợi nhuận kinh doanh của Công ty. Nó tồn tại
dưới hình thức tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Vốn
bằng tiền có vai trò quan trọng đối với các Công ty, nếu Công ty nắm giữ một
lượng tiền mặt lớn thì Công ty sẽ tránh được tình trạng thiếu tiền, đảm bảo khả
năng thanh toán kịp thời, không đi vay nên không phải chịu lãi suất và áp lực trả
nợ. Công ty sẽ nhận được nhiều ưu đãi từ nhà cung cấp nếu thanh toán sớm. Tuy
nhiên, Công ty nên xem xét giữa lãi suất và chiết khấu được hưởng, bởi vì dự trữ
tiền nhiều sẽ ảnh hưởng đến chi phí cơ hội và chi phi quản lý tiền.
- Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…
+ Hàng tồn kho
Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật, bao gồm:
- Vốn nguyên, nhiên vật liệu: Vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn
nhiên liệu.
Công cụ, dụng cụ trong kho
- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
- Thành phẩm tồn kho
- Hàng gửi bán
- Hàng mua đang đi trên đường
Giá trị của hàng tồn kho trong đơn vị phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động cung
ứng, sản xuất và tiêu thụ, chính sách dự trữ của Công ty và đặc điểm của hàng
tồn kho.
+ Tài sản lưu động khác
Vốn lưu động còn tồn tại trong các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí chờ
kết chuyển, các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn. Việc quản lý tốt các
khoản này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét,
đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của Công ty. Mặt khác, biết
được kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện, Công ty có định hướng để điều
chỉnh vốn lưu động một cách có hiệu quả, phát huy chức năng của các thành phần
vốn.
* Theo nguồn hình thành của vốn lưu động.
Tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là vốn chủ sở hữu và các
khoản nợ. Trong đó, các khoản nợ tài trợ cơ bản cho nguốn vốn lưu động của
Công ty. Còn nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tài trợ một phần cho nguồn vốn lưu động
của Công ty mà thôi. Bởi vì nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ cơ bản cho tài sản cố
định.
+Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của Công ty, Công ty có đầy đủ
các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình Công ty
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể
Khi kì hạn giao hàng của người cung cấp dài và số lượng vật tư được cung cấp
mỗi lần giao hàng thấp thì doanh nghiệp luôn phải đàu tư một lượng vốn lưu
động để dự trữ vật tư hàng hóa thì mới có thể đảm bảo cho quá trình sản xuất
được diễn ra thường xuyên liên tục. Như vậy lượng vốn lưu động ứ đọng sẽ
không đem lại hiệu quả, ngoài ra doanh nghiệp cũng phải chịu thêm một phần
chi phí lưu kho tăng Tùy tưng thời điểm mà doanh nghiệp nên chủ động trong
thời gian giao hàng và khối lượng vật tư hàng hóa được cung cấp cho mỗi lần
giao hàng đó phù hợp với đặc thù kinh doanh của mình.
-Nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất của doanh
nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo, độ dài của chu kì sản xuất, trình
độ tổ chức quá trình sản xuất.
Trong điều kiện hiện nay khi mà khoa học công nghệ phát triển không ngừng thì
việc doanh nghiệp đổi mới quy trình công nghệ, ứng dụng những tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất thì sẽ nâng cao được chất lượng sản phẩm, mẫu mã
phong phú hay tiết kiệm được nguyên vật liệu
-Nhân tố về mặt thanh toán như: Phương thức thanh toán được lựa chọn theo
các hợp đồng bán hàng, thủ tục thanh toán, việc chấp hành kỷ luật thanh toán
giữa các doanh nghiệp.
1.1.4.Nhu cầu vốn lưu động và phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu
động.
1.1.4.1.Nhu cầu vốn lưu động cần thiết của doanh nghiệp.
Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp thể hiện số vốn tiền tệ cần thiết mà
doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn
kho như: vật tư, sản phẩm dở dang, thành phẩm hoặc hàng hoá và các khoản cho
khách hàng nợ sau khi khách hàng đã sử dụng khoản tín dụng của người cung
cấp. Số vốn lưu động doanh nghiệp trực tiếp ứng ra tuỳ thuộc vào nhu cầu vốn
lưu động của từng thời điểm kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Trong công tác
quản lý vốn lưu động, một vấn đề quan trọng là phải xác định được nhu cầu vốn
lưu động thường xuyên tương ứng với quy mô và điều kiện kinh doanh của
doanh nghiệp.
Mức dự trữ
hàng tồn kho
+
Khoản phải thu
từ khách hàng
-
Khoản phai trả
nhà cung cấp.
Nhu cầu vốn lưu động xác định theo phương pháp này tương đối sát và phù hợp
với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Tuy vậy, nó có hạn chế là việc tính
toán tương đối phức tạp, khối lượng tính toán nhiều và mất nhiều thời gian.
*.Phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động.
Phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn. Ở đây
có thể chia làm 2 trường hợp:
-Trường hợp thứ nhất: là dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp
cùng loại trong ngành để xác định nhu cầu vốn cho doanh nghiệp mình.
Việc xác định nhu cầu vốn theo cách này là dựa vào hệ số vốn lưu động tính theo
doanh thu được rút ra rừ thực tế hoạt động của doanh nghiệp cùng loại trong
ngành. Trên cơ sở đó xem xét quy mô kinh doanh dự kiến theo doanh thu của
doanh nghiệp mình để tính ra nhu cầu vốn lưu động cần thiết.
Phương pháp này tương đối đơn giản tuy nhiên mức độ chính xác bị hạn chế. Nó
thích hợp với việc xác định nhu cầu vốn lưu động khi thành lập doanh nghiệp quy
mô nhỏ.
-Trường hợp thứ hai: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở thời kỳ
vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu chuẩn về vốn lưu động cho kỳ tiếp
theo.
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố
hợp thành nhu cầu vốn lưu động gồm: Hàng tồn kho, Nợ phải thu từ khách hàng
và nợ phải trả nhà cung cấp với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ
chuẩn nhu cầu vốn lưu động tình theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này để xác định
k
) c tớnh nh sau:
2
kyứcuoỏi
kyứủau
kyứ
VLẹ VLẹ
VLẹBQ
+
=
- Vn lu ng bỡnh quõn nm:
12
22
12 thaựng cuoỏi
12 thaựng ủau2 thaựng ủau
1 thaựng ủau
naờm
VLẹ
VLẹ . . . VLẹ
VLẹ
VLẹBQ
++++
=
n gin trong tớnh toỏn ta s dng cụng thc tớnh VLBQ gn ỳng:
2
naờm cuoỏi
naờm ủau
naờm
VLẹVLẹ
VLẹBQ
Là một chỉ tiêu ngược với số vòng quay của vốn lưu động. Hệ số đảm nhiệm vốn
lưu động phản ánh số vốn lưu động cần có để đạt được một đồng doanh thu kinh
doanh. Hệ số này càng nhỏ phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty
càng cao. Thật tốt nếu một công ty nào đó mà vốn lưu động bỏ ra càng ít mà thu
được số doanh thu kinh doanh càng cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của công
ty đó là rất tốt .
1.5.3.Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn:
Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân
chuyển vốn lưu động ở kỳ so sánh với kỳ gốc.
&'()!*+&'($*,
"#$$'!-
=
Công thức tính:
V
tk
(±) = (M
1
/360) x ( K
1
– K
0
)
Hoặc V
tk
(±) =
1
1
L
M
Chỉ tiêu này cụ thể là nó phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập Công ty). Hệ số
sinh lợi của vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động
càng cao. Công ty được đánh giá là sử dụng vốn lưu động kém hiệu quả hay
không là chỉ tiêu này phản ánh một phần.
1.5.5.Một số chỉ tiêu khác.
Ngoài các chỉ tiêu chủ yếu trên, khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
trong doanh nghiệp người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu sau:
- Số vòng quay hàng tồn kho:
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay hàng tồn kho luân chuyển trong kỳ. Số vòng
quay hàng tồn kho càng cao thì được đánh giá là tốt, chỉ cần đầu tư một lượng
nhỏ hàng tồn kho mà vẫn đạt doanh thu cao.
Giá vốn hàng bán
Số vòng quay hàng tồn kho =
Trị giá hàng tồn kho bình quân
- Số vòng quay các khoản phải thu:
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của
doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn càng cho thấy tốc độ thu hồi các khoản phải
thu càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn và ngược lại.
Doanh thu tiêu thụ có thuế
Số vòng quay các khoản phải thu =
Số dư bình quân khoản phải thu
- Số ngày một vòng quay hàng tồn kho:
Phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày trong kỳ
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho
- Kỳ thu tiền trung bình:
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải
thu (số ngày vòng quay các khoản phải thu). Vòng quay các khoản phải thu càng
-Tác động của môi trường xã hội: môi trường xã hội ảnh hưởng rất lớn đến trực
tiếp đến doanh thu, đến các quyết đinh sản xuất của công ty. Sao cho phù hợp với
phong tục tập quán, văn hóa của từng vùng miền. Vì vậy công ty phải chi ra
khoản tiền khá lớn cho các hoạt động nghiên cứu này. Do vậy nó cũng góp phần
gây ảnh hưởng đến tình hình vốn lưu động trong công ty.
-Tác động của đối thủ cạnh tranh: Công ty thường xuyên phải tìm hiểu nắm bắt
thông tin về đối thủ cạnh tranh của mình để từ đó xây dựng chiến lược đúng đắn
cho sản phẩm của công ty mình cũng như phải đổi mới nắm bắt các quy trình
công nghệ tiên tiến nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm tạo lợi
thế cạnh tranh cho doanh ngiệp trên thị trường. Muốn làm được điều này nguồn
vốn lưu động trong công ty phải đủ lớn để có thể giải quyết được các vấn đề trên.
-Tác động của khách hàng: khách hàng ảnh hưởng trực tiếp đến vốn lưu động
của công ty, nhu cầu của khách hàng trong những năm gần đây tăng cao do vậy
nhu cầu tăng cao đòi hỏi công ty phải có vốn để đầu tư sản xuất cũng như mở
rộng quy mô của công ty.
1.6.2.Nhân tố chủ quan.
- Tác động của chu kỳ sản xuất kinh doanh
- Trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên: Yếu tố con người là yếu tố quyết định
trong việc đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả trong Công ty.
Công nhân sản xuất có tay nghề cao, có kinh nghiệm, có khả năng tiếp thu công
nghệ mới, phát huy được tính sáng tạo trong công việc, có ý thức giữ gìn và bảo
quản tái sản xuất trong quá trình lao động, tiết kiệm trong sản xuất, từ đó tăng
hiệu quả sử dụng vốn.
Trình độ cán bộ quản lý cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn
của Công ty Trình độ quản lý về mặt tài chính là hết sức quan trọng. Trong quá
trình hoạt động, việc thu chi phải rõ ràng, tiết kiệm, đúng việc, đúng thời điểm thì
mới có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty. Trình độ quản lý còn thể
hiện ở quản lý hàng tồn kho, quản lý khâu sản xuất, quản lý khâu tiêu thụ Việc
xác định cơ cấu và nhu cầu vốn lưu động: Khi Công ty xác định một nhu cầu vốn
lưu động không chính xác và một cơ cấu vốn không hợp lý cũng gây ảnh hưởng
. Trình độ hiện đại của tư liệu lao động phải phù hợp với trình độ đội ngũ người
lao động trong doanh nghiệp.
. Giá cả tư liệu lao động phải phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp.
. Tính hiệu quả của cả hệ thống máy móc thiết bị trong dài hạn.
- Nhân tố nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu là phạm trù mô tả các loại đối tượng
lao động được tác động vào để biến thành sản phẩm.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý vốn lưu động tại công ty TNHH
AOCC Việt Nam.
2.1. Tổng quan về công ty TNHH AOCC Việt Nam.
2.1.1.Quá trình ra đời và phát triển của công ty.
2.1.1.1.Lịch sử hình thành của công ty.
*Những thông tin chung.
-Tên công ty: công ty TNHH AOCC Việt Nam.
-Tên công ty viết bằng tiếng nước ngoài :AOCC VIET NAM COMPANY LIMITED.
-Mã số thuế : 0900276314
-Trụ sở chính: km 7, quốc lộ 39A Yên Mỹ, Hưng Yên
-Email:
-Hình thức pháp lý: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
-Quyết đinh thành lập công ty TNHH AOCC VIỆT NAM được thành lập theo giấy
chứng nhận đầu tư số 051043000012 chứng nhận lần đầu ngày 07 tháng 11 năm
2007 do UBND Hưng Yên cấp.
2.1.1.2.Quá trình xây dựng và phát triển của công ty TNHH AOCC Việt Nam.
Công ty TNHH AOCC VIỆT NAM là công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài, công
ty có vốn điều lệ là 10.560 trệu đồng do chủ đầu tư góp bằng tiền mặt.
Đầu năm 2007 công ty TNHH AOCC VIỆT NAM bắt đầu đi vào hoạt động. Tháng
11/2007 với 10990 m2 nhà xưởng trên diện tích đất 524 m2 đi thuê, 127 thiết bị
công nghệ và gần 1000 công nhân làm việc theo chế độ 2 ca nhiệm vụ chính là
gia công hàng may mặc xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
Đến năm 2009 công ty đã xây nhà xưởng từ 2 tầng thành 2 nhà 5 tầng, 1 nhà 3
tầng với tổng diện tích là 2910 m2, có trang bị thang máy, có nhà ăn tập thể, văn
xuất khẩu lại ra nước ngoài cho khách hàng. Công ty sẽ nhận được tiền gia công
và các khoản chi phí phụ liệu như thùng, chỉ ,nút,.
Trong gia công, do định mức của khách hàng đã tính thêm khoản hao hụt trong
quá trình hoạt động sản xuất phải có, nên trong quá trình sản xuất công ty tiết
kiệm được vải, phụ liệu,. Số tiết kiệm được công ty có thể dùng để sản xuất thành
phẩm hoặc bán thẳng cho khách hàng.
Về sản xuất: Công ty gia công cho tất cả khách hàng trong và ngoài nước hoặc có
thể gia công hộ cho các công ty khác.
Về kinh doanh: Công ty có thể xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc nhận ủy thác từ
những đơn vị khác.
*Nhiệm vụ:
-Về sản xuất sản phâm xuất khẩu: công ty không ngừng tổ chức mở rộng sản
xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng của xã hội. Tân dụng được lợi thế lao động rẻ để tăng tính cạnh tranh trên
thị trường quốc tế, đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước nói
chung và tỉnh Hưng Yên nói riêng. Mở rộng liên kết với các cơ sở sản xuất kinh
doanh trong và ngoài nước, tăng cường hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu
cảu khoa học kỹ thuật của nước ngoài vào sản xuất, góp phần tích cực vào việc tổ
chức sản xuất sản phẩm
Các sản phẩm sản xuất gia công chủ yếu: Áo sơ mi các loại; Áo Jacket, Gilê các
Veston, Manteau; Quần áo bảo hộ lao động; Quần áo trẻ em.
-Về mặt xã hội: Thực hiện lao động theo phân phối sản phẩm, đảm bảo công bằng
trong hoạt động sản xuất, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa và nghiệp vụ
của nhân viên.
-Đối với Nhà nước: Trên cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tận dụng năng
lực sản xuất, tự bù đắp các chi phí, tự trang trãi vốn và làm tròn nghĩa vụ đối với
Ngân sách Nhà nước, với địa phương bằng cách nộp đầy đủ các khoản thuế cho
Nhà nước.
-Đối với môi trường và an ninh chính trị: Công ty luôn chú trọng đến vần đề bảo
vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh xử lý tốt các thải đảm bảo nguồn nước
-Cơ chế thị trường đã mở ra ở nước ta đã dẫn đến việc ra đời các thanh phần
kinh tế do vậy tính cạnh tranh càng gay go đồng thời rủi do từng doanh nghiệp
ngày càng cao. Công ty đã nắm rõ được quy luật đào thải của thị trường nên rất
thận trọng trong mọi hoạt động kinh doanh mới cho từng thời kì.
-Giám đốc công ty đã không ngừng đào tạo cho mình đội ngũ cán bộ khai thác
thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để nắm rõ thị hiếu của người tiêu
dùng.
Giám đốc công ty
Phó giám đốc
01
Phó giám đốc
02
Phòng SXKD
Phòng tổ chức hành chính
Các xí nghiệp trực thuộc
Phòng XNKPhòng kế toán
-Ngoài ra công ty còn có ý định kinh doanh thêm một số mặt hàng khác. Bên cạnh
đó công ty rất quan tâm đến khâu quảng cáo nhiều hơn nữa để mặt hàng của
công ty để được nhiều người biết đến.
Tóm lại với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường nâng cao lợi nhuận. Công ty đã đề ra
hàng loạt phương hướng phát triển kinh doanh phù hợp với hiện thực và khả
năng hiện có của mình.
Ngoài ra công ty còn có chiến lược kinh doanh riêng của mình: Công ty định
hướng sẽ trở thành doanh nghiệp tiêu biểu nhất ngành may mặc tại Việt Nam.
Tạo dựng và phát triển thương hiệu của công ty, nhãn hiệu hàng hoá, mở rộng
kênh phân phối trong và ngoài nước. Xây dựng nền tài chính lành mạnh.
Sứ mạng kinh doanh của công ty xác định nhiệm vụ chính là xây dựng công ty
vững mạnh về mọi mặt tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Tham gia tích cực các hoạt động xã hội, góp phần ổn định đời sống của người lao
động, tạo sự gần gũi với cộng đồng. Để thương hiệu có chỗ đứng vững chắc trên
tính thưởng cho cán bộ công nhân viên.
+Tham gia nghiên cứu sắp xếp,cải tiến bội máy quản lý phù hợp với điều kiện
hoạt độnh sản xuất kinh doanh của công ty,tham gia xây dựng kế hoạch lao
động,tiền lương trong hệ thống kế hoạt sản xuất - kỹ thuật- tài chính.