ĐỀ TÀI THỰC HIỆN TIÊU bản HIỂN VI cố ĐỊNH NOÃN sào CHUỘT ĐỒNG - Pdf 23

GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Hệ sinh dục là cơ quan duy trì nòi giống. Ở cơ quan sinh dục trong của động vật
hữu nhũ cái gồm: buồng trứng (noãn sào), ống dẫn trứng , tử cung, âm đạo. Trong các
cấu trúc này, buồng trứng là tổ chức sản sinh ra giao tử cái, phát triển thành cơ thể sống
khi chúng được thụ tinh, đồng thời đây cũng là nơi sản xuất hormon sinh dục.
Xuất phát từ những nhu cầu:
+ Tìm hiểu cấu trúc mô học của buồng trứng nhằm cung cấp kiến thức cơ sở
cho môn sinh lý động vật và nguời, ứng dụng trong các biện pháp kế hoạch
hoá gia đình.
+ Thực tế giảng dạy thực tập giải phẫu cần một lượng mẫu hiển vi mới nhằm
thay thế nguồn mẫu hiển vi cũ đã bị xuống cấp (do SV Nguyễn Thị Diệu Linh
thực hiện năm 1981).
Chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực hiện tiêu bản hiển vi cố định noãn sào chuột
đồng (Rattus.sp)” nhằm:
+ Xác định thời lượng chính xác để thực hiện tiêu bản hiển vi cố định chuột
đồng (Rattus.sp).
+ Sản xuất ra 100 tiêu bản cố định và 2 mẫu ngâm noãn sào định vị trong cơ thể
chuột đồng (Rattus.sp).

Trang 1
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

PHẦN II : LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1. KỸ THUẬT:
Thực hiện theo phương pháp tiêu bản cắt lát. Mẫu thực hiện theo phương pháp này
qua nhiều giai đoạn phức tạp và có thêm một số thao tác phụ nếu như trong mỗi giai đoạn
chính chưa đạt được tính chất mong muốn. Tóm lược qui trình như sau: định hình - khử

hết cồn dùng:
- Xylen (hay xylol) II (đã sử dụng 2 lần)
Trang 2
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

- Xylen I (đã sử dụng 1 lần)
- Xylen nguyên chất.
Thời gian khử cồn tối đa là 24 giờ, mẫu ngâm lâu quá sẽ cứng và dễ vỡ.
- Tẩm parafin (khử xylen):
Trước hết cần chọn loại parafin tốt và thích hợp. Parafin chỉ có thể ngấm vào mẫu và
loại xylen ra khi nó ở trạng thái lỏng, tẩm parafin chỉ thực hiện đầy đủ khi dung môi
trung gian đã bị loại hoàn toàn. Người ta khử dung môi trung gian bằng cách chuyển mẫu
lần lượt vào những lọ có parafin ngày càng tinh khiết. Để tiết kiệm hoá chất và thời gian,
trên thực tế chỉ cần 3 lần tẩm là đủ.
- Parafin I (đã sử dụng 2 lần). 6 giờ
- Parafin II (đã sử dụng 1 lần). 6 giờ
- Parafin III (nguyên chất). 12 giờ
Loại parafin I và II có thể dùng nhiều lần hơn qui định.
Loại parafin III phải đảm bảo nguyên chất vì chính nó sẽ dùng để đúc khuôn.
Nói chung, thời gian tẩm lâu hay mau là tuỳ vào kích thước và tính chất của mẫu: nếu
mẫu nhỏ và cấu trúc mô lỏng lẻo thì tẩm vài giờ, nếu mẫu to và cứng thì tẩm từ 24 - 36
giờ.
1.4. Đúc khuôn:
Người ta đổ vào khuôn chất parafin lỏng đã lọc từ trước (parafin ở lần chuyển thứ 3,
nghĩa là parafin hoàn toàn mới). Nhúng ngay mẫu vào chất parafin đang lỏng này. Dùng
kẹp hay kiềm đã đun nóng để định hướng mẫu theo ý muốn. Sau vài phút parafin sẽ đông
đặc lại và giữ mẫu ở nguyên vị trí. Khi lớp vỏ ngoài parafin đã đủ cứng, nhúng cả khuôn
vào trong bát đựng đầy nước lạnh và chú ý đừng làm rạn, vỡ màng mỏng parafin bên
trên. Khoảng 20 - 30 phút sau, parafin sẽ cứng và thuần nhất toàn bộ. Cần tránh làm lạnh
ngay khi parafin còn lỏng, không được cắt lát ngay, phải đợi 24 giờ sau khi đúc khuôn.

+ Đặt lên trên dung dịch một mảnh cắt hay một dãy cắt.
+ Đặt lên trên bàn nóng, hoặc đặt mẫu vào trong tủ sấy ở nhiệt độ khoảng 50
0
C
khoảng 15 phút, theo dõi mảnh cắt tải ra, mảnh cắt phải nổi trên dung dịch. Không bao
giờ bàn nóng hoặc tủ sấy quá 50
0
C vì tổ chức sẽ bị khô.
+ Nghiêng lame để tháo nước đi một cách thận trọng. Làm thế nào cho dung dịch dán
trôi đi càng nhiều càng tốt.
+ Để tiêu bản khô theo tư thế nghiêng (mảnh cắt ở mặt dưới) ít nhất là 12 giờ ở nhiệt
độ bình thường hoặc là 20 - 30 phút trong tủ ấm ở nhiệt độ 40 - 45
0
C khi đã khô kiệt, các
mảnh cắt dính rất tốt vào lame.
1.6. Loại parafin ra khỏi mảnh cắt:
Loại parafin ra khỏi mảnh cắt được tiến hành trước khi nhuộm vì không thể bảo quản
lâu được tổ chức rất hay vụn vỡ, hút ẩm.
- Đối với các tiêu bản được nhuộm cả khối:
+ Làm tan parafin bằng xylen.
+ Gắn bằng Baume Canada.
- Đối với các tiêu bản chưa nhuộm và dán bằng albumin:
+ Làm đông đặc albumin bằng cách hơ nhanh trên ngọn đèn cồn.
+ Hoà tan parafin bằng xylen từ 1 - 2 phút.
+ Loại xylen bằng cồn tuyệt đối 1 phút.
+ Cho vào cồn 95
0
- 1 phút.
+ Cho vào nước 5 phút.
1.7. Nhuộm Hematoxyline - Eosin:

Bộ: Rodentia
Họ: Muridae
Giống: Rattus
Loài: Rattus.sp
2.1. Mô tả hình dạng:
Thân hình thô, đuôi dài gần 2/3 thân, tai ngắn hình bầu dục, bàn chân sau lớn.
Bình thường có 6 đôi vú.
Lông mềm mại không có gai. Mặt lưng vàng sẫm có điểm nâu cánh gián. Con non
sẫm hơn chỉ trừ phần đầu nâu vàng đất sáng. mặt bụng trắng có vệt tối giữa ngực không
rõ. Bàn chân trắng bẩn có vệt nâu tối, ngắn hơn thân. Đối với chuột đồng bé hình dạng
tương tự nhưng chỉ dài 28 - 30 mm, bàn tay trắng, bàn chân màu nâu.
Trang 5
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

Hình 1: Ảnh chụp chuột đồng
2.2. Sinh thái học chuột đồng:
Chuột đồng sống ở đồng ruộng, thích ở gần các bờ nước, đào hang ở bờ ruộng, bờ
đê và đôi khi ờ giữa ruộng, không gặp ở vùng núi cao, đôi khi còn vào ở trong nhà. Mùa
đông có thể vào trú ở đống rơm rạ hoặc chạy vào nhà kho, nhà ở.
Hang chuột đơn giản. Đối với chuột đồng lớn thường chỉ có 1 cửa ra vào đường
hầm tương đối thẳng và ngắn. đường kính của hang khoảng 7 cm. Trong hang có phòng ở
(14 x 18 cm) lót bằng lá, rơm rạ. Đường hầm dài ngắn tuỳ nơi ở ruộng thì dài hơn 2,38m.
Hang ở đê có cấu trúc khác hơn, có các lối thoát thông với khe nứt trong đê. Đường hầm
dài 2,55m [Đào Văn Tiên, 1967]. Đối với chuột đồng bé, hang có 2 - 6 cửa, đường kính
hang bé (3 - 5 cm) trong hang thường dùng lá cây lót thành tổ. Đất do chuột đào ra
thường có thành viên bé dễ nhận thấy. Hang có một số cửa bí mật, chuột chỉ dùng khi cần
chạy thoát.
Chuột đồng ăn tạp, trong dạ dày phân tích thấy có bột xám, khoai (40 - 60%) thực
vật xanh. Trong dạ dày còn chứa một ít thịt, thức ăn ưa thích của chuột đồng nhỏ là cá
con, cua, ốc, côn trùng, Vào mùa gặt lượng thịt gặp không đáng kể chiếm 16,6% trong

Đối với con cái, bộ máy sinh dục gồm:
- Hai buồng trứng (noãn sào) đảm nhiệm chức năng quan trọng: tạo giao tử cái và
tiết hormon sinh dục.
- Đường sinh dục cái: hai vòi fallope, tử cung và âm đạo.
3.1. Đường sinh dục cái:
3.1.1. Vòi Fallope:
Là ống dài, đầu ngoài có hình loa kèn, đầu trong thông với khoang tử cung, lòng
ống hẹp hai đầu và rộng ở giữa.
Từ ngoài vào trong, thành tử cung cấu tạo bởi ba tầng mô: tầng vỏ ngoài, tầng cơ
và tầng niêm mạc
3.1.2. Tử cung:
Tử cung gồm hai ống tử cung, cấu tạo cũng gồm ba lớp (tầng vỏ ngoài, tầng cơ và
tầng niêm mạc).
Là nơi làm tổ của noãn đã thụ tinh và là nơi phát triển của phôi thai để tạo ra cá
thể mới.
Trang 7
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

3.1.3. Âm đạo:
Hai ống tử cung phối hợp ở ngọn thành một ống duy nhất gọi là âm đạo liên lạc
với bên ngoài nhờ âm môn ở trước hậu môn, sau lổ tiểu.
3.2. Buồng trứng:
Buồng trứng có nhiệm vụ sản sinh ra trứng và kích thích tố sinh dục cái.
3.2.1. Hình thể:
Buồng trứng hình hạt đậu, dưới thận nằm ở phía sau dây chằng rộng và dính vào
dây chằng rộng bởi một cuống tức là mạc treo buồng trứng. Chỗ buồng trứng tiếp với
cuống gọi là rốn [Diệu Linh, 1981].
Buồng trứng phát triển từ lá phôi giữa, từ mấu sinh dục ở phía bụng của thận sơ
cấp.
Bên ngoài buồng trứng là lớp biểu mô ngoài, dưới đó là lớp màng trắng [Nguyễn

ở phía trong. Màng này cấu tạo bởi ít tế bào liên kết, nhưng nhiều chất căn bản.
c) Lớp đệm vỏ: là lớp tổ chức liên kết khá đặt cấu tạo bởi ít sợi chun và nhiều sợi tạo
keo, nhưng nhiều tế bào hình thoi non nằm sát nhau.
Trong lớp đệm vỏ có những khối hình cầu gọi là noãn nang, ở những giai đoạn
tiến triển khác nhau. Mỗi nang noãn là một cái túi đựng noãn, noãn là một tế bào thuộc
dòng sinh dục cái gọi là dòng noãn. Thành túi cấu tạo bởi những tế bào biểu mô gọi là tế
bào nang (tế bào hạt) có cùng nguồn gốc với tế bào dòng noãn nghĩa là phát sinh từ biểu
mô xoang cơ thể thuộc trung bì trung gian. [Phạm Phan Địch. 1998]
Trang 9
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

Những nang noãn:
Kết quả cuối cùng của sự sinh noãn là hình thành các nang sơ cấp.
Sự sinh noãn có thể chia thành những giai đoạn khác nhau tương ứng với những
pha phát triển của noãn. [Diệu Linh, 1987]
Hình 4: Sự biến đổi nang noãn
a. Nang nguyên thuỷ; b. Nang noãn đặc; c. Nang noãn có hốc; d. Nang noãn chín ; e.
Sự rụng trứng; f. Hoàng thể.
[www.mum.org/ovary.hmt]
* Noãn nguyên bào (nguyên thuỷ):
Đó là những nang noãn nhỏ nhất, xếp thành nhiều hàng ở vùng ngoại biên của
buồng trứng, ngay dưới màng trắng. Mỗi nang noãn gồm có từ trong ra ngoài:
- Một noãn bào I nằm chính giữa nang.
- Chung quanh noãn có một vài hàng tế bào nang dẹt gọi là tế bào hạt.
- Ngoài cùng là một màng đáy, bọc toàn bộ nang noãn gọi là vỏ nang. [Phạm Phan
Địch. 1998]
Hình 5: Nang noãn nguyên thuỷ
[www.ansi.okstate.edu/…/study/Note/Female/]
Trang 10
Nhân

Ở nang noãn chuột đã tiến triển, ở màng trong suốt có glucoprotein chiếm gần toàn bộ
khối lượng của màng và đóng vai trò quan trọng trong sự kết dính tinh trùng

và có tính
đặc hiệu cho loài, một hiện tượng rất quan trọng trong quá trình thụ tinh.[Bộ môn mô học
và phôi thai học - ĐHYDHN. 2002]
Hình 6: Nang noãn cấp I
[www.ansi.okstate.edu/…/study/Note/Female/]
Trang 11
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

* Nang noãn đặc (noãn nang thứ cấp - noãn nang cấp II):
Lớn hơn nang noãn sơ cấp, noãn đã lớn. Từ trong ra ngoài nang noãn đặc cấu tạo
gồm:
+ Noãn bào I: Nằm ở trung tâm vẫn đang tiếp tục lớn và tiếp tục ngừng quá trình
phân bào
+ Màng trong suốt bao quanh noãn bào I rõ rệt và đang dày lên. Lớp hạt, được gọi
như vậy vì gồm nhiều hàng tế bào đa diện nằm sát nhau, lấm tấm những nhân trông giống
hình hạt, tạo thành một biểu mô tầng do sự tăng sinh của tế bào nang. Những tế bào nang
tạo thành lớp này còn gọi là tế bào hạt.
+ Màng đáy.
Vỏ liên kết mỏng, được tạo ra từ mô kẽ vây quanh nang noãn. Giới hạn bên ngoài của vỏ
này lúc mới đầu rất khó phân biệt với mô kẽ. [Bộ môn mô học và phôi thai học -
ĐHYDHN. 2002]
Hình 7: Nang noãn đặc
[www.ansi.okstate.edu/…/study/Note/Female/]
* Nang noãn có hốc (nang noãn có xoang):
Khi nang noãn thứ phát đã lớn (ở người có thể đạt đường kính 200 micromet) và
trong nang noãn lớp hạt đã có 6-10 hàng tế bào nang vây quanh noãn bào I. Ở một số nơi
trong lớp này, một chất dịch lỏng, sáng màu, tập trung ngày càng nhiều trong các khoảng

1
2
3
1 3 2
4
4
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

* Nang noãn chín (nang De-graff):
Đó là nang noãn rất lớn
Vào khoảng giữa chu kỳ kinh nguyệt trong cả hai buồng trứng thường chỉ có một (đôi
khi 2-3) nang noãn chín lồi lên mặt buồng trứng. Chung quanh nang noãn tổ chức lớp
đệm vỏ tạo ra hai lớp vỏ. Ở mặt ngoài buồng trứng cả hai lớp vỏ rất mỏng, nói chung chỉ
2-3 hàng tế bào nang. Ở gò noãn, chung quanh noãn có màng trong suốt bao bọc, những
tế bào nang cao lên thành một hàng tế bào trụ, tạo ra hình ảnh tia mặt trời gọi là vòng tia
(vòng phóng xạ). [Bộ môn mô học và phôi thai học - ĐHYDHN. 2002]

Hình 10: Nang noãn chín
[www.ansi.okstate.edu/…/study/Note/Female/]
* Nang noãn vỡ và sự rụng trứng:
Vào khoảng giữa hai chu kỳ kinh nguyệt, phần tuỷ của buồng trứng và lớp vỏ
trong của nang noãn chín bị ứ huyết đến cực độ làm cho buồng trứng cương lên và nước
nang noãn tiết ra nhiều. Áp lực của nước nang noãn tăng lên tới mức làm bục thành của
hốc nang noãn ở nơi lồi lên trên mặt buồng trứng. Sự bục bất thình lình ấy làm noãn rời
thành nang noãn và bị tống ra khỏi buồng trứng mang theo màng trong suốt, vòng tia và
một số tế bào nang khác của gò noãn. Đó là sự thoát nang của noãn (còn gọi là sự rụng
trứng). Nước nang noãn trào lên mặt buồng trứng. Một số mạch máu ở lớp vỏ trong bị
đứt, máu thoát ra ngoài mạch, một phần chảy vào hốc nang noãn và đông lại thành một
cục máu đông, một phần chảy ra ngoài buồng trứng, tạo nên một đám xuất huyết nhỏ trên
mặt buồng trứng. [Phạm Phan Địch. 1998]

hoàng thể.
Sự phát triển của nang noãn vỡ đã mất noãn và sự tạo thành hoàng thể.
Sau khi rụng trứng, dịch nang noãn đã thoát ra ngoài, nang noãn vỡ, mất noãn, trở
thành nhăn nheo và được gọi là nang noãn nhăn. Màng đáy ngăn cách lớp vỏ và lớp hạt,
bị rách. Một số mao mạch máu nằm ở lớp vỏ trong bị vở. Máu thoát mạch, tạo thành một
cục máu đông nằm ở trung tâm nang noãn vỡ. Những tế bào nang của lớp hạt và những tế
bào vỏ nằm ở lớp vỏ trong của nang noãn trương to, tích luỹ nhiều giọt mỡ trong bào
tương và có màu vàng nhạt. Những tế bào này gọi là tế bào hoàng thể. Chúng tăng sinh
tạo thành một khối tế bào vây quanh cục máu đông, làm cho nang noãn vở biến thành
một cấu trúc màu vàng ( khi nhìn trên tiết đồ buồng trứng còn tươi, chưa nhuộm) gọi là
hoàng thể, được bọc ngoài bởi một vỏ xơ vốn là vỏ liên kết của nang noãn vở. Rồi những
mạch máu từ lớp vỏ xơ tiến vào khối tế bào tăng sinh, xẻ khối tế bào ấy thành những dây
tế bào biểu mô có quan hệ mật thiết với chúng. Trong khi đó cục máu đông ở vùng trung
tâm của hoàng thể biến thành một khối xơ. [Bộ môn mô học và phôi thai học -
ĐHYDHN. 2002]
Trang 15
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

Cấu tạo và mô sinh lý học hoàng thể.
- Cấu tạo: theo kiểu được tạo ra như vừa mô tả trên, hoàng thể là một tuyến nội tiết
kiểu lưới nằm trong buồng trứng và được bọc ngoài bởi một vỏ xơ, ngăn cách nhu mô
tuyến với mô kẽ của vùng vỏ buồng trứng.
Trong nhu mô tuyến của hoàng thể đang phát triển, có thể phân biệt hai loại tế bào
hoàng thể: tế bào hạt hoàng thể và tế bào vỏ hoàng thể.
+ Tế bào hạt hoàng thể: nằm ở vùng trung tâm hoàng thể, những tế bào hạt hoàng
thể là những tế bào đa diện lớn, phát sinh từ những tế bào nang (tế bào hạt) thuộc lớp hạt
của nang noãn tiến triển. Kích thước của chúng thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của
hoàng thể. Mặt tế bào có những vi nhung mao dài và có những chỗ lõm vào bào tương.
Nhân có một hạt nhân lớn nhưng những hạt dị nhiễm sắc nhỏ nên nhân đậm màu. Ti thể
có tính đa hình, hình que, hình cầu, lớn. Ở hoàng thể thai nghén, ti thể hình que chiếm ưu

hạt dị nhiễm sắc trong nhân lớn hơn, rõ rệt hơn nên bắt màu đậm hơn. Ti thể có hình
dạng cố định hơn. Không có ti thể hình cầu. Chất nền ti thể không có những hạt đa hình.
Bộ Golgi kép phong phú nhưng lớn hơn. Lưới nội bào không hạt chiếm phần lớn bào
tương.
- Mô sinh lý học. hai loại tế bào hoàng thể mô tả trên có nguồn gốc khác nhau, có
siêu cấu trúc không giống nhau và có tính đáp ứng khác nhau với tác động của hormon
hoàng thể hóa LH. Chúng tiết ra những hormon khác nhau tuy các hormon đều thuộc loại
steroid. Những tế bào vỏ hoàng thể không phải đều thấy ở hoàng thể mọi động vật có vú.
[Bộ môn mô học và phôi thai học - ĐHYDHN, 2002].
* Các nang noãn thoái triển:
Tuyệt đại đa số các nang noãn được tạo ra trong buồng trứng từ đời sống trong
bụng mẹ bị thoái triển. Sự thoái triển xảy ra mạnh nhất khi nó ra đời, lúc dậy thì và lúc
mãn kinh. Những nang noãn thoái triển có thể là nang noãn chưa tiến triển (nang noãn
tiến triển hoặc nang noãn đã tiến triển tới một giai đoan nào đó và cũng có thể là những
nang noãn chín hoặc nang noãn vỡ đã phóng thích noãn nhưng không tạo ra hoàng thể).
Những nang noãn thoái triển có cấu tạo khác nhau tuỳ theo giai đoạn tiến triển mà
chúng đã trãi qua. Có nhiều dạng nang noãn thoái triển.
+ Nang noãn thoái hoá:
Đó là những nang noãn mà sự thoái triển xảy ra rất sớm, khi nang noãn chưa tiến
triển, nghĩa là ở giai đoan nang noãn nguyên thuỷ, hay khi nang noãn mới bắt đầu tiến
triển (nang noãn nguyên phát). Những nang noãn này mau chóng biến đi hoàn toàn,
không để lại vết tích gì.
+ Nang noãn xuất huyết:
Sự thoái triển bắt đầu xảy ra ở giai đoạn nang noãn có hốc. Hốc nang noãn chứa
máu đã đông. Các tế bào nang ở thành hốc và noãn đều bị thoái hoá. Vết tích của nang
noãn thoái hoá gọi là thể đen (corpora nigra).
+ Nang noãn tạo tuyến vỏ:
Người ta phân biệt:
Trang 17
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN

1. PHƯƠNG TIỆN VÀ HOÁ CHẤT:
1.1. Địa điểm - thời gian thực hiện đề tài:
- Đề tài được tiến hành tại phòng thí nghiệm sinh lý động vật, Bộ môn Sinh, Khoa
Sư phạm Trường Đại học Cần Thơ.
- Thời gian thực hiện đề tài : từ tháng 10 năm 2005 đến tháng 5 năm 2006.
1.2. Phương tiện và hoá chất:
1.2.1. Phương tiện và mẫu vật:
STT TÊN PHƯƠNG TIỆN SỐ LƯỢNG
1 Kính hiển vi 1 cái
2 Tửu tinh kế 1 cái
3 Cân kỹ thuật 1 cái
4 Tủ sấy 1 cái
5 Đồng hồ bấm giây 1 cái
6 Máy cắt Microtome 1 cái
7 Khay đựng mẫu 1 cái
8 Lame 5 hộp
9 Lamelle 5 hộp
10 Chai màu đựng hoá chất 5 cái
11 Hủ Yaourt 20 cái
12 Cốc đựng Baume Canada 1 cái
13 Đũa thuỷ tinh 1 cái
14 Khay mổ 1 cái
15 Kim mũi giáo 1 cái
16 Kim phá não 1 cái
17 Kéo 1 cây
18 Kẹp 1 cây
19 Ống hút nhựa 5 ống
20 Bercher 1000 ml 1 cái

4
Al(SO
4
)
2
.12H
2
O) 20 gr
10 Methanol 250 ml
11 Hematoxyline 3 gr
12 Eosin 3gr
13 Parafin 1 kg
14 Formol 1.5 lit
15 Baume canada 15 gr
16 Acid sulfuric 300 ml
17 Bicromate kali 35 gr
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.1. Thực hiện mẫu ngâm đại thể:
Thao tác thực hiện có thể đơn giản hơn so với giải phẩu nghiên cứu tổng thể nội quan.
Có thể tóm lược như sau:
- Sau khi bị gây mê bằng ete, đặt chuột nằm ngửa, kéo 4 chân và ghim xuống tấm
cao su đặt trên mâm mổ.
- Sau đó tiến hành cắt da, theo các đường trong hình 13a.
Trang 20
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

.
Hình 13a :Cắt da.
- Căng da ghim xuống tấm cao su.
- Tiếp theo cắt cơ bụng và cơ hoành theo sơ đồ hình 13b.

1. Buồng trứng; 2. Tử cung
Cẩn thận dùng kéo luồn qua lớp mỡ sau đó cắt bỏ dần lớp mỡ bao quanh buồng
trứng và tách buồng trứng khỏi vòi Fallope.
2.2.2. Cố định:
Có nhiều phương pháp cố định mẫu: cơ học, hoá học, ở đây cố định mẫu bằng
phương pháp hoá học bằng dung dịch Bouin (xem phần phụ lục). Tác dụng Bouin làm
mẫu cứng lại nhưng không bị co và cấu trúc tế bào học được bảo quản tốt.
Cố định trong dung dịch Bouin đựng trong lọ thuỷ tinh (giai đoạn này được thử
nghiệm qua các thời gian: 18 giờ - 12 giờ - 8 giờ - 4 giờ). Trong quá trình cố định nên
thường xuyên lắc đều mẫu để trộn đều dung dịch cường nhủ, không để mặt mẫu luôn tiếp
xúc với đáy lọ không được tiếp xúc tốt với dung dịch cố định mẫu cố định đồng bộ.
Trang 22
A
1
2
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

Thể tích dung dịch phải gấp 30 - 40 lần thể tích mẫu khi đó dung dịch cố định sẽ
dễ dàng ngấm sâu vào mô, mô cố định sẽ tốt.
2.2.3. Khử nước:
Mẫu sau thời gian cố định được vớt ra rửa dưới vòi nước chảy từ 2 - 3 giờ cho bớt
màu vàng của dung dịch Bouin: dùng 1 chai nước rửa chén 50ml bị đục thủng đáy, cắt
ngang phần miệng chai khoảng 10cm dùng làm phểu đặt ngược phểu vào phần còn lại
của chai. Đặt vào phễu 1 miếng cước rửa chén. Đặt mẫu lên cước rồi mở vòi nước cho
chảy nhẹ lên mẫu.
Tiếp theo rửa bằng nước cất trong 5 phút, sau đó chuyển qua cồn 50
0
, 70
0
, 90

1.5cm
1.5cm

3cm
Hình 15: Hình dạng khuôn giấy
Trang 23
GVHD: ThS. Dương Thị Huỳnh Hoa LVTN - Nguyễn Thị Phương Đài

- Tiến hành:
Đặt khuôn vào nơi bằng phẳng, rót parafin lỏng nguyên chất vào khuôn ở khoảng
chiều cao khuôn, chờ cho parafin vừa đặc lại ở vành khuôn dùng kẹp gắp mẫu từ trong
parafin tẩm ra và đặt khuôn parafin vừa rót. Tiếp theo dùng kim mũi giáo hơ nóng cho
parafin trong và hết bọt.
2.2.6 Cắt mẫu:
- Chuẩn bị:
Lấy khối mẫu tẩm parafin ra khỏi khuôn, rồi dùng dao gọt khối mẫu thành dạng hình
thang cân. Gắn khối parafin đã gọt lên khối gỗ bằng cách hơ nóng khối gỗ và khối
parafin rồi gắn chúng lại với nhau (hình 16).

Khối gỗ
Hình 16: Chuẩn bị khối mẫu và khối gỗ
- Tiến hành:
+ Thận trọng từng động tác, tránh gió lùa, để máy cắt gần tủ lạnh mở của càng tốt.
+ Gắn khối mẫu vào máy cắt cho ngay, xiết chặt ốc, giữ lấy mẫu.
+ Gắn lưỡi dao vào máy và chỉnh lưỡi dao nghiêng một góc từ 10-15
0
.
+ Điều chỉnh cho khối mẫu và lưỡi dao vừa chạm vào nhau (hình 17)
+ Chỉnh độ dày của lát cắt về 16 µm.
+ Quay tay, quay thử đều ở độ dày 16 µm chuyển dần đến độ dày cần thiết là 10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status